Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

CN II MÙA VỌNG NĂM C - 2015 NGƯỜI PHU QUÉT LÁ


Trong Tác phẩm “ Người phu quét lá”, ĐGM Phêrô Nguyễn Khảm đã ví von, đời Linh mục như người phu quét lá: “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu” (Ns.Trịnh Công Sơn).
Người phu quét lá bên các nẻo đường, dù mưa dầm hay nắng hạn, họ vẫn ngày ngày có mặt từ sáng sớm tinh sương để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục, mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người. Trong ý nghĩa đó, có thể nói, Gioan Tiền Hô, mà trang TM hôm nay nhắc đến, cũng là “Người phu quét lá” dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại. 
Kính thưa…Bước vào tuần thứ II Mùa Vọng, bao giờ GH cũng cho chúng ta gặp con người mang tên Gioan, vị ngôn sứ đi trước dọn đường và dọn lòng người để đón Đấng Cứu Thế. Thực thi sứ vụ dọn đường, Ngôn Sứ Gioan luôn gắn bó với Thiên Chúa và sống gần gũi với con người. Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho mọi người đến với Chúa Cứu Thế.
Ông chính là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã đón nhận cái chết như một thiên anh hùng ca cho sứ vụ một cách tuyệt vời. 
Trang TM chúng ta vừa nghe, Gioan đã nhắc lại lời tiên tri Isaia và mời gọi dân chúng dọn đường và sám hối: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường nhấp nhô phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính. 
Con đường mà Gioan mời gọi chúng ta dọn, đó chính là đường đi vào tâm hồn. Đó là con đường nội tâm. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống. Mỗi khi đất nước đón tiếp một nguyên thủ quốc gia từ nước khác tới thăm, người ta thường hô hào sửa sang đường sá, làm sạch đẹp môi trường cảnh quang. Đó là biểu lộ lòng hiếu khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại với chúng ta. Cho nên, việc dọn đường cho Chúa đến là cần thiết. Con đường mà chúng ta phải dọn, phải sửa sang để lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế, và để đón Chúa, đó là những chông gai tội lỗi, đó là những đam mê của cải vật chất hay danh lợi, hoặc đó là những thói hư tật xấu. 
Kính thưa…Hôm nay bước vào tuần lễ thứ hai của Mùa Vọng, cả thế giới Kitô giáo đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, thậm chí còn có cả những người không tôn giáo hay ngoài kitô giáo cũng nô nức chào đón, các cửa tiệm tràn ngập cây thông Giáng sinh, quà tặng Giáng sinh, món ăn, quần áo, đồ chơi hay những cánh thiệp cho Giáng sinh. Nhiều nhà đang sửa soạn đón GS với những cây thông hay hang đá trong gia đình. Giáo xứ chúng ta cũng vừa kịp hoàn thành bức phông lớn hình gia đình Thánh Gia người Việt ngoài tiền sảnh nhà thờ. Có thể nói đây là bức phông được hoàn tất sớm nhất trong khu vực giáo hạt Hàm Tân. Đâu đó nhạc Giáng sinh cũng đã rộn vang và lòng người đã thấy rạo rực niềm vui GS. 
Nhưng phải dọn mừng lễ Giáng sinh thế nào cho xứng đáng, cho đúng theo Tin mừng của Chúa mà Gioan đã hô hào :”Hãy dọn đường cho Chúa đến”. Con đường tâm hồn của chúng ta đã tốt chưa? Và lòng chúng ta đã trở nên thửa đất mầu mỡ để đón ơn Chúa chưa ? Hay lòng chúng ta lại trở nên một sa mạc cằn cỗi ?
Dọn đường tâm hồn là chấp nhận biến đổi sa mạc của cõi lòng thành miền đất trù phú, miền đất thấm đẫm ơn Chúa. Bởi vậy, người ta phải chấp nhận sự hao mòn sức lực, chấp nhận tự gọt giũa chính mình, chấp nhận nhiều khó khăn khác nhau. Vì biến đổi như thế là sám hối. Và sám hối thật lòng đòi phải có dấn thân thực sự để tự mình từ nay dám cắt bỏ một thói quen, một đam mê, một tật xấu… để lòng mình biết yêu hơn, khiêm nhường hơn, sống phục vụ hơn, vị tha hơn…
Mừng lễ Giáng sinh là chúng ta kỷ niệm việc Chúa đã xuống trần hơn hai ngàn năm rồi, đồng thời Chúa sẽ còn đến trong ngày chung thẩm nữa. Nếu thánh Gioan Tiền hô đã làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, bằng việc làm và bằng chính đời sống của Ngài. Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa trong môi trường của chúng ta. Nhưng muốn cho lời chứng của chúng ta có hiệu quả, trước hết chúng ta phải có đời sống xứng đáng, phải đoạn tuyệt với tội lỗi và những tính mê nết xấu và thể hiện một đời sống bác ái yêu thương. Đó là những việc chúng ta cần làm để chuẩn bị mừng Chúa Giáng sinh.
Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Cả cuộc đời Gioan chỉ một tâm nguyện là làm “Người phu quét lá” dọn lòng người khác. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gioan để trở thành “ Người phu quét lá” cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và cho mọi người xung quanh chúng ta. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình. Amen!

Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng Năm C

HÃY CHẠNH LÒNG THƯƠNG (Mt 9,35-10,1.6-8)
Có một gia đình kia gồm 7 anh chị em. 6 anh chị em lớn rất giàu có, nhưng còn gia đình đứa em út thì rất nghèo khổ, vợ với con lại nay ốm mai đau. Thế nhưng các anh chị lớn chẳng những không giúp gia đình đứa em tội nghiệp nghèo nàn này, trái lại họ còn kéo bè kéo phái gây đau khổ cho em mình. 
Kính thưa…Là anh chị em ruột với nhau, nhưng tại sao họ lại không yêu thương đùm bọc lẫn nhau?

Gia đình mà chúng ta vừa nghe kể là một phản ánh của thời đại hôm này. Đó là một phần tất yếu của cuộc sống. Thật vậy! Cuộc sống hôm nay với bao tất bật lo toan cơm áo gạo tiền khiến chúng ta chỉ chỉ nghĩ đến mình, chỉ lo cho bản thân mình mà ít khi nghĩ đến người khác, quan tâm giúp đỡ người khác.
Với Chúa Giesu và tin mừng cứu rỗi của Ngài thì khác.Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu thấy đám đông lầm than vất vưởng thì Ngài chạnh lòng thương. Thánh sử Matthêu nói rõ: “Thấy dân chúng đông đảo, Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than, vất vưởng, như chiên không người không chăn dắt”. Chúa THẤY và Chúa CHẠNH LÒNG THƯƠNG. 
Thánh Matheu còn cho chúng ta thấy một Đấng Mesia thao thức với sứ mạng loan báo Tin Mừng và mời gọi sự cộng tác của các tông đồ và chúng ta nữa vào sứ mạng đó khi đưa ra lời đề nghị:Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin Chủ sai thợ ra gặt lúa về. Ngài muốn chúng ta cộng tác với Ngài bằng lời cầu nguyện. Tiếp theo việc cầu nguyện, là việc Chúa mời gọi các môn đệ và chúng ta trở thành những cánh tay nối dài của Chúa, tiếp tục sứ mạng của ngài và làm cho Tin Mừng được lan tỏa khắp nơi.
Kính thưa… Đấng Mesia mà muôn dân mong đợi chính là Đức Giêsu. Ngài là Đấng cứu độ chúng ta. Tuy nhiên Ngài sẽ không thể bước vào nhà tâm hồn chúng ta nếu chúng ta không mở cửa đón tiếp Ngài. Người sẽ không thể biến đổi thế giới, và tâm hồn, nếu chúng ta không sẵn sàng. 
Chúa cũng đang muốn chúng ta mang trái tim của Chúa, bước đến với anh em, chạnh lòng thương trước những đau khổ của đồng loại và ra tay xoa dịu những bệnh tật tâm hồn và thể xác của anh em.
Khi mỗi người thực hiện như thế, thì mùa vọng sẽ không chỉ là chờ đón hay kỷ niệm một biến cố quá khứ, mà thực sự là muà ân phúc, mùa hy vọng cho mỗi người mỗi gia đình và cả thế giới. Xin Chúa biến đổi chúng ta nên những cộng tác viên tích cực của Chúa, đem Tin Mừng của Chúa đến cho anh em chung quanh. 
Sứ mạng mà Đức Giê-su trao ban cho các Tông đồ xưa kia cũng chính là lời mời gọi mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Trước những nhu cầu của anh chị em trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, những người ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày, xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức lời mời gọi của Chúa để luôn nhiệt thành với việc giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính đời sống của mình. 
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa để con biết rung cảm trước những nỗi bất hạnh của anh chị em. Xin cho con đôi tay của Chúa để con biết mở rộng và trao ban. Xin cho con đôi chân của Chúa để con đi đến với anh chị em đang cần đến con. Amen.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

4.12.2015 – Thứ sáu Tuần 1 Mùa Vọng

Lời Chúa: Mt 9, 27-31
Ðang khi Ðức Giêsu ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: “Lạy Con Vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” Khi Ðức Giêsu về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi tin.” bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy.” Mắt họ liền mở ra. Người nghiêm giọng bảo họ: “Coi chừng, đừng cho ai biết!” Nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Người trong khắp cả vùng.
Suy niệm:

Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ người ta đọc được câu chuyện này. Ngày xưa có mấy anh mù rủ nhau đi xem voi. Họ được dẫn đến cạnh một con voi rất to để họ dùng tay mà sờ vào nó. Anh thứ nhất sờ được vào cái vòi của con voi. Sờ xong anh đắc chí hô to:
- Tôi biết voi giống cái gì rồi, nó giống như một con rắn.
Anh thứ hai sờ vào chân voi rồi nói:
- Đâu phải, voi giống như cái cột nhà.
Anh thứ ba sờ vào sườn voi, phản đối:
- Các anh điên hả? Voi giống như một bức tường chứ!.
Anh thứ tư sờ vào tai voi, bật cười.
- Các anh nói gì vậy? Voi giống như một tàu lá chuối.
Đúng là mù! Mù là không thấy và vì không thấy nên không biết hay biết một cách phiếm diện, biết không đầy đủ.
Cái mù thể xác đã khốn khổ như thế, nhưng còn có một loại mù còn khốn khổ hơn nữa, người ta gọi đó là mù lương tâm, mù không dám nhìn, không dám nhận sự thật. Đây là thứ mù thường xảy ra trong đời sống con người.
Đúng thế, không dám nhận ra sự thật cũng là một bệnh mù. Bệnh này rất nguy hiểm, nó thường bộc phát và lây lan nhanh. Nguyên nhân của căn bệnh này là tính kiêu ngạo, một loại vi trùng rất khó trị và thường gây ra những hậu quả rất tai hại cho những người mắc bệnh này.
Chúng ta lấy một vài ví dụ trong Tin Mừng, chẳng hạn ông Philatô đứng trước mặt Chúa Giêsu nhưng chỉ thấy Ngài như một tên tử tội cần phải loại trừ chứ không thể nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Vua Hêrôđê cũng vậy, mặc dù được đứng trước trực diện với Chúa, nhưng chỉ thấy Ngài như một người điên.
Ngược lại, hai người mù trong bài Tin Mừng hôm nay, mặc dù họ mù hai con mắt thể lý, nhưng trái lại họ được sáng con mắt đức tin, con mắt tâm hồn, cho nên họ đã nhận ra Chúa là Đấng con Vua Đavít. Họ đã tin Chúa và được Chúa chữa lành cho họ được nhìn thấy.
Chúng ta có thể sáng mắt thể lý, vì chúng ta nhìn thấy rõ ràng những công trình của Chúa qua vũ trụ van vật, nhưng có khi chúng ta lại mù con mắt đức tin, vì chúng ta đã không tin vào Thiên Chúa qua các dấu chỉ của sự vật, hay các biến cố chung quanh để nhận ra thánh ý Chúa mà thi hành.
Chính Chúa Kitô mặc khải Ngài là ánh sáng. Nếu chúng ta hướng về Ngài chúng ta sẽ được ánh sáng. Còn nếu chúng ta quay lưng lại với Ngài, thì trước mắt chúng ta chỉ là bóng tối dày đặc. Vì vậy, chỉ một cái nhìn có thể đưa chúng ta tới ánh sáng hay bóng tối. Nếu chúng ta bỏ Ngài là bỏ ánh sáng, là đi vào bóng tối.
Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài, chúng ta mới thực sự là người sáng mắt. Chỉ trong Ngài chúng ta mới biết chúng ta là ai, và sẽ đi đến đâu. Dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận được ánh sáng của Ngài, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy.
Phêrô Nguyễn Bùi Quốc Khánh SDB



Chúa Nhật II mùa Vọng



Thiên Chúa dự định thực hiện một việc tốt lành cho dân Người, đó là ban ơn cứu độ. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khai triển đề tài ấy qua đoạn sách ngôn sứ Ba-rúc, đồng thời qua sứ điệp của ông Gio-an Tiền hô và lời khuyên của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê, đưa ra một chương trình sám hối giúp ta tiếp nhận ơn cứu độ.

1. Giê-ru-sa-lem được khôi phục là hình bóng nói lên ơn cứu độ (bài đọc Cựu Ước – Ba-rúc 5:1-9)

Sách ngôn sứ Ba-rúc nói về cuộc lưu đày của Ít-ra-en tại Ba-by-lon và về viễn tượng dân được giải phóng rồi trở về Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên viễn tượng giải phóng ấy không chỉ mang tính cách lịch sử Ít-ra-en, mà còn ám chỉ về thời cứu độ Thiên Chúa thực hiện qua Chúa Ki-tô. Giê-ru-sa-lem đã trở nên điêu tàn sau khi dân Ít-ra-en bị phát lưu. Giờ đây, ngôn sứ Ba-rúc nhìn thấy một Giê-ru-sa-lem được phục hồi còn vinh quang rực rỡ hơn cả trước kia. Đức cha Êu-xê-bi-ô, giám mục Xê-da-rê, trong bài chú giải sách I-sai-a đã nói về vai trò của Giê-ru-sa-lem: “Quả thật, Xi-on đây cũng chính là Giê-ru-sa-lem, đã nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa, là thành được xây ở trên cao, trên núi của Thiên Chúa, nghĩa là trên Ngôi Lời, Con Một của Người”.

Vậy cái nhìn của ngôn sứ Ba-rúc về Giê-ru-sa-lem được cứu độ như thế nào? Hình ảnh đầu tiên về Giê-ru-sa-lem được cứu độ là “cởi bỏ áo tang khổ nhục để khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa” (Br 5:1). Cứu độ là được thay đổi từ tình trạng xấu tới tình trạng tốt, hoặc từ cái mất đến cái tìm lại được. Giê-ru-sa-lem đã trải qua một thời kỳ đen tối, mất đi tất cả và nằm trong bàn tay kìm kẹp của dân ngoại. Một thành lừng danh nay đã hoang tàn vì không còn dân chúng và sức sống nữa, khác gì một thành phố chết. Tình trạng chết ấy đúng là “áo tang khổ nhục” bao trùm Giê-ru-sa-lem. Bị ngoại bang xâm chiếm, Giê-ru-sa-lem nhục nhã vì Đền Thờ trở thành ô uế, các đồ dùng thờ phượng bị tục hóa, việc thờ phượng Thiên Chúa bị thay thế bằng việc cúng tế các thần ngoại, vinh quang và công chính của Thiên Chúa nhường chỗ cho đồi trụy và thấp hèn của thế gian.

Giữa tình trạng buồn thảm và thất vọng ấy, ngôn sứ Ba-rúc mang đến sứ điệp giải phóng của Thiên Chúa: “Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, hãy đứng ở nơi cao và hướng nhìn về phía đông” (Br 5:5). Phía đông là phía mặt trời, mặt trời công chính, biểu tượng của Thiên Chúa, sẽ mọc lên và phá tan u tối. Phía đông cũng là hướng Ba-by-lon, nơi con cái Ít-ra-en bị lưu đày sẽ lên đường trở về quê cha đất tổ. Con đường xưa đem dân Ít-ra-en đi lưu đày là con đường khổ cực, khó khăn và nhục nhã nay được dọn dẹp lại theo lệnh Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Ít-ra-en tiến bước an toàn” (Br 5:7).

Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong sứ điệp giải phóng này phải là sự can thiệp của Thiên Chúa. Vai trò chủ động của Thiên Chúa được đề cao: Thiên Chúa “ban vinh quang vĩnh cửu, khoác áo choàng công chính cho Ít-ra-en, truyền dạy con cái Ít-ra-en tụ họp về, ra lệnh dọn đường để Ít-ra-en tiến bước an toàn, cho quế trầm tỏa bóng che rợp Ít-ra-en, dẫn Ít-ra-en đi trong hoan lạc”.

Những gì Thiên Chúa đã làm cho Giê-ru-sa-lem thì Người cũng làm cho ta để cứu độ ta. Thiên Chúa đã khôi phục Giê-ru-sa-lem và xây thành “trên Con của Người”, nghĩa là Người cứu độ ta nhờ công nghiệp Chúa Ki-tô. Chúa sẽ dẫn ta “đi trong hoan lạc, dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người” (Br 5:9). Nhưng ta cũng có bổn phận phải theo sự dẫn dắt của Chúa, nhất là trong công việc dọn đường cho ơn cứu độ, theo lệnh Chúa mà dẹp bỏ những núi cao, gò nổng và thung lũng “có tự lâu đời” trong ta, tức những tính hư tật xấu đã ăn rễ sâu trong lối sống của ta.

2. “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (bài Tin Mừng – Lu-ca 3:1-6)

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Ba-rúc loan báo Thiên Chúa cứu độ Giê-ru-sa-lem. Lời tiên tri ấy nay đã ứng nghiệm khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Chúa Giê-su bắt đầu sứ mệnh cứu thế sau những năm sống ẩn dật tại Na-da-rét. Nhưng trước khi Người xuất hiện, có ông Gio-an “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3:3).

Trước khi giới thiệu con người và sứ vụ của ông Gio-an Tiền hô cũng như của Chúa Giê-su, thánh sử Lu-ca đã không quên nói đến khung cảnh thời gian và không gian đạo đời. Ngài muốn trình bày một bối cảnh lịch sử để giúp ta nhận ra tính cách phổ quát của ơn cứu độ, là: “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3:6). Sứ điệp về ơn cứu độ phổ quát ấy phải là cốt lõi lời rao giảng của ông Gio-an. Tuy nhiên, kèm theo lời rao giảng trọng đại này, ông Gio-an muốn có một nghi thức dễ khiến cho người ta cảm động và nghiêm túc tiếp nhận tin mừng cứu độ. Đó là làm phép rửa. Mục đích phép rửa của ông không phải là tha thứ tội lỗi dân chúng, mà chỉ là giúp họ “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”, bởi vì việc tha tội thuộc quyền của “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1:29).

Thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa thì ai cũng có khả năng thấy được, vì ơn cứu độ có tính cách phổ quát. Nhưng tiếp nhận ơn cứu độ lại là chuyện khác, cần phải có đáp trả và nỗ lực của mỗi người. Vì thế, đối với ông Gio-an, muốn kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, không gì tốt hơn là mượn lời ngôn sứ I-sai-a để kêu gọi dân chúng: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3:4). Đường lối là hình ảnh dễ dàng nhất để mô tả một chuyển động, có điểm đi điểm tới. Mọi ngăn cản, khó khăn cần phải được dẹp bỏ. Hình ảnh con đường với thung lũng, núi đồi, khúc quanh co, chỗ lồi lõm thật là thích đáng giúp ta hiểu thế nào là một tâm hồn có những trở ngại khiến cho việc di chuyển giữa họ với Chúa thật khó khăn, hoặc có thể nói là không thể vượt qua nổi. Khó khăn trở ngại không phải về phía Thiên Chúa, mà hoàn toàn về phía con người. Làm sao Chúa đến với ta khi ta cứ theo con đường của ta là con đường tội lỗi và chống lại Chúa? Những thung lũng tham lam, núi đồi kiêu căng, khúc quanh co gian dối và lồi lõm bất trung đã dựng lên những chướng ngại vật cản đường Chúa đến. Do đó, dọn đường cho sẵn và sửa lối cho ngay là việc của ta, còn việc Chúa cứu độ chỉ được thể hiện nếu ta cộng tác với Chúa bằng cách chuẩn bị sẵn sàng.

3. Thánh Phao-lô nói gì về việc chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ? (bài đọc Tân Ước – Phi-líp-phê 1:4-6.8-11)

Ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tiền hô đã loan báo ơn cứu độ và việc chuẩn bị qua những hình ảnh cụ thể về Giê-ru-sa-lem và việc dọn đường lối. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì đề cập đến việc chuẩn bị tâm hồn khi ngài “khẩn khoản nài xin” anh chị em tín hữu hãy làm sao “cho lòng mến ngày thêm dồi dào” và “được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách” trong thời gian họ chờ đợi Chúa đến vào phút cuối đời. “Sống một đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”, đó là châm ngôn của mọi tín hữu muốn lãnh nhận được ơn cứu độ.

