Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

NGÀY 17.12.2015 GIA PHẢ ĐỨC GIÊSU KITÔ


Mt 1,1 – 17
Một ông vua có vị tướng rất giỏi. Khi vị tướng trở thành Kitô hữu thì ông ấy thường làm chứng niềm tin về Đấng Cứu Thế đã đến thế gian. Nhà vua không hiểu được nên đã nói: - Trẫm là vua, nếu muốn thi hành điều gì thì chỉ cần truyền lệnh cho thần dân là đủ. Lẽ nào Đức Kitô là Vua trên các vua mà lại tự hạ mình xuống thế gian này? Điều đó thật vô lý.
Nhà vua muốn cho vị tướng về vườn, vì tội tin theo Đức Kitô, nhưng có lòng yêu mến ông nên vua hứa nếu ông giải nghĩa rõ thì sẽ được tha tội. Vị tướng xin sau 24 giờ sẽ giải thích. Ông bèn sai thợ mộc làm một tượng gỗ và cho mặc quần áo giống y hoàng thái tử mới 2 tuổi. Ngày hôm sau, vua cỡi thuyền rồng dạo chơi trên sông. Vị tướng ra hiệu cho người thợ mộc ném cái tượng gỗ ấy xuống nước. Vua ngồi trên thuyền thấy tượng gỗ rơi tưởng là con mình ngã xuống sông, không kịp hỏi ai, vua liền nhảy ùm xuống nước, bơi ra cứu con.
Vị tướng bèn hỏi vua: -Sao vua không sai đầy tớ nhảy xuống vớt hoàng thái tử, mà lại là chính vua, đến nỗi gần chết đuối và ướt hết long bào. Vua trả lời: -Đó là do lòng thương.
Vị tướng liền tâu: -Thiên Chúa là Đấng dựng nên thần, nên đức vua và muôn vật, cũng không đành lòng sai ai xuống để cứu thế; nhưng vì yêu thương, nên Ngài đã từ trời để xuống trần gian mà cứu vớt ta. Đó cũng là do nơi lòng thương ta vậy.
Kính thưa…Bắt đầu tuần Bát Nhật, từ 17.12 cho đến 24.12, Giáo hội dành ra các bài đọc trong thánh lễ được tuyển chọn cách đặc biệt để chuẩn bị gần cho lễ Giáng Sinh và giới thiệu những nhân vật có liên hệ trực tiếp tới cuộc Giáng Sinh này.
Bài Tin mừng hôm nay trình bày Đấng sắp sinh ra chính là Con Thiên Chúa nhập thể, Ngài đã đi vào dòng lịch sử nhân thế để từ đó sẽ cứu chuộc loài người.
Chúa đã thực hiện việc cứu chuộc loài người bằng những gì loài người không thể ngờ được. Chúa đã không cứu loài người từ trời cao. Dĩ nhiên là Ngài có thể và dư uy quyền để làm được việc đó. Để cứu loài người Chúa đã nhập thể và nhập thế để từ đó Chúa đưa loài người sa ngã đứng lên.
Chúng ta thấy cứu một người sắp chết đuối bằng cách từ trên bờ thảy cho người đó một chiếc phao, dĩ nhiên không có ý nghĩa cho bằng chính mình nhảy xuống nước để cứu người đang chết đuối lên bờ. Và chính Thiên Chúa đã làm như thế.
Ngoài ra Tin mừng hôm nay còn cho biết: qua những nhân vật bất xứng trong gia phả, ta nhận thấy Thiên Chúa có thể nhìn đến và sử dụng ta, không gì có thể cưỡng lại ý định của Chúa, dù nó là quá khứ đen tối hay sự bất toàn của ta.
Bởi vì trong Đức Kitô, Đấng được xức dầu của Thiên Chúa, những gì hèn hạ đã trở nên cao trọng, những gì xấu xa đã được thanh tẩy, những gì vô nghĩa được mặc một giá trị và những gì trần tục sẽ được thần linh hóa. Chúng ta đừng mặc cảm về những yếu hèn của mình, nhưng hãy tin tưởng và trông cậy để dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa.
Kính thưa…Tuần Bát Nhật trước lễ Giáng sinh có mục đích hướng lòng chúng ta về Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ. Vì thế, qua bản gia phả này, mỗi người chúng ta cảm nhận được tình yêu của Chúa, xác tín và mau mắn hơn nữa trong việc chuẩn bị tâm hồn và đời sống để đón nhận Chúa Kitô, và nhất là trong giờ sau hết của cuộc đời chúng ta. Amen.

Món quà Giáng sinh

Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu, và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh.
Cô sẽ không thể làm gì hơn,chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi. Ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK .
Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên,cô rất hạnh phúc khi ôm “Jim”, James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.
Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.
Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô sáng lên.
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.
Della buớc chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu “Madame Eloise”. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ “Eloise” nào cả.
Della cất tiếng hỏi: “Bà mua tóc tôi không?”
“Tôi chuyên mua tóc mà”, bà ta đáp và bảo: “hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi”
Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.
“Hai mươi đồng” bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.
“Hãy cắt nhanh đi! Và đưa tiền cho tôi” Della nói.
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.
Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: “Mình có thể làm gì với nó đây?”. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. “Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!” Cô tự nhủ “Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?”
Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cái áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: “Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói “giáng sinh vui vẻ”, em có một món quà rất hay cho anh này!”
“Em đã cắt mất tóc rồi à?” Jim hỏi
“Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? Em vẫn là em mà!” Della nói.
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: “Em nói là em đã bán tóc à?”
“Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?”
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: “Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.”
Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc,những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!
Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc. “Tóc em sẽ chóng dài ra thôi, Jim”, nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.
“Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này.”
Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cuời nói: “Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu”
Đó là một câu chuyện cảm động về tình yêu của hai bạn trẻ đã hết lòng yêu nhau.

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng Năm C

Vui Vì Cứu Ðộ
(Sôphônia 3,14-18a; Philip 4,4-7; Luca 3,10-18)

Phúc Âm: Lc 3, 10-18
"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"
Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: "Vậy chúng tôi phải làm gì?" Ông trả lời: "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy". Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?" Gioan đáp: "Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi". Các quân nhân cũng hỏi: "Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?" Ông đáp: "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình".
Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: "Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?" Gioan trả lời cho mọi người rằng: "Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!" Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.
 Suy Niệm:
Các bài Kinh Thánh đọc hôm nay chan chứa vui mừng và hy vọng. Phụng vụ nhờ những bài đọc ấy khuyến khích chúng ta hân hoan sung sướng, làm cho ngày Chúa nhật hôm nay trở thành Chúa nhật màu hồng trong mùa Vọng. Phụng vụ cũng muốn, nếu có thể được hôm nay hãy dùng lễ phục màu hồng thay màu tím. Vì lẽ ngày Chúa đến đã gần. Chúng ta phải vui mừng để phấn khởi lấy đà đi mau hết giai đoạn chót. Do đó hôm nay là dịp thuận lợi để chúng ta suy nghĩ về niềm vui của người Kitô hữu. Chúng ta sẽ nhờ các bài đọc Thánh Kinh để khám phá ra lý do cũng như cách thức vui mừng trong đời sống đạo. Chắc chắn với ba bài đọc ngắn ngủi trong toàn bộ Kinh Thánh rất dày, công việc tìm hiểu niềm vui của Kitô giáo sẽ bị giới hạn. Nhưng chúng ta sẽ có nhiều dịp lễ vui mừng khác, để nhờ những bài đọc Thánh Kinh khác, bổ sung cho những điều chúng ta gặp thấy hôm nay trong sách Sôphônia, trong bài thư gởi giáo đoàn Philip và nhất là trong bài Tin Mừng Luca.
 1. Vui Nhờ Niềm Tin
Có thể nói, ít thời buổi nào lung tung, phập phồng và nhiều sợ hãi như thời của Sôphônia. Ông hoạt động vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7 trước Chúa Giêsu Giáng Sinh. Mảnh đất Do Thái nhỏ bé, quê hương của ông, nay sợ quân phía Bắc xâm chiếm; mai hãi sức ép của quân lực phía Tây Nam. Người ta chưa hết sợ đoàn quân viễn chinh Assyri, đã phải trốn tránh sự trả thù của Haòng đế Ai Cập. Tội nghiệp cho triều đình Giêrusalem nhỏ bé. Người chủ trương liên kết với phía này; kẻ lại tranh đấu để được lòng phía kia. Bất ổn, lung tung, cướp bóc, trả thù, chinh chiến gieo sợ hãi, kinh hoàng, hao mòn và kiệt quệ... cho đến khi Giêrusalem bị dày xéo và dân cư bị đưa đi lưu đày.
Chính trong cảnh tang tóc tuyệt vọng ấy, Sôphônia đã tìm được niềm tin, một niềm tin vững vàng đến nỗi đã thoát thành lời hô vui sướng mà chúng ta đọc hôm nay, Sôphônia làm gương cho tất cả chúng ta. Không bao giờ được nản chí, bỏ mất niềm tin. Không được để cho khó khăn đau thương đè ép được niềm tin cứu độ. Chúa đang đến cứu độ chúng ta, lẽ nào chúng ta không phấn khởi đi trong tinh thần mùa Vọng? Chúng ta hãy để cho lời của Sôphônia luôn vọng đến tai:
Reo vui lên hỡi sư tử Sion; hãy hò la hỡi Israen. Hãy vui mừng, hãy hoan hỉ hết lòng, nữ tử Giêrusalem.
Người nói lên được những lời ấy đã quan niệm sự vui mừng vừa phải thật lòng, vừa phải hân hoan bộc phát ra bên ngoài. Nói cách khác, lòng vui chưa đủ mặt cũng phải vui nữa. Niềm vui khi ấy mới chân thật và hồn nhiên. Cả con người đều vui.
Là vì đây là niềm vui cứu độ. Thiên Chúa xóa mất án phạt trên con người và đuổi xa địch thù hãm hại. Người không đánh phạt tội lỗi chúng ta nữa nhưng đã tha thứ rồi. Người không cho kẻ thù đến rình rập gài bẫy chúng ta nữa. Ngược lại chính Người đến ở giữa chúng ta để chúng ta không còn phải sợ tai họa và tay chân chúng ta hết bủn rủn. Hơn nữa Người còn làm mới tình yêu của Người đối với chúng ta, tỏ sung sướng reo vui vì chúng ta và quây quần chúng ta lại để mừng lễ.
Thật ra, Sôphônia không rõ ràng bao nhiêu. Ông lúng túng dùng nhiều hình ảnh. Chúng ta có thể phân tách và thấy ông có hai cảm tưởng này: khi Thiên Chúa ban ơn cứu độ khiến dân Người được vui mừng, thì một đàng Người đưa dân ra khỏi đau thương thử thách và khỏi tay địch thù; và đàng khác Người đến ở với dân để quây quần họ như ăn mừng lễ; một đàng Người củng cố dân khỏi sợ hãi và đàng khác Người làm mới tình yêu khiến họ được sướng vui.
Hai công việc này Thiên Chúa đã làm khi đưa dân ra khỏi lưu đày và về xây lại Ðền thờ... Nhưng lần cứu độ ấy mới tạm thời và bề ngoài. Chính khi Ðức Giêsu Kitô Giáng sinh vừa để cứu vớt thế gian khỏi tội lỗi, vừa để sung sướng ở giữa con cái loài người, lời sách Sôphônia mới được thực hiện. Tuy nhiên việc Chúa Giáng sinh cứu đời cũng chỉ mới khởi sự công cuộc cứu độ thực sự, sẽ được hoàn tất trong ngày Chúa trở lại trong vinh quang. Vì thế lời Sôphônia đối với chúng ta vẫn còn là lời tiên tri. Chúng ta vẫn phải nghe để không những chẳng bao giờ mất niềm tin, mà còn để trông đợi ơn tha thứ tội lỗi và được kết hợp với Thiên Chúa tình yêu. Chúng ta có lý để tin lời tiên tri ấy, vì một phần nào đó đã được thi hành khi Ðức Giêsu Giáng Sinh làm người. Càng suy nghĩ về cuộc đời của Ðức Giêsu, chúng ta càng tin tưởng tiếp tục mùa Vọng muôn thuở. Do đó việc tìm hiểu bài Tin Mừng hôm nay cũng sẽ làm sáng tỏ thêm lời sách Sôphônia.
 2. Vui Vì Cứu Ðộ
Tác giả Luca đã cho chúng ta thấy dân chúng tuôn đến với Gioan để được ông thanh tẩy. Họ muốn chuẩn bị đón Ðấng Cứu Thế. Họ thành thật muốn biết phải làm gì?
Tác giả Luca để cho dân chúng lên tiếng hỏi trước. Ông vẫn có thiện cảm với quần chúng. Và khi viết tác phẩm Tin Mừng ông vẫn quan tâm nhấn mạnh tính cách phổ cập của ơn cứu độ. Ông nói đến hạng người thu thuế. Những người này cũng được ông thương mặc dù bị người Do Thái liệt vào hạng tội lỗi vì họ lấy thuế cho ngoại bang và nhiều khi hà lạm. Nhưng Chúa đã chẳng đến để cứu chuộc kẻ tội lỗi ư? Chính họ cần lòng thương cứu độ của Người. Sau đó tác giả Luca nói đến lính tráng. Ở đây có lẽ là hạng lính đánh thuê, hay phiền nhiễu đồng bào. Ai yếu thì sợ họ, nhưng người hiểu biết chỉ nhìn họ bằng ánh mắt thương hại. Luca là tác giả tình thương. Ông muốn cho họ được ơn cứu độ. Và vì thế, ông đã để cho tất cả những hạng người trên phát biểu thiện chí muốn làm gì để được lòng thương của Chúa.
Ðối với dân chúng, Gioan bảo họ hãy chia cơm sẻ áo cho nhau, vì dưới mắt ông dân chúng như đoàn chiên đói rách. Ơn cứu độ đối với họ là được yêu thương chia sẻ. Người ta làm cho họ thấy ơn cứu độ đã gần khi tổ chức lại đời sống xã hội cho công bình và thương yêu nhiều hơn. Và chính họ có biến đổi lòng ấm ức xã hội nên những tâm tình chia sẻ nhiều hơn, thì mới trở nên những con người mới. Ðang khi ấy những người thu thuế và lính tráng, muốn được cứu độ, phải liêm chính và đừng sách nhiễu đồng bào. Gioan không bảo họ phải bỏ nghề bất chính họ đang làm; vì ông không phải là đấng đổi mới thế gian". Ông chỉ là tiền hô và rao giảng việc dọn đường, chuẩn bị. Ông sung sướng được thấy người ta muốn biết ai là Ðấng Kitô?
Ông trả lời, ông không phải là Người. Ông chỉ rửa trong nước; Người sẽ rửa trong Thánh Thần và lửa, Người quyền thế hơn ông và ông không đáng cởi quai dép cho Người.
Chúng ta hãy cảm mến lòng thành thực của Gioan. Ông không lạm dụng lòng tín nhiệm của người ta, vì họ sẵn sàng nhận ông là Ðấng Kitô. Chúng ta cũng cảm phục lòng khiêm nhượng của ông khi ông tự ví mình không xứng đáng là tôi tớ của Ðấng ông rao giảng, ví ngay kẻ tôi tớ Do Thái cũng không buộc phải cởi quai dép cho chủ. Nhưng điều Gioan muốn cho chúng ta để ý hơn cả, là biết Ðức Kitô là Ðấng quyền phép sẽ đến rửa trong Thánh Thần và lửa. Ông rửa người ta với nước, mà không có sự hiện diện của Thánh Thần, tức là không có lời hứa sẽ được ban trong thời kỳ cứu độ và nghĩa là không có ơn thánh hóa kèm theo.
Còn Ðức Kitô, Người sẽ rửa trong Thánh Thần, tức là sẽ ban Thánh Thần cho kẻ nhận phép rửa nhân danh Người. Chắc chắn khi viết tư tưởng này, tác giả Luca nhớ đến những lúc Thánh Thần hiện xuống trên những người tin đạo (thí dụ trong trường hợp tại nhà ông Corneliô, kể trong sách Công vụ). Và ông hẳn cũng liên tưởng đến hôm Chúa Thánh Thần hiện xuống dưới hình lưỡi lửa, ở đây ông nói đến cả Thánh Thần và lửa, là muốn nhấn mạnh đến một tác động đặc biệt của Thánh Thần là phán xét và phân biệt kẻ lành người dữ. Ðức Kitô sẽ đến đầy Thánh Thần. Người sẽ ban Thánh Thần cho chúng ta.
Nhưng đồng thời Người cũng thanh tẩy phân biệt chúng ta như người nông dân cầm rê xảy lúa. Thóc thì Người cho vào lẫm, còn trấu thì cho vào lửa đời đời. Công việc của Người, như vậy, sẽ hoàn tất việc làm của Gioan. Ông này rao giảng việc thống hối ăn năn; nhưng chính xác Ðức Kitô mới là Ðấng sẽ đến thánh hóa kẻ thống hối và trừng phạt kẻ không hối cải. Gioan chỉ là người chuẩn bị Ðức Kitô là Ðấng thực hiện việc cứu thế. Chúng ta phải chờ đợi Người.
Như vậy, Gioan cũng như Sôphônia chỉ là tiên tri. Các ông đóng vai trò loan báo và dọn đường. Tiếng của các ông reo vui hơn tiếng các tiên tri khác, vì Ðấng Cứu Thế đã gần đến và công việc của Người là cứu độ. Lời rao giảng của các ông thật là Tin Mừng, nhưng vẫn còn là sự vui mừng trong tin yêu và chờ đợi ơn cứu thoát. Nó không như lời khuyên bảo vui mừng trong thư Phaolô mà chúng ta sắp đọc.
3. Vui Trong Thiên Chúa
Phaolô đã thấy được ơn cứu độ mà Sôphônia loan báo. Hơn nữa chính Người đã thấy phép rửa trong Thánh Thần và lửa như Gioan đã báo trước. Người bảo chúng ta trong bài thư hôm nay: hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn.
Theo Người, mặc dù ta đang sống trong chờ đợi ngày Chúa đến, luôn luôn chúng ta phải vui mừng. Người lặp lại một lần nữa và bảo chúng ta hãy vui mừng. Vui mừng là đặc tính của đạo Tin Mừng.
Ðây không phải là sự vui mừng trong lý lẽ thế gian, mà là trong Thiên Chúa. Người đã cứu độ chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô sống lại từ cõi chết. Chúng ta đang ở trong nhiệm thể của Ðấng đã sống lại trong sự vui mừng. Làm sao chúng ta có thể còn buồn được nữa?
Và vì vui trong Thiên Chúa, sự vui mừng của chúng ta phải luôn mãi, không thay đổi, không nao núng, vì thánh giá Ðức Kitô đã toàn thắng cả sự chết. Chúng ta không được dấu sự vui mừng ấy, mà phải làm sao cho mọi người nhận biết, vì như Sôphônia đã nói sự vui mừng cứu độ phát xuất từ bên trong nhưng tràn ngập ra bên ngoài. Và cũng chính nhà tiên tri ấy đã báo: không gì có thể dồn ép được niềm vui cứu độ vì lẽ Chúa ở gần bên chúng ta. Người đuổi xa sự sợ hãi và địch thù; nên chúng ta đừng lo. Có gì chúng ta cứ thành khẩn thưa Người. Người sẽ ban bình an và canh giữ lòng dạ chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô.
Thiết tưởng không ai hơn được thánh Phaolô trong phân tách sự vui mừng của người Kitô hữu. Nếu chúng ta đã nhận được niềm tin vào lời hứa của Chúa như tiên tri Sôphônia; và nếu chúng ta đã chắc được cứu độ nhờ phép rửa trong Thánh Thần và lửa, như lời Gioan đã báo trước, thì chúng ta phải chấp nhận lời khuyên của Phaolô mà vui mừng luôn mãi trong Chúa. Ðiều duy nhất là liệu có thể ở mãi trong Chúa. Và điều ấy có thể được, đặc biệt nhờ vào việc tham dự thánh lễ.
Ðây là lúc chúng ta không những được nghe loan báo về Chúa như thời Sôphônia, và được đón Chúa đến như dưới thời Gioan Tẩy Giả; chúng ta còn được kết hợp với Người, để Người ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Người. Rồi ở trong bất cứ hoàn cảnh nào Người cũng ở với chúng ta, để cứu độ và canh giữ cả ý nghĩ lẫn việc làm, cả tâm hồn và đời sống.
Thế nên chúng ta hãy bình an và vui mừng, hãy chứng tỏ chúng ta có tin mừng cứu độ; chúng ta có các lời tiên tri hứa hẹn và những lời ấy đã thực sự khởi sự thực hiện nơi chúng ta. Do đó chúng ta vui mừng và vui mừng luôn mãi trong Thiên Chúa.