Trước hết ta thấy hết sức cảm động vì tấm lòng yêu thương của người cha nơi thánh Phao-lô. Tình thắm thiết của ngài dành cho tín hữu Phi-líp-phê cũng là tình ngài dành cho ta. Ngài chia sẻ những gì ngài đã sống, đó là sống “nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Cuộc sống đầy tràn tinh thần Chúa Ki-tô đã làm cho lòng mến của ngài ngày thêm dồi dào và được nên tinh tuyền. Ngài đã chạy hết quãng đường trong cuộc đua và đã chiến thắng trong cuộc thi đấu (2 Tm 4:7). Những lời ngài tâm sự với Ti-mô-thê phải là những lời khích lệ ta thực thi việc chuẩn bị dọn đường đón nhận Đấng Cứu Độ. Một trong những cách chuẩn bị mà thánh Phao-lô chú trọng nhất, đó là “góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng”, bởi vì nếu muốn rao giảng Tin Mừng thì chính mình phải sống Tin Mừng ấy trước. Cả cuộc đời ta là những tháng năm rao giảng Tin Mừng bằng đời sống. Thánh Phao-lô còn cho ta thấy tương lai chắc chắn của việc sống và rao giảng Tin Mừng, là: “Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Ki-tô Giê-su quang lâm” (Pl 1:6). Nói khác đi, nếu Chúa đã giúp ta làm công việc dọn đường lúc ban đầu khi ta sống trên trần gian này, thì Người cũng giúp ta hoàn tất công việc dọn đường ấy khi Chúa Ki-tô trở lại trần gian ngày cuối đời của ta.


4. Sống Lời Chúa

Ngôn sứ Ba-rúc giúp ta xác tín vào ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho mọi người. Thánh Gio-an Tiền hô lập lại lời ngôn sứ I-sai-a để loan báo ơn cứu độ phổ quát và việc chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì chia sẻ tâm tình yêu thương và khích lệ ta hãy “sống đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Nếu tuần thứ nhất mùa Vọng chú trọng loan báo việc Chúa đến cứu độ, thì Phụng vụ Lời Chúa tuần này nhấn mạnh hơn đến việc ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Chuẩn bị không phải chỉ trong mấy tuần lễ trước ngày lễ Giáng Sinh, nhưng là chuẩn bị cho cả một đời để sẵn sàng đón Chúa trở lại với ta.


Suy nghĩ: Con đường để Chúa đến với tôi và tôi đến với Chúa là con đường nào? Tôi có nhận ra những chướng ngại nào không, và tôi phải dẹp bỏ chúng thế nào?


Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cuàng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men. (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Vọng).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


         

Chúa Nhật II Mùa Vọng

I.          Tìm Hiểu Lời Chúa
1.         Bài Đọc I : Br 5, 1-9
Niềm hy vọng mừng vui cho Giêrusalem
Trong một trang sách giàu chất thi ca, vị Tiên tri đã gửi tới Thành Giêrusalem một thông điệp vui mừng và hy vọng : con cái bị lưu lạc sẽ được Chúa đưa trở về trong danh dự và vinh quang. Dân thành sẽ nhận biết một kỷ nguyên thịnh vượng và hoà bình.
a.         Đây là một trong những bài thánh thi hay nhất trong Kinh thánh ca ngợi lòng nhân ái của Thiên Chúa dành cho dân của Người. Từ sự tủi nhục Thiên Chúa đã đưa dân tiến tới vinh quang; từ khốn khó đến sự phồn vinh; từ đau buồn của khóc than tiến tới niềm vui.
b.         Nhưng để Thiên Chúa gặp lại dân Ngài thì dân  cần phải có sự quay trở về, từ bỏ tội lỗi và sự bất trung là nguyên nhân gây nên sự dữ.. Cần phải mặc lại chiếc áo công chính.
c.         Cũng thế, vì Thiên Chúa chăm sóc con cái Ngài như một người cha tốt nhất, nên trong thử thách, chúng ta cần phải tín thác chờ đợi giờ Thiên Chúa can thiệp. Chắc chắn Ngài sẽ đến.
2.         Bài Đọc II : Pl 1, 4-6.8-11
Hướng tới sự hoàn thiện ngày một hơn.
Sau khi thổ lộ tất cả tình cảm chan chứa của mình dành cho anh chị em Philipphê và niềm vui mừng của mình trước sự thăng tiến đời sống thiêng liêng của họ, Thánh Phaolô mời gọi họ tỉnh táo hơn nữa để tiến tới không lầm lạc trên đường hướng đến Đức Kitô.
a.         Với tình yêu của Đức Kitô, Thánh Phaolô không ngừng cầu nguyện cho những người cộng tác loan báo Tin mừng với mình có được tình yêu nồng cháy trong sự hiểu biết sâu xa về con người và sứ mạng của Đức Kitô.
b.         Đời sống Kitô hữu, ngài giải thích là một sự tăng tiến hướng tới sự hoàn thiện viên mãn trong Đức Kitô.
c.         Bản văn này đuợc đặt trong bối cảnh và tinh thần của mùa vọng thật ý nghĩa. Một thời gian để suy gẫm, để cầu nguyện và để cố gắng tiến triển trong sự nhận biết thánh ý Chúa và trung tín sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn, quảng đại hơn.
3.         Tin Mừng : Lc 3, 1-6
Thánh Luca đưa chúng ta tham dự vào sự khởi đầu sứ mạng của Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan : Gioan, quả nhiên, đã được trao sứ mạng chuẩn bị cho đồng bào của mình đón Đấng Messia sắp ngự đến.
a.         Trước hết, bằng sự am hiểu lịch sử, Luca quan tâm ghi các mốc thời gian đương thời để đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả và sự xuất hiện công khai của Đức Giêsu Kitô. Khi đánh dấu thời gian xuất hiện của Gioan và của Đức Giêsu Kitô với các Vua và Thượng Tế bấy giờ, Luca muốn xác định thời gian của hai sự xuất hiện này trong lịch sử trần thế. Tất nhiên, khi đưa những mốc thời gian sử liệu, Luca không chú tâm đến lịch sử trần thế mà chủ đích là muốn lồng lịch sử này vào trong lịch sử Cứu độ.
b.         Tiếp theo, Luca trình bày vắn tắt tổng quát về lời rao giảng sám hối của Gioan. Sứ mạng của Gioan Tẩy Giả bắt đầu tạo nên một giai đoạn chuẩn bị cận kề vì Đấng Cứu Thế đã đến. Lấy lại lời Tiên tri Isaia loan báo, Luca minh chứng Gioan xuất hiện là giai đoạn cuối cùng của Cựu ước. Giai đoạn này, Dân Chúa được kêu gọi trở về với Thiên Chúa của mình trong tinh thần sám hối và khiêm nhường. Sứ mạng của Gioan là loan báo lần cuối cùng về ơn Cứu độ của Thiên Chúa và bắt nối vào Đức Giêsu Kitô, Đấng đến thực hiện ơn Cứu độ.
c.         Trong bối cảnh mùa vọng, Bản văn này được chọn đọc nhằm mục đích cho thấy rõ điều thiết yếu trong nỗ lực sống đức tin của Kitô hữu là phải khai mở trong tâm hồn một con đường cho Vương quốc của Đấng Cứu Thế ngự đến. Khai mở bằng việc chỉnh sửa lại ý hướng bản thân, bằng việc quyết tâm chống lại những tính hư tật xấu, và bằng việc chấm dứt những mối bất hòa với anh em.
II.        Gợi Ý Bài Giảng
1.         Từ Gioan  Tẩy Giả đến Kitô hữu ngày nay, cùng chia sẻ một sứ mạng : Gioan Tẩy Giả có sứ mạng chuẩn bị dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến với dân Ngài. Sứ mạng của ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử cụ thể như Thánh Sử Luca đã tỉ mỉ ghi lại những dữ liệu lịch sử, mốc thời gian mà Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Chắn chắn không phải là việc thừa thãi khi Luca cố ý ghi lại những nhân vật lịch sử, mốc thời gian : “Đời Hoàng Đế Tibêriô năm thứ 15, Phongxilô Philatô làm Tổng trấn xứ  Giuđêa … có lời Chúa đã kêu gọi Gioan, con Giacaria, trong hoang địa”. Chúa kêu gọi một con người gắn liền với một không gian, thời gian cụ thể để làm một việc Chúa muốn trong chương trình Cứu độ của Ngài, chương trình trải dài suốt lịch sử nhân loại này. Từng thời gian, từng không gian Chúa sẽ chọn gọi những người Chúa muốn để loan báo sứ điệp Cứu độ của Ngài cho mọi người. Nói cách khác, Gioan đã chấm dứt sứ mạng của mình cách tốt đẹp. Ngày nay, sứ mạng đó lại được tiếp nối qua ơn gọi Kitô hữu của mỗi người. Chúng ta không phải là những người của quá khứ, cũng không phải là những người được chọn cho tương lai mà là những con người của ngày hôm nay. Những Kitô hữu của Việt Nam, thời thế kỷ thứ XXI, sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa … Thiên Chúa đã muốn như thế. Ngài đã chọn mỗi người chúng ta là những Gioan Tẩy Giả cho ngày hôm nay, cho những anh chị em thời đại của mình, nơi chốn của mình.
Như thế, trách nhiệm của mỗi Kitô hữu là phải xây dựng niềm tin và ý thức sứ mạng : mỗi tín hữu là một Gioan Tẩy Giả được sai đến trong gia đình, xứ đạo và môi trường xã hội của mình. Từ đó, biết mình phải làm gì, nói gì? để chuẩn bị cho anh chị em chung quanh biết đón nhận Chúa. Để Thực Sự là Gioan Tẩy Giả chính bản thân phải biết hối cải và sống niềm hy vọng chờ đón Chúa. Cần phải chuẩn bị thích đáng cho vai trò Tiền hô của mình. Chuẩn bị bằng mọi cách : từ cách mạng thông tin, đấu tranh chống khủng bố, ủng hộ phong trào hoà bình, đến xây dựng nền văn minh sự sống để chờ Chúa đến.
2.         Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả, một thông điệp thời sự cho Kitô hữu ngày nay : Gioan kêu gọi mọi người sám hối, dọn đường cho Chúa ngự đến. Sứ mạng của ông đã kết thúc khi Đức Giêsu Kitô xuất hiện công khai để loan báo Tin Mừng, thực hiện công trình cứu độ. Gioan là Tiên tri cuối cùng của Cựu ước, là bản lề nối thời Cựu ước với Tân ước, nhưng không vì thế mà sứ điệp của ông không còn gia trị nữ. Đành rằng ngày nay, Đức Giêsu Kitô đã hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, ơn cứu độ đã tuôn đổ cho nhân loại, nhưng để đón nhận được ơn cứu độ thì chính mỗi người phải biết chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận. Trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện xã hội ngày nay, Thiên Chúa muốn đến với con người, đến giữa lòng nhân loại cũng vẫn đang phải đi vào những con đường quanh co khúc khuỷu của lòng người thâm hiểm, những con đường đầy vực thẳm hố sâu của tệ nạn xã hội, những con đường cụt không lối ra của lòng hận thù, chiến tranh và bạo lực trong thế giới. Cho nên, sứ điệp của Gioan vẫn còn đó tính thời sự của nó. Con người và xã hội hôm nay rất cần phải dọn đường để Chúa ngự đến. Dọn từ tâm hồn mỗi người cho đến toàn xã hội. Bên cạnh đó, tuy dẫu ơn Cứu độ của Chúa đã được thực hiện, đã được trao ban nhưng vẫn còn rất nhiều người, nhiều nơi chưa được thấy.
Nhận ra tính thời sự trong sứ điệp của Gioan tẩy Giả sẽ giúp mỗi người sống mùa vọng này ý nghĩa hơn thiết thực hơn. Mùa vọng không chỉ là khoảng thời gian trong chu kỳ của niên lịch phụng vụ, đến hẹn lại lên để rồi làm mọi sự như một thói quen máy móc, thành một nếp sống nhàm chán. Nhưng nhờ đó, sống tích cực hơn, mùa vọng sẽ như làm một điểm mốc để kiểm điểm bản thân, làm mới lại sức sống đức tin; mùa vọng sẽ như là một dấu nhấn để can đảm dấn bước lên đường và mùa vọng sẽ như là một cánh cửa hy vọng mở ra một giai đoạn mới trong hành trình đức tin.
3.         Canh tân cuộc sống theo lời Gioan Tẩy Giả, một đòi hỏi khần thiết : Gioan tẩy Giả kêu gọi sám hối canh tân cuộc sống để chuẩn bị đón Chúa, nhưng bây giờ Chúa đã đến rồi, ơn cứu độ đã trao ban rồi. Mùa vọng chỉ là thời gian nhắc nhớ đến việc Chúa đến lần thứ nhất để hướng lòng chờ đón Chúa đến lần thứ hai. Vậy thì không còn thời gian để lần lữa, để trì hoãn hay để chuẩn bị mà bây giờ là thời gian dứt khoát đón nhận hay không đón nhận Chúa và ơn cứu độ của Ngài. Chính vì thế, lời mời gọi sám hối, canh tân cuộc sống là một đòi hỏi khẩn thiết. Chúa đã đến nhà và Ngài đang đứng gõ cửa chờ đợi mỗi người mở cửa để Ngài vào. ‘Hãy lấp mọi hố sâu, hãy san mọi núi đồi, sám hối canh tân là một đòi hỏi của lòng trong sạch, phải loại bỏ mọi tư tưởng tội lỗi xấu sa thấp hèn, mọi dục vọng bất chính. Chính chúng là cội rễ của mọi tính hư tật xấu : kiêu ngạo, ích kỷ, ghen tuông, hung hăng, bạo lực … Đức Kitô không thoả hiệp với sữ xấu, không ở chung với chúng. ‘ Con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng’, sám hối canh tân là một đòi hỏi về sự công chính, sự công chính trong chiều cao đối với Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng và là Chủ tể muôn vật; là Cha đầy lòng nhân từ, chúng ta sống công chính với Ngài khi tôn thờ và đón nhận Ngài với tất cả tình yêu mến. Sự công chính trong chiều ngang đối với anh chị em, họ là những người cùng chung sống, cùng đồng hành với chúng ta. Biết bao người anh chị em của chúng ta đang lâm vào cảnh bất hạnh, khó nghèo, mồ côi. Sống công chính với họ là chúng ta phải biết yêu thương cảm thông và làm sao mang lại cho họ phẩm giá và sự giải thoát, làm sao chia sẻ cho họ hạnh phúc của mình. ‘ Con đường gồ ghề hãy san cho bằng”, sám hối canh tân là một đòi hỏi về đời sống nội tâm. Tâm hồn chúng ta gồ ghề bởi biết bao những chi phối, lo toan của cuộc sống hàng ngày. Cơm áo gạo tiền, danh vọng, quyền lợi … chiếm hữu tất cả tâm trí, tình cảm của cá nhân, khiến cho tâm hồn không còn chỗ cho Chúa nữa. Chúa đã đến, chúng ta phải liên kết chặt chẽ với Ngài. Trong tâm khảm phải níu giữ Lời Ngài, trong cuộc sống phải thực thi Lời Ngài.
III.       Lời Cầu Chung
* Lời Mở : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã đến để ban tặng cho chúng ta hồng ân cứu độ. Trong tâm tình chúc tụng, ngợi khen Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1.         Hội Thánh có sứ mạng loan báo Tin mừng cứu độ. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi thành phần Hội Thánh luôn biết đồng hành, hiện diện với con người và xã hội hôm nay để làm cho thế giới này ngày càng phát triển những gía trị Tin Mừng.
2.         Chúa đã đến hơn hai ngàn năm qua nhưng thế giới ngày này vẫn còn biết bao nhiêu tệ nạn xã hội, chiến tranh, hận thù và bất công. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia luôn biết đối thoại, cộng tác với nhau xây dựng một thế giới văn minh, hòa bình và tràn đầy tình người.
3.         Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để ai nấy biết nỗ lực canh tân đổi mới cuộc sống theo những giá trị của Tin Mừng.