Đức Cố Giám Mục Barthôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

THỨ TƯ TUẦN 2 MÙA VỌNG NĂM C

Mt 11, 28-30
Kính thưa…Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có biết bao điều phải tất bật lo toan để mưu sinh cuộc sống cùng với cơm áo gạo tiền, nhất là những đau khổ thể xác cũng như tinh thần trong đời sống gia đình cũng như ngoài xã hội. Thiếu nhi chúng con cũng đang phải tất bật dành thời gian tích cực ôn tập bài vở để với ước mong đạt thành tích cao nhất cho kỳ thi học kỳ I. Những vất vả và gánh nặng đó nhiều lúc cũng đã làm chúng ta cảm thấy chán nản, thất vọng, muốn ngã lòng, không còn ý nghĩa, không còn hy vọng…Nhưng nếu chúng ta hiểu được ách của Chúa như Ngài nói, thì gánh nặng của chúng ta sẽ thấy nhẹ nhàng biết bao. “Hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. 
Người ta thường nói “có thì mới cho” người khác được. Không ai có thể cho cái mình không có. Ngay từ đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu biết rõ sứ mệnh của Ngài là đến thế gian để đem hạnh phúc cho con người. Chính vì vậy mà Ngài đã đến sống giữa con người để hiểu con người và cảm thông những nỗi gian truân, đau khổ và hạnh phúc của cuộc sống con người. Ngài đã đi khắp nơi từ Palestina tới Giêrusalem để rao giảng, chữa lành như cho người què đi được, người điếc được nghe, người mù được thấy, người chết sống lại… Và những ai đã từng chứng kiến các phép lạ Ngài làm, hoặc những người diễm phúc được Chúa chữa lành thì đều kinh ngạc, cảm phục và yêu mến Ngài đến độ muốn từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài. Vì nơi Ngài, họ tìm thấy một sự sẻ chia gánh nặng cuộc đời mà họ lẽ ra họ phải gánh chịu một mình. Hành động của Chúa Giêsu như thế chẳng phải là Ngài đang mở cho họ một lối thoát để tâm hồn họ được thảnh thơi, nghỉ ngơi nào đó sao?
Cha Giuse Tạ Duy Tuyền, hiện đang là chánh xứ Bình Lâm, giáo phận Xuân Lộc ngài chia sẻ: “Một buổi chiều nọ, ngồi trong tiệm sửa xe đạp, tôi có dịp quan sát khung cảnh náo nhiệt của một đoạn đường trong thành phố. Bỗng một chiếc Honda của một thanh niên từ trong hẻm lao thẳng ra và tông vào xe của một thiếu nữ. Rất may, cả hai người đều không bị thương tích ; nhưng chiếc quai giỏ bên tay xe của chị bị đứt. Trước mặt họ, những trái hồng văng tung toé. Hối hận vì hành động của mình, anh thanh niên vội bước đến xin lỗi và nhặt những trái hồng lên cho chị. Với thái độ điềm tĩnh, chị mỉm cười nói : “Xin lỗi anh, tôi thắng cũng không kịp”.
Kính thưa…Quả là điều thật dễ thương trong cuộc sống, khi con người biết biểu lộ tình thương, sự hiền lành và khiêm nhường của chính Chúa Giêsu, vị Thầy của chúng ta. Thật dễ thương nhưng chẳng dễ thực hiện, bởi dư luận vẫn cho rằng hiền lành là ngu xuẩn và khiêm nhường là nhu nhược.
Vì biết bao lần chỉ vì một va quẹt nhỏ mà lời qua tiếng lại rồi mang dao thanh toán nhau. Biết bao lần bà chẳng nhịn, ông chẳng nhường nên dẫn đến xô xát nhau không chỉ người dưng mà cả những người thân trong gia đình như vợ chồng, anh em, con cái . . .
Nếu mỗi người biết học cùng Chúa bài học của hiền lành và khiêm nhường thì đâu có những cảnh đau thương diễn ra hằng ngày. Nếu mỗi người biết sống hiền lành thì đâu có ghen tương, tranh chấp. Nếu mỗi người biết sống khiêm nhường thì đâu có tranh giành quyền lực mà làm hại lẫn nhau.
Ước gì chúng ta hãy biết học cùng Chúa sự hiền lành và khiêm nhường để gìn giữ sự hòa hợp cho những người chúng ta đang sống. Xin đừng vì tính kiêu căng tự phụ mà làm khổ tha nhân. 
Lạy Chúa Giê-su,
Cuộc đời chúng con luôn đong đầy những gánh nặng, những chồng chất hai vai. Chúng con luôn cảm thấy mệt mỏi, chán chường vì những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Xin cho chúng con biết chạy đến với Chúa, biết trao vào tay Chúa gánh nặng của cuộc sống để nhẹ vơi những ưu phiền lắng lo.
Và xin cho mỗi người chúng con biết sống khiêm nhưởng và hiền lành như Chúa. Amen

10/12/2015 Thứ Năm Tuần II Mùa Vọng Năm C


PHÚC ÂM: Mt 11, 11-15
"Chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, nhưng người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ông. Từ thời ông Gioan Tẩy Giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Tất cả các tiên tri và lề luật đã tuyên sấm cho đến Gioan và nếu các ngươi muốn hiểu, thì chính Gioan là Elia, kẻ phải đến. Ai có tai, thì hãy nghe!" Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Tin Mừng hôm nay: "Thật, Ta bảo các ngươi hay, trong con cái do người nữ sinh ra chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả". Con người có lẽ ai cũng mong ước được như Gioan Tẩy Giả. Chúng ta cũng thấy trong một đoạn Tin Mừng khác, lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy thì có một người đàn bà buột miệng nói rằng: "Phúc thay dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú. Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng: :Ai nghe và giữ lời Chúa thì còn có phúc hơn nhiều". Hoặc chúng ta cũng thấy trong lúc Chúa Giêsu đang thi hành sứ mệnh công khai của Ngài, Mẹ Maria và các người thân thuộc tìm đến nghe, nhưng vì dân chúng quá đông không chen vào được, có mấy người thấy thế nói với Chúa Giêsu: "Kìa Mẹ và anh em Thầy đến tìm Thầy", Chúa Giêsu liền trả lời: "Ai là Mẹ Ta, ai là anh em Ta? Ðó là những kẻ nghe và giữ lời Ta".
Qua những lời trên, Chúa Giêsu cho chúng ta một cái nhìn mới, một ý nghĩa mới: thân thuộc, bà con bằng máu mủ không quan trọng cho bằng thân thuộc bà con thiêng liêng: "Ai theo Ta mà không từ bỏ cha mẹ anh em thì chưa xứng đáng là môn đệ Ta". Nói thế không phải chúng ta không tôn kính hay không yêu mến cha mẹ chúng ta, vì giới răn thứ tư trong Mười Ðiều Răn, Ðức Kitô dạy rằng: "Hãy thảo kính cha mẹ". Giới răn này nằm sau giới răn thứ nhất: "Thờ phượng Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự".
Chúng ta đừng đặt nặng vấn đề gia đình, vấn đề tình thân thuộc máu huyết mà chúng ta quên mất việc thờ Thiên Chúa. Chúng ta cũng đừng tìm danh giá, giàu sang bên ngoài mà quên mất lương thực Thần Linh nuôi sống chúng ta, đó là Mình và Máu Chúa. Mình Máu Chúa nuôi sống phần hồn, lương thực Lời Chúa nuôi sống tinh thần chúng ta.
Từ Gioan Tẩy Giả trở về sau, tức là từ khi Chúa Giêsu Kitô đem ơn cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho nhân loại thì Nước Trời phải dùng sức mạnh mới chiếm lấy được và kẻ nào mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Trước Chúa Kitô chưa ai có được ơn cứu rỗi cho đến khi Chúa Kitô chết trên Thánh Giá Ngài mới kéo tất cả mọi sự lên cùng Ngài. Ai muốn nhận được ơn cứu rỗi đó phải qua cửa hẹp, phải vác thập giá mình mà theo Chúa mới vào được Nước Trời, vì ngày nào có sự khốn khó của ngày ấy.
Theo Chúa để vào Nước Trời, chúng ta phải chiến đấu với chính bản thân mình, phải từ bỏ những đam mê, những thói quen không tốt, những việc làm không chính đáng, phải hy sinh cho người thân quen thuộc trong gia đình, cho tha nhân và làm tất cả những gì khi có thể để giúp đỡ người khác mới thực sự là dấn thân thi hành giới răn "Mến Chúa Yêu Người".
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn hiểu rõ được giá trị của sự yêu thương, tránh tìm những gì hào nhoáng bên ngoài nhưng thực sự sống cảm thông, yêu thương nhau và tha thứ khoan dung hơn để mong chờ Ðấng Cứu Thế đến. Amen.

08/12/2015- Thứ Ba Tuần II Mùa Thường Niên Năm C


Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm
PHÚC ÂM: Lc 1, 26-38
"Chào Trinh Nữ đầy ân sủng, Chúa ở cùng Trinh Nữ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào trinh nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ, trinh nữ có phúc hơn các người nữ". Nghe lời đó, trinh nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa. Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp và triều đại Người sẽ vô tận!"


Nhưng Maria liền thưa với Thiên Thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?" Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế Đấng trinh nữ sinh ra sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được". Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và Thiên Thần cáo biệt trinh nữ. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Từ ngày nguyên tổ phạm tội, quan hệ nồng thắm giữa Thiên Chúa và loài người bị cắt đứt. Tội lỗi khiến con người bị tách lìa và xa cách Thiên Chúa bằng một khoảng cách gần như bất tận.
Vì tự cách ly với Thiên Chúa là nguồn mạch hạnh phúc và ân sủng, con người phải héo hon và tàn lụi dần như thân phận của những chiếc lá lìa cành.
Nhưng Thiên Chúa là Cha giàu lòng yêu thương không nỡ để cho loài người phải vĩnh viễn xa lìa Ngài là cội nguồn sự sống. Ngài lên kế hoạch xây dựng một nhịp cầu vĩ đại, nối liền trời với đất, giao hoà Thiên Chúa với con người.
Ðể thực hiện kế hoạch nầy, Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến gặp Ðức Maria, mời Mẹ cộng tác vào công trình hệ trọng nầy.
Sau khi biết ý định Thiên Chúa, với tinh thần sẵn sàng vâng phục của người tôi tớ, Ðức Maria thưa với thiên thần rằng: "Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền."
Từ lúc đó, Ðức Maria trở thành nhịp cầu nối liền trời với đất, nhịp cầu kỳ diệu nhất trong lịch sử nhân loại. Thế là qua Mẹ Maria, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống với loài người, mặc lấy xác phàm và sống giữa nhân loại, để tỏ bày cho mọi người nhận biết Thiên Chúa là Cha của mình và dẫn đưa họ về với Chúa Cha.
Một kỷ nguyên mới được khởi sự nhờ sự vâng phục và hợp tác của Mẹ Maria. Muôn người trên khắp thế giới ngót hai ngàn năm qua đã nhờ Mẹ mà được giao hoà với Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ do Ðức Giê-su mang đến.
* * *
Tuy nhiên, cho tới hôm nay vẫn còn rất nhiều người chung quanh chúng ta chưa nhận biết Ðấng Cứu Ðộ nên Thiên Chúa rất cần những nhịp cầu khác để đến với họ và đưa họ về với Ngài.
Thiên Chúa thiết tha mời gọi mỗi chúng ta hãy nối tiếp vai trò của Mẹ Maria, bắc thêm những nhịp cầu mới để đưa Chúa đến với những con người chưa biết Chúa đang sống chung quanh.
Mẹ Maria nhận thức phận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn nên đã mau mắn đáp lời Chúa mời gọi. Còn chúng ta là ai mà cứ mãi nấn ná chần chừ, chẳng muốn thi hành ý Chúa, chẳng muốn tuân lệnh Ngài truyền để trở thành nhịp cầu đưa Chúa đến với tha nhân?
* * *
Nguyện xin Chúa giúp chúng con noi gương bắt chước Mẹ Maria, nhận ra mình chỉ là tôi tớ hèn mọn, mà phận làm tôi thì không được làm trái mệnh lệnh Chúa truyền.
Nguyện xin Mẹ dạy chúng con mau mắn đáp lời Chúa mời gọi và thưa cùng Ngài: "Nầy tôi là tôi tớ Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền."AMEN.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Tô mì của người lạ


Tối hôm đó Sue cãi nhau với mẹ, rồi không mang gì theo cô đùng đùng ra khỏi nhà. Trong lúc đang trên đường, cô mới nhớ ra rằng mình chẳng có đồng bạc nào trong túi, thậm chí không có đủ mấy xu để gọi điện về nhà.

Cùng lúc đó cô đi qua một quán mì, mùi thơm bốc lên ngào ngạt làm cô chợt cảm thấy đói ngấu. Cô thèm một tô mì lắm nhưng lại không có tiền!

Người bán mì thấy cô đứng tần ngần trước quấy hàng bèn hỏi:

- Này cô bé, cô có muốn ăn một tô không?