* Kết Nguyện : Lạy Thiên Chúa là Cha đầy lòng thương xót, Chúa đã yêu thương cho Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến để cứu độ, giải thoát chúng con khỏi kiếp nô lệ cho tọâi lỗi, ma quỉ và sự chết. Xin thương đoái nhận những ý nguyện chân thành của chúng con, cho chúng con biết dọn mình sẵn sàng đón chờ ngày Đức Kitô ngự đến trong vinh quang. Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

THÁNH PHANXICO XAVIER (1506-1552)



Mc 16, 15-20
“Được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”
Kính thưa…….. Lời vàng này của Chúa Giêsu đã thôi thúc, đánh động tâm hồn một học giả tài năng đầy triển vọng. Một giáo sư trẻ tuổi đang sinh sống và giảng dạy tại Bale đã từ bỏ tất cả để bước theo Chúa trên con đường truyền giáo với đầy những nghịch cảnh và khó khăn. Đó chính là Thánh Phanxico Xavier.
Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Ngài qua đời trên đảo Xan-xi-an , ngoài khơi bờ biển Quảng Đông Trung Quốc năm 1552. Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh cùng thời với thánh Ignatiô Loyola, năm 1622; được ghi tên vào lịch Rôma năm 1623 và được tuyên phong là bổn mạng Ấn Độ và các nước Viễn Đông năm 1748. Cùng với thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, năm 1927, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI tuyên phong là bổn mạng các xứ truyền giáo.
Nói đến thánh Phanxicô Xaviê, người Kitô hữu ngày nay nghĩ ngay đến một trong những chứng nhân tiêu biểu nhất của lòng nhiệt thành truyền giáo. Thánh nhân như dấu chỉ Thiên Chúa dùng để chứng tỏ cho nhân loại thấy được tính phổ quát của Giáo hội mà Đức Kitô đã lập và không ngừng tác động cho nó tăng triển sâu rộng. Huấn lệnh mà Thầy Giêsu đã mời gọi Nhóm tông đồ năm xưa như trang TM chúng ta vừa nghe, vẫn luôn mới mẻ và thúc bách suốt dòng lịch sử: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Cảm nghiệm được giá trị và tầm vóc của sứ vụ mà Thầy Chí Thánh kêu mời, Thánh Phanxicô đã kịp thời đáp trả trong tinh thần yêu mến, dám sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh trên hành trình rao giảng.
Nét đẹp trong tinh thần truyền giáo của Thánh Phanxicô phải kể đến trước hết, đó là thái độ từ khước danh vọng trần thế để được nhận lãnh gia tài vĩnh cữu nhờ việc hoán cải những tâm hồn. Vì thế, ngài đã nghiệm thấu lời vàng của Thầy chí thánh Giê-su đã nói: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì ?”. Khi đã chiến thắng được tham dục, ngài không ngừng sám hối theo Tin Mừng để triệt trừ tính kiêu căng trỗi dậy đòi ngài phải khuất phục trước cuồng vọng của xác thịt. Đây chính là bước quan trọng giúp thánh nhân có thể tập trung tới việc cộng tác đắc lực cứu rỗi các linh hồn, làm cho Nước Chúa được rộng lan.
Điểm thứ hai trong con người của ngài chính là lòng trắc ẩn với những cảnh đời nghèo khó. Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng, qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.
Kính thưa….Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, rồi sang Việt Nam, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.
Năm 1622, ngài được Đức Giáo Hoàng Piô X phong thánh và đặt làm quan thầy các công cuộc truyền giáo nước ngoài.
Ước gì lời mời gọi "ra đi và rao giảng cho muôn dân" luôn là tâm niệm hằng ngày của chúng ta sẵn lòng mang Lời Chúa đến cho anh em. Nhưng trước tiên, việc rao giảng này được khởi đầu ngay trong gia đình cho con cái, vợ chồng bạn bè và từ họ mở rộng đến những nơi chúng ta tiếp xúc gặp gỡ.
Xin Chúa luôn đồng hành để chúng ta can đảm vượt qua mọi khó khăn để trung tín trong ơn gọi của mình. Amen

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

Thứ 3,1 V:Thiên Chúa yêu thương kẻ bé mọn

Thứ Ba tuần I Mùa Vọng

1. Thiên Chúa nâng cao những người bé mọn

Một lần nữa Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay khẳng định: Thiên Chúa luôn luôn hướng về và dành cho những người bé mọn một vị trí đặc biệt trong trái tim của Người.

Nhưng ai là « người bé mọn »? Theo Kinh Thánh, người bé mọn thường được đồng hóa với người nghèo hèn, mồ côi, góa bụa, khách ngoại kiều, thậm chí cả những người tội lỗi, phường thu thuế và gái điếm…và rộng hơn là tất cả những ai có lòng khiêm nhường biết nhìn nhận con người thật của mình và không ngừng trông cậy vào tình thương Thiên Chúa.

Tại sao « người bé mọn » lại được Thiên Chúa ưu ái như vậy ? Thiên Chúa yêu thương họ vì Ngài muốn và yêu thương họ là « điều đẹp ý Thiên Chúa Cha » và « Chúa Con muốn » như vậy. Ở đây Chúa Giêsu muốn ám chỉ Nước Thiên Chúa sẽ không được mạc khải cho người kiêu căng, tự phụ, tự cho mình vững mạnh không cần đến ai giúp đỡ, kể cả Thiên Chúa. Những ai không ngừng hoán cải, luôn biết ý thức về những giới hạn của mình và luôn sẵn sàng mở lòng ra với Thiên Chúa và khao khát Người thì sẽ được Người yêu thương mạc khải cho.

2. Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em đang thấy

Bài đọc một trích trong sách ngôn sứ Isaia (11, 1-10) là lời hứa của Thiên Chúa về Đấng Messia và thời đại của Người: với đầy tràn Thần Khí và lòng kính sợ Thiên Chúa, Đấng Messia sẽ đến xét xử muôn dân nước theo lẽ công bình và chăn dắt muôn người bằng lòng yêu thương, thành tín… Đây là lời hứa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Israel. Quan trọng không đơn thuần bởi vì nó hứa hẹn về một tương lai tươi sáng, nhưng còn vì là lời hứa của chính Thiên Chúa về ơn cứu độ cho muôn dân tộc.

Sự xuất hiện của Đức Giêsu cùng với lời rao giảng, việc làm và các phép lạ của Người là một dấu chỉ hùng hồn cho thấy sự hiện hữu của triều đại Thiên Chúa. Nhưng sự thật ta thấy cho đến tận hôm nay, không phải mọi người đều có thể khám phá ra điều này. Họ không nhận ra không phải vì Thiên Chúa không muốn cho họ biết, nhưng bởi lòng chai dạ đá đã ngăn cản không cho họ mở lòng ra đón nhận những điều đang được mạc khải. Hạnh phúc và ơn cứu độ của triều đại Thiên Chúa đã đến, nhưng chỉ những ai biết mở lòng ra đón nhận với lòng khiêm hạ thì mới có được hạnh phúc ấy.

Lạy Chúa, chúng con đang sống trong những ngày đầu tiên của Mùa Vọng. Đây là cơ hội rất tốt Chúa muốn dành để mời gọi mỗi chúng con làm mới lại chính mình, sống bằng xác tín chính ơn gọi của mình là mở lòng ra với Chúa và với tha nhân, hầu có thể lãnh nhận quà tặng ơn cứu độ. Xin đừng bao giờ để con tự khép lòng mình lại trên nhưng luôn biết mở toang cánh cửa trái tim cho Chúa ngự vào. Nhờ thế, tâm hồn con mới có được hạnh phúc vì Chúa mới chính là hạnh phúc và ơn cứu độ cho con. Amen.

-
Đức Giêsu chạnh lòng thương
Mt 15, 29-37

Hôm nay, bài Tin mừng kể lại việc Đức Giêsu chữa lành nhiều bệnh nhân và hóa bánh ra nhiều lần thứ hai.

Chúa Giêsu lên núi, dân chúng lũ lượt kéo đến nghe Người giảng và đem theo nhiều kẻ bệnh tật để xin cứu chữa. Chúa đã chữa cho kẻ câm nói được, kẻ què đi được, kẻ mù thấy được nên họ hết sức cảm phục và tôn vinh Chúa.

Sau ba ngày họ luôn ở với Đức Giêsu mà không có gì ăn nên họ tỏ ra rất mệt nhọc (Mt 15,32). Chính vì vậy, Đức Giêsu đã “chạnh lòng thương” và không đành để cho họ nhịn đói, nên đã làm phép lạ cho bảy cái bánh và mấy con cá hóa nhiều cho họ ăn no nê dư dật.

Đức Giêsu đã thể hiện dung mạo của lòng xót thương. Người sẵn lòng yêu thương, chữa lành mọi người đặc biệt là những ai nghèo khổ, bệnh tật về phần hồn phần xác. Tin tưởng vào lòng xót thương của Chúa, chúng ta hãy chạy đến để cầu xin Chúa mỗi khi gặp khó khăn thử thách để cũng được Người ủi an nâng đỡ.

Trong cuộc sống, qua sách báo, tivi, internet chúng ta nhận thấy con người dần dần đang thiếu đi sự quan tâm chia sẻ, nhiều khi còn trở nên vô cảm trước những nỗi đau khổ bất hạnh của người xung quanh. Vì vậy, mỗi chúng ta cũng cần noi gương Chúa biết nhạy cảm mở rộng tấm lòng, mở rộng bàn tay ra để giúp đỡ những người nghè khổ bệnh tật hồn xác bên cạnh chúng ta.


THỨ TƯ SAU CN I VỌNG C - 2015

Trong bài đọc thứ nhất chúng ta vừa nghe đọc, khi mô tả về thời cánh chung, ngôn sứ Isaia nghĩ đến một bữa tiệc lớn cho mọi dân tộc do Đức Chúa của Ítraen khoản đãi trên núi thánh. Không phải chỉ đãi thịt béo, rượu ngon, Đức Chúa còn lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người. Khổ đau không còn nữa, chỉ còn tiếng reo vui và tiếng cười hạnh phúc.
Còn trong bài TM hôm nay, lời của ngôn sứ Isaia xưa, nay đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Thánh Matthêu mô tả thật rõ nét hình ảnh Chúa Giêsu lên một ngọn núi thuộc miền Thập Tỉnh của dân ngoại. Dân chúng kéo đến cùng với những người bệnh hoạn tật nguyền. Trên ngọn núi ấy, Ngài đã đem đến niềm vui cho bao người. Như kẻ câm nói được, người què đi được, người mù sáng mắt. Ngài không giảng về một Nước Trời xa xôi. Ngài cho thấy một Nước Trời gần gũi khi thân xác được lành mạnh. Vì vậy, Ngài đã quan tâm đến đám đông dân chúng không chỉ với việc rao giảng, hay chữa bệnh, mà Ngài còn biết chạnh lòng thương đám đông trong cái ăn cái mặc, trong sự sống còn của kiếp người. Ngài thấu hiểu đám đông đã theo Ngài, đã ở với Ngài từ ba ngày qua mà không có gì ăn. Ngài hiểu thế nào là cái đói và hậu quả của nó nên Ngài không muốn để họ đi về mà bụng lại rỗng không. Ngài “Sợ rằng họ bị đói sẽ xỉu dọc đường” . Nên đã nghĩ đến việc cho họ ăn như một nhu cầu cấp thiết. Trước vấn đề lương thực cho một đám đông như vậy ở nơi hoang vắng, các môn đệ thấy mình bất lực và bế tắc sau lời đề nghị của Chúa. “Chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no khi chúng con chỉ có bảy cái bánh và ít cá nhỏ” (c. 33).
“Bảy cái bánh và ít cá nhỏ”, đó là tất cả những gì họ có. Chúa đã làm phép lạ cả thể từ bảy chiếc bánh và ít cá nhỏ đó cho nhiều người ăn no nê và còn dư lại 7 thúng. Để nuôi đám đông, các môn đệ phải cộng tác với Đức Giêsu, trao cho Ngài tất cả những gì mình có, để rồi nhận lại tất cả từ Ngài, và đem chia sẻ cho đám đông. Bữa ăn hôm đó ở nơi vắng không phải là một đại tiệc với thịt ngon và bia rượu, nhưng rõ ràng là rất cần thiết, khi Chúa Giêsu đem lại sự no đủ cho dân chúng.
Kính thưa…Thế giới hôm nay còn hơn một tỉ người đói, đa số ở các nước Á châu. Nạn đói tại Sômali và nhiều nơi trên thế giới là một ô nhục cho nhân loại ngày nay. Nhưng không riêng gì tại các nước nghèo, ngay trong các nước giàu, người ta cũng nói đến những hình thức nghèo đói và thiếu ăn mới, đó là nghèo đói tình người: con người có thể có một bộ óc phát triển hơn, một thân thể cường trán hơn, nhưng trái tim thì lại mỗi ngày một nhỏ lại. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, vì Ngài xót thương đám đông đi theo Ngài. Ngài xót thương họ không những vì họ đang đói khát cơm bánh thể xác, mà còn vì nỗi đói khát tinh thần. Phép lạ bánh hóa nhiều không phải là một giải pháp tạm thời xoa dịu cơn đói khát, mà là một lời mời gọi, một khơi dậy về một chiều kích vượt trên những nhu cầu thể lý. Bên kia cơm bánh nuôi thể xác, Chúa Giêsu mời gọi con người hướng về một của ăn không hư nát là sự sống thần linh, sự sống làm cho con người biết yêu thương quảng đại hơn. Giàu tình người, giàu lòng quảng đại, giàu tình liên đới, đó là sự giàu có đích thực, và với sự giàu có ấy, phép lạ của Chúa Giêsu không ngừng được tiếp diễn, và lúc đó, cái đói khát thể xác mới được xóa bỏ và kiếp nghèo mới được hạ giảm. Bữa tiệc cánh chung mà chúng ta đang chờ mong trong suốt Mùa Vọng , phải được chuẩn bị từ những bữa ăn tinh thần cũng như vật chất cho những người nghèo hôm nay. Sống Mùa Vọng là lưu tâm đến bao người thiếu ăn ở quanh ta. Và dù chỉ có mấy cái bánh, ta vẫn tin có thể bẻ ra để nuôi được họ. Amen!