- Nhưng... nhưng cháu không mang theo tiền... - cô thẹn thùng trả lời.

- Ðược rồi, tôi sẽ đãi cô - người bán nói - Vào đây, tôi nấu cho cô một tô mì.

Mấy phút sau ông chủ quán bưng tới cho cô một tô mì bốc khói. Ngồi ăn được mấy miếng, Sue lại bật khóc

- Có chuyện gì vậy? - ông ta hỏi

- Không có gì. Tại cháu cảm động quá! - Sue vừa nói vừa lấy tay quẹt nước mắt.
- Thậm chí một người không quen ngoài đường còn cho cháu một tô mì, còn mẹ cháu, sau khi cự cãi đã đuổi cháu ra khỏi nhà. Chú là người lạ mà còn tỏ ra quan tâm đến cháu, còn mẹ cháu.... "bả" ác độc quá!!" - cô bé nói với người bán mì...

Nghe Sue nói, ông chủ quán thở dài:

- Này cô bé, sao lại nghĩ như vậy? Hãy suy nghĩ lại đi, tôi mới chỉ đãi cô một tô mì mà cô cảm động như vậy, còn mẹ cô đã nuôi cô từ khi cô còn nhỏ xíu, sao cô không biết ơn mà lại còn dám cãi lời mẹ nữa?

Sue giật mình ngạc nhiên khi nghe điều đó.

"Tại sao mình lại không nghĩ ra nhỉ? Một tô mì của người lạ mà mình cảm thấy mang ơn, còn mẹ mình đã nuôi mình hàng bao năm qua mà thậm chí mình chưa bao giờ tỏ ra quan tâm đến mẹ dù chỉ một chút. Mà chỉ vì chuyện nhỏ mình lại cự cãi với mẹ.

Trên đường về, cô thầm nghĩ trong đầu những điều cô sẽ nói với mẹ:" Mẹ ơi, con xin lỗi. Con biết đó là lỗi của con, xin mẹ tha thứ cho con..."

Khi bước lên thềm, cô nhìn thấy mẹ đang lo lắng và mệt mỏi vì đã tìm kiếm cô khắp nơi. Nhìn thấy Sue, mẹ cô nói:" Sue, vào nhà đi con. Chắc con đói bụng lắm rồi phải không? Cơm nước mẹ nấu xong rồi, vào nhà ăn ngay cho nóng..."
Không thể kiềm giữ được nữa, Sue òa khóc trong tay mẹ.

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta dễ cảm kích với những hành động nhỏ mà một số người chung quanh làm cho chúng ta, nhưng đối với những người thân thuộc, nhất là cha mẹ, chúng ta lại xem sự hi sinh của họ như chuyện đương nhiên...

Tình yêu và sự quan tâm lo lắng của cha mẹ là món quá quý giá nhất mà chúng ta được tặng từ khi mới chào đời.

THỨ BẢY 05.12 - Tuần I Mùa Vọng

Is 30:19-21.23-26; Mt 9:35 – 10,1.6-8
Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.
SỨ VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ
Quán ăn bên đường tấp nập người vô ra, ăn uống náo nhiệt. Bỗng: “Rầm!”. Một cụ già bị xe tông ngã soài trước hàng quán. Chiếc xe phóng nhanh tẩu thoát. Cụ già đau đớn, loạng choạng cố gượng dậy. Mọi người vẫn thản nhiên ăn uống, chẳng ai đến nâng cụ dậy. Nhìn. Lắc đầu. Nói: Rõ khổ!
Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu ấy được biểu lộ trọn vẹn nơi Đức Giêsu. Vì yêu thương nhân loại, Đức Giêsu đã xuống thế làm người và chết đau thương trên thập giá để mang ơn cứu rỗi cho chúng ta.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không muốn cứu rỗi thế giới một mình. Người muốn con người cộng tác với Người. Khi thấy đám đông vất vưởng, bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt, Đức Giêsu đã sai các môn đệ đến với họ để nâng đỡ, cứu giúp và đem ơn cứu độ đến cho họ.
Hôm nay, chúng ta có sẵn sàng cộng tác với Đức Giêsu như Người mời gọi?
Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở nên những sứ giả nhiệt thành loan báo Tin mừng và trao tình thương Chúa cho tha nhân.
Hình minh hoạ: Thiên Chúa của người nghèo khó (còn có tên là Saint Russia), tranh sơn dầu, vẽ năm 1899, của họa sĩ người Nga nổi tiếng Mikhail Nesterov (1862-1942).



CHÚA NHẬT 06.12 - Chúa Nhật II Mùa Vọng

Br 5:1-9; Pl 1:4-6.8-11; Lc 3:1-6

Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.
SÁM HỐI
Người xưa dạy rằng: Nếu gây ra lỗi lầm thì công khai nhận lỗi lầm ấy, rồi tìm nguyên nhân và đề ra biện pháp hầu quyết tâm sửa chữa. Thái độ đối với lầm lỗi như thế là thước đo một người chân chính.
Cuộc đời con người là một cuộc lữ hành tiến về quê trời. Trên con đường này, luôn có những thách đố, cám dỗ từ tiền tài, vật chất, danh vọng, quyền lực... khiến lòng người nhiều lúc điên đảo. Cho nên, không ít thì nhiều, con người khó tránh khỏi những lỗi lầm với Thiên Chúa, với tha nhân và với bản thân. Vì thế, con người luôn được mời gọi sám hối, quay về giao hòa với Thiên Chúa, với anh chị em và với bản thân.
Trong mùa Vọng, Giáo hội kêu mời con cái mình trở về với nguồn cội là Thiên Chúa. Trình thuật Tin mừng mời gọi chúng ta “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”. Thật vậy, Thiên Chúa là Cha luôn đi bước trước trong việc bày tỏ tình thương với con người. Lòng ăn năn sám hối là lời đáp trả trước tình thương vô bờ của Thiên Chúa.
Trình thuật Tin mừng còn đưa ra những chỉ dẫn để chúng ta thể hiện lòng sám hối của mình. Đó là: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Những chỉ dẫn này, khi mới nghe, có thể chúng ta thấy nhẹ nhàng, nhưng để thực hiện trong suốt cuộc đời, đòi buộc phải có một sự dấn thân quyết liệt và hy sinh to lớn.
Lạy Chúa, xin ban sức mạnh cho chúng con, để chúng con luôn sẵn lòng vâng nghe và thi hành Lời Chúa trong cuộc sống.

THỨ HAI SAU CN II VỌNG NĂM C Lu-ca 5, 17-26

Chúng ta vừa nghe một câu truyện Tin mừng sống động về việc Chúa Giêsu giảng dạy trong một ngôi nhà kia và việc Ngài chữa bệnh cho người bất toại ở đó. Để hiểu rõ việc người ta thả nguyên cái giường có người bệnh nhân nằm trên đó từ trên mái nhà xuống trước mặt Chúa Giêsu như thế nào, thì chúng ta nên biết thiết kế về ngôi nhà của người Palestine. Nhà của họ có mái bằng, chỉ hơi nghiêng một chút đủ cho nước chảy xuống. Mái gồm những cây đà ngang gác từ bờ tường này sang bờ tường bên kia, cách nhau bằng những khoảng ngắn. Những khoảng đó được che bằng những cành nhỏ đan lại, trét vữa và láng cho bằng mặt. Rất dễ dàng dỡ ra để có một khoảng trống giữa hai cây đà ngang. Mỗi ngôi nhà đều có bậc thang để lên trên mái một cách dễ dàng.
Trở lại diễn tiến câu chuyện: khi gặp được Chúa do những người nhà tốt bụng và có sáng kiến thả mình từ mái nhà xuống, lòng tin của anh bất toại nhiều năm đã bùng cháy lên sau nhiều năm trời tắt ngúm. Cuộc gặp gỡ này đánh dấu một khúc quanh trong cuộc đời anh. Thật ra thì ước nguyện duy nhất của anh cũng như của thân nhân và cả đám đông là làm sao được khỏi bệnh đã. Nhưng lời tuyên bố của Chúa lại làm cho mọi người ngỡ ngàng “Hỡi con, tội của con đã được tha”. Họ ngỡ ngàng vì tưởng đâu gặp được vị lương y cao tay, ai dè gặp phải một vị giải tội cho kẻ tê bại. Người ta đem anh ta tới vì anh tê bại chứ không phải vì anh tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu đi ngược lại quan niệm của họ. Chúa chữa trị tê liệt tâm hồn trước đã và đấy mới là mục đích của Chúa. Bệnh nhân đau khổ không phải vì đau yếu thể xác cho bằng đau yếu tâm hồn vì thiếu vắng Chúa. Chúa Giêsu thấy anh bất toại đau khổ về thể xác nhưng Chúa muốn chỉ ra cái đau khổ trong tâm hồn mới quan trọng cho anh. Cho nên Chúa muốn cho anh và mọi người thấy phần hồn phải ưu tiên giải quyết trước khi phần thân thể lành lặn. Chữa bệnh phải chữa tận gốc rễ mới được. Vì thế trước khi chữa thân xác, Chúa tha tội cho bệnh nhân đã. Để minh chứng điểm đó, Chúa nói: “Tội lỗi của con đã được tha”. 
Nghe thấy thế những người biệt phái cho rằng: Chúa nói lộng ngôn, vì dám kể mình ngang với Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Còn đây Chúa Giêsu nhân danh chính Ngài, Ngài có quyền. Và để minh chứng cho việc tha tội và để người Do thái biết đến uy quyền tha tội này, Chúa đã làm phép lạ ngay trước mắt mọi người. Chúa bảo: “Hãy chỗi dậy vác giường mà về” (c.24). Anh ta vác đi nghênh ngang trước sự ngạc nhiên kinh hoàng của mọi người. Anh ta và cả dân chúng lúc ấy tôn vinh tạ ơn Chúa. 
Anh chàng bất toại bị bất lực hoàn toàn nên phải nhờ tới thân nhân giúp đỡ. Khi chúng ta lầm lỗi cũng thế. Chúng ta không thể tự mình chỗi dậy đi về Nước trời được đâu. Một khi có tội ta giống như bị sa xuống vực thẳm cần một người ở ngoài kéo lên. Người ấy là Chúa Giêsu.
Mùa vọng về là dịp chúng ta tha thiết xin Chúa kéo chúng ta ra khỏi hố thất vọng của tội lỗi và giúp chúng ta trở về với đường chính nẻo ngay, chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón Chúa đến trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Amen.

CN II MÙA VỌNG NĂM C - 2015 NGƯỜI PHU QUÉT LÁ


Trong Tác phẩm “ Người phu quét lá”, ĐGM Phêrô Nguyễn Khảm đã ví von, đời Linh mục như người phu quét lá: “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu” (Ns.Trịnh Công Sơn).
Người phu quét lá bên các nẻo đường, dù mưa dầm hay nắng hạn, họ vẫn ngày ngày có mặt từ sáng sớm tinh sương để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục, mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người. Trong ý nghĩa đó, có thể nói, Gioan Tiền Hô, mà trang TM hôm nay nhắc đến, cũng là “Người phu quét lá” dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại. 
Kính thưa…Bước vào tuần thứ II Mùa Vọng, bao giờ GH cũng cho chúng ta gặp con người mang tên Gioan, vị ngôn sứ đi trước dọn đường và dọn lòng người để đón Đấng Cứu Thế. Thực thi sứ vụ dọn đường, Ngôn Sứ Gioan luôn gắn bó với Thiên Chúa và sống gần gũi với con người. Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho mọi người đến với Chúa Cứu Thế.
Ông chính là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã đón nhận cái chết như một thiên anh hùng ca cho sứ vụ một cách tuyệt vời. 
Trang TM chúng ta vừa nghe, Gioan đã nhắc lại lời tiên tri Isaia và mời gọi dân chúng dọn đường và sám hối: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường nhấp nhô phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính. 
Con đường mà Gioan mời gọi chúng ta dọn, đó chính là đường đi vào tâm hồn. Đó là con đường nội tâm. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống. Mỗi khi đất nước đón tiếp một nguyên thủ quốc gia từ nước khác tới thăm, người ta thường hô hào sửa sang đường sá, làm sạch đẹp môi trường cảnh quang. Đó là biểu lộ lòng hiếu khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại với chúng ta. Cho nên, việc dọn đường cho Chúa đến là cần thiết. Con đường mà chúng ta phải dọn, phải sửa sang để lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế, và để đón Chúa, đó là những chông gai tội lỗi, đó là những đam mê của cải vật chất hay danh lợi, hoặc đó là những thói hư tật xấu. 
Kính thưa…Hôm nay bước vào tuần lễ thứ hai của Mùa Vọng, cả thế giới Kitô giáo đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, thậm chí còn có cả những người không tôn giáo hay ngoài kitô giáo cũng nô nức chào đón, các cửa tiệm tràn ngập cây thông Giáng sinh, quà tặng Giáng sinh, món ăn, quần áo, đồ chơi hay những cánh thiệp cho Giáng sinh. Nhiều nhà đang sửa soạn đón GS với những cây thông hay hang đá trong gia đình. Giáo xứ chúng ta cũng vừa kịp hoàn thành bức phông lớn hình gia đình Thánh Gia người Việt ngoài tiền sảnh nhà thờ. Có thể nói đây là bức phông được hoàn tất sớm nhất trong khu vực giáo hạt Hàm Tân. Đâu đó nhạc Giáng sinh cũng đã rộn vang và lòng người đã thấy rạo rực niềm vui GS. 
Nhưng phải dọn mừng lễ Giáng sinh thế nào cho xứng đáng, cho đúng theo Tin mừng của Chúa mà Gioan đã hô hào :”Hãy dọn đường cho Chúa đến”. Con đường tâm hồn của chúng ta đã tốt chưa? Và lòng chúng ta đã trở nên thửa đất mầu mỡ để đón ơn Chúa chưa ? Hay lòng chúng ta lại trở nên một sa mạc cằn cỗi ?
Dọn đường tâm hồn là chấp nhận biến đổi sa mạc của cõi lòng thành miền đất trù phú, miền đất thấm đẫm ơn Chúa. Bởi vậy, người ta phải chấp nhận sự hao mòn sức lực, chấp nhận tự gọt giũa chính mình, chấp nhận nhiều khó khăn khác nhau. Vì biến đổi như thế là sám hối. Và sám hối thật lòng đòi phải có dấn thân thực sự để tự mình từ nay dám cắt bỏ một thói quen, một đam mê, một tật xấu… để lòng mình biết yêu hơn, khiêm nhường hơn, sống phục vụ hơn, vị tha hơn…
Mừng lễ Giáng sinh là chúng ta kỷ niệm việc Chúa đã xuống trần hơn hai ngàn năm rồi, đồng thời Chúa sẽ còn đến trong ngày chung thẩm nữa. Nếu thánh Gioan Tiền hô đã làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, bằng việc làm và bằng chính đời sống của Ngài. Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa trong môi trường của chúng ta. Nhưng muốn cho lời chứng của chúng ta có hiệu quả, trước hết chúng ta phải có đời sống xứng đáng, phải đoạn tuyệt với tội lỗi và những tính mê nết xấu và thể hiện một đời sống bác ái yêu thương. Đó là những việc chúng ta cần làm để chuẩn bị mừng Chúa Giáng sinh.
Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Cả cuộc đời Gioan chỉ một tâm nguyện là làm “Người phu quét lá” dọn lòng người khác. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gioan để trở thành “ Người phu quét lá” cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và cho mọi người xung quanh chúng ta. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình. Amen!

Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng Năm C

HÃY CHẠNH LÒNG THƯƠNG (Mt 9,35-10,1.6-8)
Có một gia đình kia gồm 7 anh chị em. 6 anh chị em lớn rất giàu có, nhưng còn gia đình đứa em út thì rất nghèo khổ, vợ với con lại nay ốm mai đau. Thế nhưng các anh chị lớn chẳng những không giúp gia đình đứa em tội nghiệp nghèo nàn này, trái lại họ còn kéo bè kéo phái gây đau khổ cho em mình. 
Kính thưa…Là anh chị em ruột với nhau, nhưng tại sao họ lại không yêu thương đùm bọc lẫn nhau?