THỨ BA SAU CN I VỌNG C :Lc 10,21-24

Sau những ngày truyền giáo vất vả cực nhọc, các môn đệ trở về quây quần bên Chúa. Họ đem theo những thành tích để khoe với Ngài. Họ trình Chúa: “Thưa Thày, nhân danh thày thì cả ma quỉ cũng phải lụy phục chúng con”. Chúa bảo họ: “chớ vui mừng vì điều đó, mà hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời”. Sự thành công và niềm vui của 12 môn đệ được ghi tên trên trời làm Chúa vui theo và hơn bao giờ hết, Ngài rất hãnh diện về đám học trò cưng của mình. Biểu hiện niềm vui và sự hãnh diện ấy, Ngài đã thốt lên lời tán tụng tạ ơn Thiên Chúa Cha : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan biết những điều ấy, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” .
Thật vậy, lần giở trong TM chúng ta thấy: Thiên Chúa đã giấu mầu nhiệm nước trời đối với những người tự cho mình khôn ngoan tài trí. Ngài đã không lựa chọn ai trong số công chúa hoàng cung làm mẹ. Thiên Chúa đã không ban quyền cho nhóm biệt phái pharisiêu hay Hêrôdê làm tông đồ, nhưng Ngài đã chọn những kẻ bé mọn. Vậy Kẻ bé mọn đó là ai ?
Trước hết, kẻ bé mọn là những người có một tấm lòng ngay lành, không thay đổi, không bất trung bội nghĩa. Người có lòng ngay được gọi là thiên tử, là con Thiên Chúa (Mt 5,9), được ở với Thiên Chúa, được thấy dung nhan Chúa. Người có lòng ngay là người phản ảnh Thiên Chúa là Đấng chân thật. Người có lòng ngay là người có đời sống trong sạch, biết dứt khoát từ bỏ tội lỗi, sống thành thực không lừa dối anh em.
Tiếp đến, kẻ bé mọn được hiểu là những ai có tinh thần trẻ thơ. Chúa nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, vì nước trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14). Nên giống như trẻ thơ vì trẻ thơ có sự ngây thơ trong trắng như thiên thần. Trẻ thơ như tờ giấy trắng, muốn viết gì lên đó cũng được. Trẻ thơ dễ dàng chấp nhận bất cứ điều gì cha mẹ răn bảo. Bảo sai chúng biết sai, bảo đúng chúng cho đúng. Trẻ thơ có gì cũng khoe và đem gửi cha mẹ như là một nơi vững chắc nhất. Trẻ thơ biết mình yếu đuối và thiếu thốn. Chúng không thể có gì tự vệ ngoài cha mẹ. Tuổi thơ lo học hành không đua đòi nhác nhớn. 
Nhưng trong thực tế cuộc sống ngày hôm nay: cha phải nói một cách rất thật lòng với thiếu nhi chúng con rằng: thiếu nhi chúng con hiện tại không còn giống như trẻ thơ Do Thái mà Chúa sánh ví trong TM nữa rồi. Bởi vì, TN chúng con hôm nay ít còn có tâm hồn đơn sơ trong trắng ngay thẳng, thật thà. Nhiều bạn trong chúng con đang tập tành làm người lớn. Hay nói cách khác, hôm nay chúng con đã tự đánh mất tuổi thơ của chúng con. 
Chúng con yêu quý! Chúa rất thích những tấm lòng nhỏ bé đơn sơ, cho nên, trong mùa Vọng năm nay, chúng con hãy quyết tâm cố gắng để tìm lại chính chúng con, tìm lại tuổi thơ hồn nhiên dễ thương ngày nào, để được người lớn và chính Chúa chúc lành và yêu thương.
Và kính thưa quý ông bà anh chị em!Mùa Vọng năm nay, xin cho mỗi người chúng ta biết sống khiêm tốn, sống cậy trông và phó thác cho Chúa, Đấng mà chúng ta đang trông chờ đến để giải thoát chúng ta khỏi ách của Satan và sự dữ. Chính vì thế mà lời cầu nguyện thích hợp nhất của mùa Vọng là "Lạy Chúa Xin hãy đến".
Lạy Chúa Giê-su ! Chúng con tin Chúa là Chúa tể vũ trụ. Chúng con tin Chúa là Đấng Emanuel đã đến trần gian để ở cùng chúng con. Chúa đã đến mạc khải Nước trời cho những kẻ bé mọn. Chúa đã chấp nhận mục nát đời mình trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người. Chúng con xin tạ ơn và chúc tụng Chúa. Xin ban cho chúng con quả tim đơn sơ như trẻ nhỏ, sẵn sàng đón nhận những gì Chúa ban tặng cho chúng con, và xin cho chúng con can đảm phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng con xin được nép mình bên Chúa như trẻ thơ nép mình trong vòng tay của mẹ. Amen.

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

THỨ BA TUẦN 1 MÙA VỌNG B( 01.12.2015)

 Lc 10, 21-24
Khi ấy, được Thánh Thần tác động, Ðức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Rồi Ðức Giêsu quay lại với các môn đệ và bảo riêng: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Suy niệm:
Chuyện kể rằng: Ở một vùng đất nọ có một nhà hiền triết nổi tiếng là khôn ngoan và thánh thiện, người dân trong vùng ai có vấn đề gì chưa thông hiểu hay không giải quyết được đều đến thỉnh ý của nhà hiền triết và khi ra về lòng họ luôn vui mừng hân hoan vì nhận được những chỉ dẫn, những lời khuyên bổ ích. Tiếng tăm về nhà hiền triết tài đức ngày một lan rộng nên có nhiều người đến tìm gặp ngài.
Nghe biết sự tình như thế, một giáo sư trong vùng mới đâm nghĩ bụng: ta phải đến thỉnh giáo người mà thiên hạ đồn đại là khôn ngoan để xem sự thật thế nào.
Tiếp vị giáo sư trong một ngôi nhà ấm cúng, sau một vài câu hỏi chào thăm, nhà hiền triết mới mời vị giáo sư dùng trà. Khi rót trà, nhà hiền triết cứ rót mặc cho ly nước đã đầy để nước chảy tràn ra ngoài. Vị giáo sư mới thầm nghĩ rằng: “người mà thiên hạ  cho là bậc khôn ngoan hoá ra chỉ là một ông già lẩn thẩn, đãng trí”. Không thể chịu nỗi vị giáo sư mới thốt lên: “ Thưa ông, ly nước đã đầy, sao ông có thể rót thêm được nữa”. Lúc này, nhà hiền triết mới dừng lại và bình thản nói: đúng thế, ly trà đã đầy sao có thể rót thêm được. Giống như ly trà, Ông đến với tôi khi lòng chất đầy thành kiến và kêu ngạo thì làm sao tôi có thể nói với ông về những triết thuyết của tôi”.
 Câu chuyện kể trên không mấy khó để mỗi người chúng ta rút ra cho mình bài học nhân bản là cần lắm sự chân thành, khiêm nhu, đơn sơ trước người khác và trước cuộc sống. Lẽ đời vốn dĩ luôn quý chuộng những con người mặc lấy cho mình tâm tình như thế và ngược lại, thói kêu căng tự phụ cho dẫu là ai đi chăng nữa đều đáng khinh chê, lên án.
Tin Mừng ngày hôm nay cũng đã nói lên điều đó, khi Đức Giê-su lòng đầy hoan hỷ trong Thánh Thần đã thốt lên: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen cha vì cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những mầu nhiệm nước trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mon. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha".
Trước tiên, người bé mọn Chúa Giê-su muốn nói đến là ai? Một câu trả lời dễ dàng khi soi dọi vào bối cảnh của  đoạn Tin Mừng hôm nay đó là  các môn đệ nói riêng và những người mặc lấy thái độ khiêm nhường, biết lắng nghe lời Chúa nói chung. Đoạn Tin Mừng tường thuật lại việc các ông trở về lòng đầy hân hoan vì nhân danh Đức Giêsu mà họ chữa được các bệnh tật, trừ được quỷ. Niềm tin nhưng không mà Thiên Chúa mặc khải cho các ông cần lắm thái độ khiêm nhường, tín thác, đơn sơ vì họ xác tín rằng chính quyền năng Thiên Chúa đã làm những việc ấy và họ chỉ là những khí cụ để Thiên Chua thi thố tình thương của Nnười mà thôi.
Cũng thế, những bậc khôn ngoan thông thái mà Chúa ám chỉ không ai khác chính là những kinh sư, những Pharisêu, những nhà thông luật cho rằng mình thông minh, thuộc luật Môsê và đã đủ khôn ngoan để cầm nắm chìa khoá của sự trường cửu. Đó là những nhà thông thái chỉ gói gọn trong bối cảnh Tin Mừng nhưng sâu xa hơn, đó có thể còn có tôi và có bạn khi chúng ta với một chút kiến thức cỏn con đã huyênh hoang, kêu ngạo cho mình là nhất , đã thấu hiểu lẽ đời, muốn làm thầy thiên hạ, xem người khác bằng nữa con mắt... thái độ ấy chẳng phải như vị giáo sư ở câu chuyện trên ư, chẳng phải chính chúng ta cũng thấm nhiễm men Pharisêu, men kinh sư biệt phái ư. Thái độ ấy, chưa xét đến giá trị Tin Mừng, chỉ xét đến đạo đức luân thường xã hội thôi cũng đáng bị lên án.
Thánh Phaolô trong thư gửi đến giáo đoàn Cô-rin-tô cũng nhắn nhủ những tâm tình ấy khi ngài nói: "Những gì thế gian cho là điên dại thì  Thiên Chúa đã chọn để hạ gục những kẻ khôn ngoan và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ gục những kẻ hùng mạnh, những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì đã có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người" (1Cr 1, 27 - 29).
Dừng lại giây lát để suy xét  một vấn đề là chúng ta không thể đem thước đo giá trị của con người để mặc định cho Thiên Chúa trong việc nhận định tốt xấu đúng sai, nhưng thiết nghĩ, Thiên Chúa luôn yêu quý những tâm hồn đơn sơ, chân thành lắng nghe lời Chúa hơn là những người tự coi mình là thầy dạy của thiên hạ. Điều này được minh chứng khá rõ khi Chúa tỏ mình ra cho Ba Vua, khi gọi Lêvi- người thu thuế, khi ghé nhà GiaKêu- một người giàu có, khi trò chuyện cùng Nicôđêmô - một kinh sư lỗi lạc trong dân Do Thái. Cần phải minh định điều cốt lõi ở đây là, không phải Thiên Chúa là đấng thiên tư tây vị, chỉ yêu chuộng những người nghèo khổ, đơn sơ, bần hàn, mà lại “ngó lơ” những người khôn ngoan, thông thái, giàu có mà chính xác là Chúa yêu chuộng những tâm hồn đơn sơ, chân thành và khiêm nhường dẫu cho họ là người thông thái hay không thông thái, cao sang hay bần hàn, giàu có hay nghèo khó, cốt lõi là thái độ đón nhận Lời Chúa như thế nào.
Xin được mượn lời thánh vịnh 130 (131) để thể hiện thái độ đơn sơ, khiêm hạ trước Thiên Chúa Tình Yêu.
Lòng con chẳng dám tự cao
Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi!
Đường cao vọng chẳng đời nào bước,
Việc diệu kì vượt sức chẳng cầu;
Hồn con con vẫn trước sau
Giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình.
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
Trong con hồn lặng lẽ yên vui.
Cậy vào Chúa Israel ơi,
Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm
Bước vào Mùa vọng – mùa của sự trông đợi, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình đơn sơ, khiêm nhu, chân thành để thực sự khao khát, mong chờ Chúa đến bằng tất cả tâm hồn, chứ không phải là một thái độ hờ hững, xem thường biến cố Giáng Sinh  như một sự luân chuyển thường niên của năm phụng vụ. Hãy khiêm nhường tạ ơn Chúa vì hồng ân Đức Tin mà Chúa đã mặc khải cho chúng ta. Hãy Mặc lấy sự khiêm hạ, chân thành để lắng nghe, đón nhận Lời Chúa vì Chúa luôn yên mến những tâm hồn bé nhỏ, đơn sơ và khiêm nhu. A-men.
Phaolô Lê Quốc Bảo SDB


Chúa Nhật II Mùa Vọng, C (Lu-ca 3: 1-6)



          Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng giới thiệu Chúa Giê-su là Con Người sẽ đến xét xử trần gian và sứ điệp của Người kêu gọi ta phải chuẩn bị đón tiếp Người, hôm nay Phụng vụ Lời Chúa trình bày một gương mẫu đáp lại sứ điệp của Chúa:  ông Gio-an Tiền hô.  Ông mời gọi người ta chuẩn bị đón tiếp Chúa.  Nhưng lời mời gọi ấy lại chính là những điều ông đã sống và giờ đây ông đem chia sẻ với mọi người.  Vậy ông Gio-an là ai và sứ điệp của ông là gì?