Gia đình mà chúng ta vừa nghe kể là một phản ánh của thời đại hôm này. Đó là một phần tất yếu của cuộc sống. Thật vậy! Cuộc sống hôm nay với bao tất bật lo toan cơm áo gạo tiền khiến chúng ta chỉ chỉ nghĩ đến mình, chỉ lo cho bản thân mình mà ít khi nghĩ đến người khác, quan tâm giúp đỡ người khác.
Với Chúa Giesu và tin mừng cứu rỗi của Ngài thì khác.Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu thấy đám đông lầm than vất vưởng thì Ngài chạnh lòng thương. Thánh sử Matthêu nói rõ: “Thấy dân chúng đông đảo, Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than, vất vưởng, như chiên không người không chăn dắt”. Chúa THẤY và Chúa CHẠNH LÒNG THƯƠNG. 
Thánh Matheu còn cho chúng ta thấy một Đấng Mesia thao thức với sứ mạng loan báo Tin Mừng và mời gọi sự cộng tác của các tông đồ và chúng ta nữa vào sứ mạng đó khi đưa ra lời đề nghị:Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin Chủ sai thợ ra gặt lúa về. Ngài muốn chúng ta cộng tác với Ngài bằng lời cầu nguyện. Tiếp theo việc cầu nguyện, là việc Chúa mời gọi các môn đệ và chúng ta trở thành những cánh tay nối dài của Chúa, tiếp tục sứ mạng của ngài và làm cho Tin Mừng được lan tỏa khắp nơi.
Kính thưa… Đấng Mesia mà muôn dân mong đợi chính là Đức Giêsu. Ngài là Đấng cứu độ chúng ta. Tuy nhiên Ngài sẽ không thể bước vào nhà tâm hồn chúng ta nếu chúng ta không mở cửa đón tiếp Ngài. Người sẽ không thể biến đổi thế giới, và tâm hồn, nếu chúng ta không sẵn sàng. 
Chúa cũng đang muốn chúng ta mang trái tim của Chúa, bước đến với anh em, chạnh lòng thương trước những đau khổ của đồng loại và ra tay xoa dịu những bệnh tật tâm hồn và thể xác của anh em.
Khi mỗi người thực hiện như thế, thì mùa vọng sẽ không chỉ là chờ đón hay kỷ niệm một biến cố quá khứ, mà thực sự là muà ân phúc, mùa hy vọng cho mỗi người mỗi gia đình và cả thế giới. Xin Chúa biến đổi chúng ta nên những cộng tác viên tích cực của Chúa, đem Tin Mừng của Chúa đến cho anh em chung quanh. 
Sứ mạng mà Đức Giê-su trao ban cho các Tông đồ xưa kia cũng chính là lời mời gọi mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Trước những nhu cầu của anh chị em trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, những người ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày, xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức lời mời gọi của Chúa để luôn nhiệt thành với việc giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính đời sống của mình. 
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa để con biết rung cảm trước những nỗi bất hạnh của anh chị em. Xin cho con đôi tay của Chúa để con biết mở rộng và trao ban. Xin cho con đôi chân của Chúa để con đi đến với anh chị em đang cần đến con. Amen.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

4.12.2015 – Thứ sáu Tuần 1 Mùa Vọng

Lời Chúa: Mt 9, 27-31
Ðang khi Ðức Giêsu ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: “Lạy Con Vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” Khi Ðức Giêsu về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi tin.” bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy.” Mắt họ liền mở ra. Người nghiêm giọng bảo họ: “Coi chừng, đừng cho ai biết!” Nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Người trong khắp cả vùng.
Suy niệm:

Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ người ta đọc được câu chuyện này. Ngày xưa có mấy anh mù rủ nhau đi xem voi. Họ được dẫn đến cạnh một con voi rất to để họ dùng tay mà sờ vào nó. Anh thứ nhất sờ được vào cái vòi của con voi. Sờ xong anh đắc chí hô to:
- Tôi biết voi giống cái gì rồi, nó giống như một con rắn.
Anh thứ hai sờ vào chân voi rồi nói:
- Đâu phải, voi giống như cái cột nhà.
Anh thứ ba sờ vào sườn voi, phản đối:
- Các anh điên hả? Voi giống như một bức tường chứ!.
Anh thứ tư sờ vào tai voi, bật cười.
- Các anh nói gì vậy? Voi giống như một tàu lá chuối.
Đúng là mù! Mù là không thấy và vì không thấy nên không biết hay biết một cách phiếm diện, biết không đầy đủ.
Cái mù thể xác đã khốn khổ như thế, nhưng còn có một loại mù còn khốn khổ hơn nữa, người ta gọi đó là mù lương tâm, mù không dám nhìn, không dám nhận sự thật. Đây là thứ mù thường xảy ra trong đời sống con người.
Đúng thế, không dám nhận ra sự thật cũng là một bệnh mù. Bệnh này rất nguy hiểm, nó thường bộc phát và lây lan nhanh. Nguyên nhân của căn bệnh này là tính kiêu ngạo, một loại vi trùng rất khó trị và thường gây ra những hậu quả rất tai hại cho những người mắc bệnh này.
Chúng ta lấy một vài ví dụ trong Tin Mừng, chẳng hạn ông Philatô đứng trước mặt Chúa Giêsu nhưng chỉ thấy Ngài như một tên tử tội cần phải loại trừ chứ không thể nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Vua Hêrôđê cũng vậy, mặc dù được đứng trước trực diện với Chúa, nhưng chỉ thấy Ngài như một người điên.
Ngược lại, hai người mù trong bài Tin Mừng hôm nay, mặc dù họ mù hai con mắt thể lý, nhưng trái lại họ được sáng con mắt đức tin, con mắt tâm hồn, cho nên họ đã nhận ra Chúa là Đấng con Vua Đavít. Họ đã tin Chúa và được Chúa chữa lành cho họ được nhìn thấy.
Chúng ta có thể sáng mắt thể lý, vì chúng ta nhìn thấy rõ ràng những công trình của Chúa qua vũ trụ van vật, nhưng có khi chúng ta lại mù con mắt đức tin, vì chúng ta đã không tin vào Thiên Chúa qua các dấu chỉ của sự vật, hay các biến cố chung quanh để nhận ra thánh ý Chúa mà thi hành.
Chính Chúa Kitô mặc khải Ngài là ánh sáng. Nếu chúng ta hướng về Ngài chúng ta sẽ được ánh sáng. Còn nếu chúng ta quay lưng lại với Ngài, thì trước mắt chúng ta chỉ là bóng tối dày đặc. Vì vậy, chỉ một cái nhìn có thể đưa chúng ta tới ánh sáng hay bóng tối. Nếu chúng ta bỏ Ngài là bỏ ánh sáng, là đi vào bóng tối.
Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài, chúng ta mới thực sự là người sáng mắt. Chỉ trong Ngài chúng ta mới biết chúng ta là ai, và sẽ đi đến đâu. Dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận được ánh sáng của Ngài, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy.
Phêrô Nguyễn Bùi Quốc Khánh SDB



Chúa Nhật II mùa Vọng



Thiên Chúa dự định thực hiện một việc tốt lành cho dân Người, đó là ban ơn cứu độ. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khai triển đề tài ấy qua đoạn sách ngôn sứ Ba-rúc, đồng thời qua sứ điệp của ông Gio-an Tiền hô và lời khuyên của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê, đưa ra một chương trình sám hối giúp ta tiếp nhận ơn cứu độ.

1. Giê-ru-sa-lem được khôi phục là hình bóng nói lên ơn cứu độ (bài đọc Cựu Ước – Ba-rúc 5:1-9)

Sách ngôn sứ Ba-rúc nói về cuộc lưu đày của Ít-ra-en tại Ba-by-lon và về viễn tượng dân được giải phóng rồi trở về Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên viễn tượng giải phóng ấy không chỉ mang tính cách lịch sử Ít-ra-en, mà còn ám chỉ về thời cứu độ Thiên Chúa thực hiện qua Chúa Ki-tô. Giê-ru-sa-lem đã trở nên điêu tàn sau khi dân Ít-ra-en bị phát lưu. Giờ đây, ngôn sứ Ba-rúc nhìn thấy một Giê-ru-sa-lem được phục hồi còn vinh quang rực rỡ hơn cả trước kia. Đức cha Êu-xê-bi-ô, giám mục Xê-da-rê, trong bài chú giải sách I-sai-a đã nói về vai trò của Giê-ru-sa-lem: “Quả thật, Xi-on đây cũng chính là Giê-ru-sa-lem, đã nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa, là thành được xây ở trên cao, trên núi của Thiên Chúa, nghĩa là trên Ngôi Lời, Con Một của Người”.

Vậy cái nhìn của ngôn sứ Ba-rúc về Giê-ru-sa-lem được cứu độ như thế nào? Hình ảnh đầu tiên về Giê-ru-sa-lem được cứu độ là “cởi bỏ áo tang khổ nhục để khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa” (Br 5:1). Cứu độ là được thay đổi từ tình trạng xấu tới tình trạng tốt, hoặc từ cái mất đến cái tìm lại được. Giê-ru-sa-lem đã trải qua một thời kỳ đen tối, mất đi tất cả và nằm trong bàn tay kìm kẹp của dân ngoại. Một thành lừng danh nay đã hoang tàn vì không còn dân chúng và sức sống nữa, khác gì một thành phố chết. Tình trạng chết ấy đúng là “áo tang khổ nhục” bao trùm Giê-ru-sa-lem. Bị ngoại bang xâm chiếm, Giê-ru-sa-lem nhục nhã vì Đền Thờ trở thành ô uế, các đồ dùng thờ phượng bị tục hóa, việc thờ phượng Thiên Chúa bị thay thế bằng việc cúng tế các thần ngoại, vinh quang và công chính của Thiên Chúa nhường chỗ cho đồi trụy và thấp hèn của thế gian.