1)  Thân thế và sứ mệnh của ông Gio-an Tiền hô

          Trước khi viết về sứ mệnh của ông Gio-an Tiền hô, thánh sử Lu-ca đã ghi lại bối cảnh lịch sử xã hội và tôn giáo thời ấy.  Các lãnh tụ đời cũng như đạo đều được nhắc tới. Đây không chỉ là cách viết của một sử gia nói có sách mách có chứng, nhưng hơn thế nữa, thánh Lu-ca còn muốn trình bày một bối cảnh mà ông Gio-an sẽ thi hành sứ mệnh là kêu gọi người ta hối cải, nghĩa là cần phải đổi mới cả hai phương diện xã hội cũng như tôn giáo.
          Thân thế của ông Gio-an đã được nói đến trong Tin Mừng Lu-ca, chương 1.  Cuộc ra đời của em bé Gio-an mang những nét đặc biệt, cho thấy bàn tay Thiên Chúa can thiệp rõ ràng.  Mẹ em có thai trong tuổi già.  Cha em bị câm một thời gian vì hoài nghi lời sứ thần Gáp-ri-en tiên báo.  Mới là một bào thai, em bé đã biết nhảy mừng trong bụng mẹ khi bà đến viếng thăm Mẹ Ma-ri-a.  Ngay việc đặt tên cho em cũng khác thường, không phải bằng cái tên của họ hàng muốn đặt cho, nhưng cái tên Gio-an do thiên sứ truyền cho ông Da-ca-ri-a phải đặt.  Càng lớn lên, tinh thần cậu bé “càng vững mạnh”.  Khi lớn khôn, “cậu sống trong trong hoang địa, cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en”.
Trong hoang địa, Gio-an lãnh nhận sứ mệnh từ Thiên Chúa và ông chọn lựa một địa bàn hoạt động cũng rất khác thường, là “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.  Ta thử tưởng tượng mình sống vào thời ấy để thấy ông Gio-an thi hành sứ mệnh.  Phương tiện giao thông chỉ là đôi chân dày dạn.  Thế mà ông Gio-an đã đi khắp vùng ven sông Gio-an, đến các làng mạc chung quanh để rao giảng về sự sám hối.  Kèm theo lời giảng, ông chọn lựa một nghi thức để giúp người ta biểu lộ tâm tình sám hối, đó là phép rửa.  Mục đích sứ mệnh của ông là làm sao giúp người ta sẵn sàng “để được ơn tha tội”.  Ông ý thức rõ ràng phép rửa của ông chỉ là một nghi thức dùng nước để giúp người ta ý thức tình trạng tội lỗi của họ thôi, vì nước không thể rửa sạch tội lỗi cho ai được.  Chỉ có Đấng đến sau ông là Đức Ki-tô mới “làm phép rửa trong Thánh Thần” (Mc 1:8), nghĩa là chỉ Đức Ki-tô mới có thể tẩy rửa tội lỗi ta trong công trình cứu độ của Người.  Do đó, sứ mệnh của ông Gio-an là làm tiếng hô kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.

2)  Sứ điệp sám hối

          Dọn đường cho Đức Chúa đến, lối cho Người đi vào tâm hồn ta là mục tiêu của sứ điệp Gio-an.  Nhưng nếu đường đã bị cắt, lối đã bị ngăn thì làm sao Chúa đến với ta được. Chúa không độc đoán dùng quyền năng của Người bắt ta phải để cho Người đến với ta, trái lại Người muốn có một cuộc gặp gỡ đồng tình, do ý muốn của đôi bên.  Nếu Người đã xếp bỏ thời gian và không gian vô biên của Thiên Chúa lại để chấp nhận chịu hạn hẹp trong thời gian và không gian của loài người qua Đức Ki-tô mà đến với ta, thì Người cũng mong ta hãy phá bỏ đi những giới hạn tâm hồn của ta để mở lòng cho Người tới.  Ngôn sứ I-sai-a đã dùng những hình ảnh thật quen thuộc để mô tả những giới hạn tâm hồn ấy.  Đó là thung lũng, núi đồi, quanh co, lồi lõm.  Đối với kỹ thuật và cơ giới hiện nay, thực hiện một con đường tại nơi gặp những trở ngại như trên không còn là vấn đề khó khăn.  Máy móc tối tân có thể giúp người ta xây một xa lộ trong thời gian thật ngắn.  Nhưng người ta lại bó tay không thể làm một con đường dẫn Chúa vào tâm hồn một người không muốn có sự thay đổi nào.
          Ông Gio-an chỉ lập lại sứ điệp của ngôn sứ I-sai-a thôi.  Sứ mệnh của ông quả đơn giản, là kêu gọi mỗi người hãy tự mình dọn đường lối cho Chúa đến.  Đúng vậy, ngoài Chúa ra, ai có thể biết rõ được tâm hồn người khác.  Mà giả như người khác có biết được những thung lũng, núi đồi, quanh co và lồi lõm của tâm hồn ta, thì họ cũng chẳng có thể làm gì hơn ngoài việc nhắc nhở ta sửa đổi.  Ông Gio-an đã đem cả cuộc đời để làm công việc đơn giản là nhắc nhở kêu gọi người ta. Tiếng hô của ông trong hoang địa đã vượt biên tới tận kinh thành Giê-ru-sa-lem.  Mọi người mọi giới đạo đời đã đến xin ông cho biết họ phải làm gì.  Có nhiều người làm theo lời chỉ dạy.  Nhưng cũng có nhiều người chẳng những không muốn nghe mà còn muốn dập tắt tiếng hô của ông.  Ông chấp nhận mọi thử thách và cả cái chết đau thương để chu toàn sứ mệnh nhắc nhở ấy.

3)  Những Gio-an Tiền hô hôm nay

          Khi đem sứ điệp sám hối đến cho dân chúng, bản thân ông Gio-an đã sống sứ điệp ấy.  Ông từ bỏ đời sống dễ dãi tiện nghi của thành phố và những tham vọng để chọn lối sống trong hoang địa, giống như lấp đầy đi cái thung lũng tham sân si của ông.  Ông bạt phẳng núi đồi kiêu căng ganh tị ngấm ngầm trong lòng, để xác tín chỗ đứng của ông sau Chúa Giê-su:  “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người”.  Ông cũng không quanh co đánh lận con đen, vỗ ngực nói với dân chúng đang ngưỡng mộ ông:  Tôi chính là Đấng Mê-si-a đây! (xem Lc 3:15).
          Mẫu người Gio-an đã lấy đời mình làm sứ điệp, làm tiếng hô sám hối.  Ki-tô hữu hôm nay cũng ý thức sứ mệnh làm sứ điệp sám hối.  Ta sống tinh thần sám hối, thay đổi và phá bỏ đi những trở ngại tâm hồn, để từ đó ta sẽ trở thành một tiếng hô cho gia đình, xã hội và thế giới.  Kinh nghiệm cho ta biết rất nhiều bậc cha mẹ không thể bảo ban dạy dỗ con cái được, là vì “tiếng hô” của họ rỗng tuyếch, không có cơ sở bởi đời sống gương mẫu.
          Trong viễn tượng truyền giáo, ta không thể mời gọi anh chị em chưa được biết Chúa đón nghe Tin Mừng nếu chính đời sống của ta không phản ảnh những giá trị Tin Mừng. Ta không thể nói với họ về bác ái, yêu thương, nếu chính ta thiếu lòng bác ái yêu thương.  Ta không thể loan báo cho người khác biết Chúa đến cứu độ ta, nếu ta chưa cho họ thấy con đường Chúa đến với ta đã được chuẩn bị sẵn sàng.

4)  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Tất cả cuộc sống Ki-tô hữu là một hành trình sám hối không ngừng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô.  Vậy tôi đang trên hành trình ấy hay vẫn giậm chân tại chỗ? Tôi có ý thức sứ điệp Tin Mừng của Chúa Ki-tô cũng bắt đầu bằng việc kêu gọi sám hối không?  Tôi đọc Mác-cô 1:15 hoặc Mát-thêu 4:17 và trả lời Chúa.
          Những điểm xấu và tiêu cực nào trong tâm hồn tôi được ví như thung lũng, đồi núi, quanh co, lồi lõm?  Tôi có một vài phương thức cụ thể nào để thay đổi chúng, đặc biệt trong mùa Vọng này?

Cầu nguyện

          “Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đến.
          Xin đừng mỉm cười mà nói rằng
          Chúa đã ở bên chúng con rồi.
          Có cả triệu người chưa biết Chúa.
          Nhưng biết Chúa thì được cái gì?
          Chúa đến để làm gì
          nếu đời sống con cái của Chúa cứ tiếp tục y như cũ?
          Xin hoán cải chúng con.
          Xin lay chuyển chúng con.
          Ước gì sứ điệp của Chúa
          trở nên máu thịt của chúng con,
          trở nên lẽ sống của cuọâc đời chúng con.
          Ước gì sứ điệp đó
          lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự tại,
          và đòi buộc chúng con,
          làm chúng con không yên.
          Bởi lẽ chỉ như thế,
          sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con
          bình an sâu xa,
          thứ bình an khác hẳn,
          đó là Bình An của Chúa.”
-          Helder Camara
(Trích RABBONI, lời nguyện 11)


Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Thứ Hai sau Chúa Nhật I Mùa Vọng – Năm C

 Lời Chúa: Mt 4, 18-22
“Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người” (Mt 4, 19 -20).
Thánh Matthêu thuật lại việc Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên. Trình thuật này gợi lên hai yếu tố căn bản của tất cả các ơn gọi. Một đàng, việc Chúa cất tiếng gọi “Hãy theo Thầy” nói lên sự chủ động và ưu ái của Chúa đối với những người được gọi. Đàng khác, sự đáp trả lập tức của môn đệ Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gioan nói lên thái độ quảng đại và sự từ bỏ cần có nơi môn đệ của Đức Giêsu. Họ cần từ bỏ tất cả để Chúa huấn luyện họ trở thành “kẻ chài lưới người” chuyên nghiệp cho Ngài. Khi nhận ra mình được Chúa Giêsu yêu thương và chọn gọi, các môn đệ đã đáp lại cách trọn vẹn, không phải một lần nhưng là trải dài suốt mọi biến cố trong cuộc đời. Đỉnh cao của lời đáp trả này là việc các ngài đã chọn cách chết như Thầy, chết cho người khác được sống đời đời.
Nếu xưa Chúa đã đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê để kêu gọi các môn đệ thì nay Chúa cũng đang đi dọc theo biển đời để mời gọi con người tiếp nối việc rao giảng Tin Mừng. Xưa Chúa đã hiện diện cách thể lý và gọi đích danh người được chọn thì nay Chúa vẫn đang hiện diện nơi Giáo Hội qua các vị đại diện của Ngài và cất tiếng gọi đối với những người Chúa muốn. Giữa một thế giới nhiều tiếng vẫy gọi như ngày hôm nay, tiếng Chúa gọi dường như xa lạ với nhiều người. Số bạn trẻ nghe và đáp lại tiếng Chúa đang ít dần. Chúa muốn mỗi người chúng ta đáp lại lời Ngài cách dứt khoát và trọn vẹn, không phải một ngày nhưng là mọi ngày trong đời ơn gọi của ta. Chúa muốn ta chu toàn ơn gọi của mình qua từng công việc và từng biến cố trong mỗi ngày sống. Nếu ta ví ơn gọi của ta như một đường thẳng thì những ngày sống vâng theo thánh ý Chúa nơi ta sẽ là những dấu chấm liên tục tạo nên đường thẳng đó. Dấu chấm đậm thì đường thẳng rõ, dấu chấm nhạt thì đường thẳng mờ. Khi có một đường thẳng rõ thì ta dễ dẫn mọi người đến với Chúa hơn.
Lạy Chúa Giêsu, Giáo Hội của Chúa luôn cần những vị tông đồ thiện toàn để mở rộng Nước Chúa. Xin cho chúng con và nhiều bạn trẻ hôm nay biết noi gương các môn đệ của Chúa biết quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi cách dứt khoát và trọn vẹn. Xin cho chúng con dám buông mình cho Chúa đào luyện để mai này trở thành những môn đệ như lòng Chúa ước mong.


Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

THỨ HAI 30.11 - THÁNH ANRÊ TÔNG ĐỒ, Lễ kính

Rm 10:9-18; Mt 4:18-22

Lời Chúa: Mt 4, 18-22
Khi ấy, Đức Giêsu đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là Simon, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. Ði một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
TRỞ NÊN NGƯỜI MÔN ĐỆ
Thánh Anrê xuất thân từ Bếtsaiđa và là ngư phủ. Theo Tin mừng Gioan, đầu tiên ngài là môn đệ của Gioan Tẩy Giả; sau khi nghe lời giới thiệu của thầy về “Chiên Thiên Chúa”, ngài theo Đức Giêsu, trở thành môn đệ và thuộc vào nhóm Mười Hai.
Thánh sử Mátthêu thuật lại niềm tin và sự đáp trả của tông đồ Anrê khi được Đức Giêsu gọi đi theo Người làm môn đệ. Từ đấy cuộc đời của Anrê thay đổi hoàn toàn. Anrê đã dành trọn cuộc đời cho ơn gọi theo Chúa. Từ một ngư phủ trở thành người nhiệt tâm rao giảng Tin mừng cho muôn dân.
Thánh Anrê minh chứng lòng trung thành với sứ mạng ấy bằng giá máu của mình, nhờ đó Tin mừng cứu độ được đến với muôn dân muôn nước. Noi gương thánh Anrê, chúng ta có sẵn sàng loan báo Tin mừng cứu độ cho anh chị em bằng đời sống chứng tá của người môn đệ Đức Kitô?
Lạy Chúa, xin nhận lời thánh Anrê cầu thay nguyện giúp mà củng cố niềm tin của chúng con, để chúng con cũng chia sẻ niềm tin của mình cho những người chúng con gặp gỡ.


Gr 33:14-16; 1 Tx 3:12 – 4,2; Lc 21:25-28.34-36
Lời Chúa: Lc 21, 25-28.34-36
Ðức Giêsu nói về ngày Quang lâm của Người rằng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc. Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.”
NGÀY CON NGƯỜI ĐẾN
Vừa đưa bàn tay mặt nắm chặt lấy tay trái, thánh Hialariô (+371) vừa khẩn thiết kêu xin Chúa và tuyên xưng vào cuộc sống mai sau. Ngài là một thầy dòng khổ tu tại Palestin chuyên cầu nguyện và hy sinh khổ hạnh. Nhưng đến giờ phút cuối cùng, trước khi nhắm mắt, giờ Chúa gọi, ngài đã phải đương đầu với một chước cám dỗ nặng nề dường như ngã lòng trông cậy, khiếp sợ tòa phán xét nên đã phải cầu nguyện tha thiết. Về phần mình, chúng ta có luôn sẵn sàng đón chờ Chúa đến trong từng giây phút của cuộc đời?
Bài Tin mừng hôm nay là một trong những diễn từ cánh chung của Đức Giêsu và được viết theo lối văn khải huyền. Người đến để tiêu diệt tử thần và giải cứu con người thoát khỏi bóng tối của sự chết. Vì thế, giáo huấn của Người mời gọi các tín hữu phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn để tránh xa mọi thói hư tật xấu, cám dỗ của thế gian.
Danh hiệu Con Người được Đức Giêsu chọn để ám chỉ bản thân Người, nhằm biểu lộ sứ mệnh thiên sai của Người. Tước hiệu Con Người có hai ý nghĩa khác nhau: Một là muốn nói đến “Người Tôi trung của Thiên Chúa” sẽ phải chịu đau khổ để đền tội thay cho nhân loại; hai là Chúa Con sẽ được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, và sẽ quang lâm vào ngày sau hết trong cương vị Thẩm Phán tối cao mà xét xử thế gian và “thiết lập một vương quyền vĩnh cửu”.
Cụm từ “Ngự trong đám mây mà đến” cho biết Đức Giêsu sẽ ngự đến trong uy quyền và vinh quang của Thiên Chúa. Thế nên, “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” là thái độ sẵn sàng, hân hoan, tràn đầy niềm hy vọng của các tín hữu vì sắp nhận được ơn cứu độ.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết “tìm gặp Chúa” trong mọi ơn lành Chúa ban, trong các bí tích, trong các việc lành và trong mỗi anh chị em, để vào ngày Chúa viếng thăm, chúng con sẽ được gặp Chúa.



Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô Theo Thánh Luca. (Lc 21, 25-28.34-36)
25 "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc." 34 "Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em,35 vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất.36Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người."
SUY NIỆM
Quyền lực của sự dữ làm cho con người khom lưng, đi bằng đầu gối, cúi rạp người, sấp mặt, sợ hãi và rồi tuân phục và làm theo những gì nó sai khiến. Lời tiên báo của Chúa Giêsu làm cho chúng ta hình dung nên cảnh sợ hãi và hỗn loạn trong ngày cánh chung. Nhiều người sẽ hồn siêu phách lạc và không dám mở mắt lên xem. Lời tiên báo của của Chúa Giêsu làm chúng ta liên tưởng đến sự cưỡng bức bằng quyền lực thống trị, đến sự cường quyền và bạo lực gây ra sợ hãi trong nhân loại suốt chiều dài lịch sử hiện diện của con người chúng ta. Nhiều người vì cường quyền mà chấp nhận làm tay sai, nhiều người vì ham danh hám lợi mà đánh mất nhân cách và nhân phẩm, nhiều người vì ma lực của đồng tiền mà cúi gầm mặt và chấp nhận đánh mất lương tri. Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy đầy dẫy những trò lố như thế và chúng ta chê cười. Những người đã sa vào trận đồ của quyền lực tối tăm ma quỷ ấy rõ là không thể ngẩng mặt lên với đời và mãi mãi cúi sấp mặt với lịch sử. Nó như một bài học để răn dạy hậu thế. Sống là phải cao thượng, sống phải vì chính danh và sống trên hết phải lương thiện. Chúa Giêsu bảo: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. Đứng thẳng và ngẩng đầu là tư thế của người công chính, không vì cường quyền mà sợ hãi, không vì áp bực mà trở nên xu nịnh, không vì ma lực của tiền bạc mà đánh mất lương tri, cúi rạp mình để bạo quyền và tư lợi làm chủ.
Người công chính thì chọn Chúa làm cùng đích và họ không sợ gì ngoài Chúa. Người bất chính thì bán mình cho quyền lực sự dữ và chấp nhận nô lệ cho những vinh hoa của nó mang lại.
Lạy Chúa, nhiều cám dỗ biết bao giữa cuộc đời, nhưng xin cho chúng con chọn Chúa làm lẽ sống của con. Amen.   



Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô Theo Thánh Luca. (Lc 21, 25-28.34-36)
25 "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc." 34 "Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em,35 vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất.36Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người."
SUY NIỆM
Quyền lực của sự dữ làm cho con người khom lưng, đi bằng đầu gối, cúi rạp người, sấp mặt, sợ hãi và rồi tuân phục và làm theo những gì nó sai khiến. Lời tiên báo của Chúa Giêsu làm cho chúng ta hình dung nên cảnh sợ hãi và hỗn loạn trong ngày cánh chung. Nhiều người sẽ hồn siêu phách lạc và không dám mở mắt lên xem. Lời tiên báo của của Chúa Giêsu làm chúng ta liên tưởng đến sự cưỡng bức bằng quyền lực thống trị, đến sự cường quyền và bạo lực gây ra sợ hãi trong nhân loại suốt chiều dài lịch sử hiện diện của con người chúng ta. Nhiều người vì cường quyền mà chấp nhận làm tay sai, nhiều người vì ham danh hám lợi mà đánh mất nhân cách và nhân phẩm, nhiều người vì ma lực của đồng tiền mà cúi gầm mặt và chấp nhận đánh mất lương tri. Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy đầy dẫy những trò lố như thế và chúng ta chê cười. Những người đã sa vào trận đồ của quyền lực tối tăm ma quỷ ấy rõ là không thể ngẩng mặt lên với đời và mãi mãi cúi sấp mặt với lịch sử. Nó như một bài học để răn dạy hậu thế. Sống là phải cao thượng, sống phải vì chính danh và sống trên hết phải lương thiện. Chúa Giêsu bảo: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. Đứng thẳng và ngẩng đầu là tư thế của người công chính, không vì cường quyền mà sợ hãi, không vì áp bực mà trở nên xu nịnh, không vì ma lực của tiền bạc mà đánh mất lương tri, cúi rạp mình để bạo quyền và tư lợi làm chủ.
Người công chính thì chọn Chúa làm cùng đích và họ không sợ gì ngoài Chúa. Người bất chính thì bán mình cho quyền lực sự dữ và chấp nhận nô lệ cho những vinh hoa của nó mang lại.
Lạy Chúa, nhiều cám dỗ biết bao giữa cuộc đời, nhưng xin cho chúng con chọn Chúa làm lẽ sống của con. Amen.