Giữa tình trạng buồn thảm và thất vọng ấy, ngôn sứ Ba-rúc mang đến sứ điệp giải phóng của Thiên Chúa: “Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, hãy đứng ở nơi cao và hướng nhìn về phía đông” (Br 5:5). Phía đông là phía mặt trời, mặt trời công chính, biểu tượng của Thiên Chúa, sẽ mọc lên và phá tan u tối. Phía đông cũng là hướng Ba-by-lon, nơi con cái Ít-ra-en bị lưu đày sẽ lên đường trở về quê cha đất tổ. Con đường xưa đem dân Ít-ra-en đi lưu đày là con đường khổ cực, khó khăn và nhục nhã nay được dọn dẹp lại theo lệnh Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Ít-ra-en tiến bước an toàn” (Br 5:7).

Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong sứ điệp giải phóng này phải là sự can thiệp của Thiên Chúa. Vai trò chủ động của Thiên Chúa được đề cao: Thiên Chúa “ban vinh quang vĩnh cửu, khoác áo choàng công chính cho Ít-ra-en, truyền dạy con cái Ít-ra-en tụ họp về, ra lệnh dọn đường để Ít-ra-en tiến bước an toàn, cho quế trầm tỏa bóng che rợp Ít-ra-en, dẫn Ít-ra-en đi trong hoan lạc”.

Những gì Thiên Chúa đã làm cho Giê-ru-sa-lem thì Người cũng làm cho ta để cứu độ ta. Thiên Chúa đã khôi phục Giê-ru-sa-lem và xây thành “trên Con của Người”, nghĩa là Người cứu độ ta nhờ công nghiệp Chúa Ki-tô. Chúa sẽ dẫn ta “đi trong hoan lạc, dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người” (Br 5:9). Nhưng ta cũng có bổn phận phải theo sự dẫn dắt của Chúa, nhất là trong công việc dọn đường cho ơn cứu độ, theo lệnh Chúa mà dẹp bỏ những núi cao, gò nổng và thung lũng “có tự lâu đời” trong ta, tức những tính hư tật xấu đã ăn rễ sâu trong lối sống của ta.

2. “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (bài Tin Mừng – Lu-ca 3:1-6)

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Ba-rúc loan báo Thiên Chúa cứu độ Giê-ru-sa-lem. Lời tiên tri ấy nay đã ứng nghiệm khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Chúa Giê-su bắt đầu sứ mệnh cứu thế sau những năm sống ẩn dật tại Na-da-rét. Nhưng trước khi Người xuất hiện, có ông Gio-an “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3:3).

Trước khi giới thiệu con người và sứ vụ của ông Gio-an Tiền hô cũng như của Chúa Giê-su, thánh sử Lu-ca đã không quên nói đến khung cảnh thời gian và không gian đạo đời. Ngài muốn trình bày một bối cảnh lịch sử để giúp ta nhận ra tính cách phổ quát của ơn cứu độ, là: “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3:6). Sứ điệp về ơn cứu độ phổ quát ấy phải là cốt lõi lời rao giảng của ông Gio-an. Tuy nhiên, kèm theo lời rao giảng trọng đại này, ông Gio-an muốn có một nghi thức dễ khiến cho người ta cảm động và nghiêm túc tiếp nhận tin mừng cứu độ. Đó là làm phép rửa. Mục đích phép rửa của ông không phải là tha thứ tội lỗi dân chúng, mà chỉ là giúp họ “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”, bởi vì việc tha tội thuộc quyền của “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1:29).

Thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa thì ai cũng có khả năng thấy được, vì ơn cứu độ có tính cách phổ quát. Nhưng tiếp nhận ơn cứu độ lại là chuyện khác, cần phải có đáp trả và nỗ lực của mỗi người. Vì thế, đối với ông Gio-an, muốn kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, không gì tốt hơn là mượn lời ngôn sứ I-sai-a để kêu gọi dân chúng: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3:4). Đường lối là hình ảnh dễ dàng nhất để mô tả một chuyển động, có điểm đi điểm tới. Mọi ngăn cản, khó khăn cần phải được dẹp bỏ. Hình ảnh con đường với thung lũng, núi đồi, khúc quanh co, chỗ lồi lõm thật là thích đáng giúp ta hiểu thế nào là một tâm hồn có những trở ngại khiến cho việc di chuyển giữa họ với Chúa thật khó khăn, hoặc có thể nói là không thể vượt qua nổi. Khó khăn trở ngại không phải về phía Thiên Chúa, mà hoàn toàn về phía con người. Làm sao Chúa đến với ta khi ta cứ theo con đường của ta là con đường tội lỗi và chống lại Chúa? Những thung lũng tham lam, núi đồi kiêu căng, khúc quanh co gian dối và lồi lõm bất trung đã dựng lên những chướng ngại vật cản đường Chúa đến. Do đó, dọn đường cho sẵn và sửa lối cho ngay là việc của ta, còn việc Chúa cứu độ chỉ được thể hiện nếu ta cộng tác với Chúa bằng cách chuẩn bị sẵn sàng.

3. Thánh Phao-lô nói gì về việc chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ? (bài đọc Tân Ước – Phi-líp-phê 1:4-6.8-11)

Ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tiền hô đã loan báo ơn cứu độ và việc chuẩn bị qua những hình ảnh cụ thể về Giê-ru-sa-lem và việc dọn đường lối. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì đề cập đến việc chuẩn bị tâm hồn khi ngài “khẩn khoản nài xin” anh chị em tín hữu hãy làm sao “cho lòng mến ngày thêm dồi dào” và “được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách” trong thời gian họ chờ đợi Chúa đến vào phút cuối đời. “Sống một đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”, đó là châm ngôn của mọi tín hữu muốn lãnh nhận được ơn cứu độ.

Trước hết ta thấy hết sức cảm động vì tấm lòng yêu thương của người cha nơi thánh Phao-lô. Tình thắm thiết của ngài dành cho tín hữu Phi-líp-phê cũng là tình ngài dành cho ta. Ngài chia sẻ những gì ngài đã sống, đó là sống “nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Cuộc sống đầy tràn tinh thần Chúa Ki-tô đã làm cho lòng mến của ngài ngày thêm dồi dào và được nên tinh tuyền. Ngài đã chạy hết quãng đường trong cuộc đua và đã chiến thắng trong cuộc thi đấu (2 Tm 4:7). Những lời ngài tâm sự với Ti-mô-thê phải là những lời khích lệ ta thực thi việc chuẩn bị dọn đường đón nhận Đấng Cứu Độ. Một trong những cách chuẩn bị mà thánh Phao-lô chú trọng nhất, đó là “góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng”, bởi vì nếu muốn rao giảng Tin Mừng thì chính mình phải sống Tin Mừng ấy trước. Cả cuộc đời ta là những tháng năm rao giảng Tin Mừng bằng đời sống. Thánh Phao-lô còn cho ta thấy tương lai chắc chắn của việc sống và rao giảng Tin Mừng, là: “Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Ki-tô Giê-su quang lâm” (Pl 1:6). Nói khác đi, nếu Chúa đã giúp ta làm công việc dọn đường lúc ban đầu khi ta sống trên trần gian này, thì Người cũng giúp ta hoàn tất công việc dọn đường ấy khi Chúa Ki-tô trở lại trần gian ngày cuối đời của ta.


4. Sống Lời Chúa

Ngôn sứ Ba-rúc giúp ta xác tín vào ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho mọi người. Thánh Gio-an Tiền hô lập lại lời ngôn sứ I-sai-a để loan báo ơn cứu độ phổ quát và việc chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì chia sẻ tâm tình yêu thương và khích lệ ta hãy “sống đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Nếu tuần thứ nhất mùa Vọng chú trọng loan báo việc Chúa đến cứu độ, thì Phụng vụ Lời Chúa tuần này nhấn mạnh hơn đến việc ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Chuẩn bị không phải chỉ trong mấy tuần lễ trước ngày lễ Giáng Sinh, nhưng là chuẩn bị cho cả một đời để sẵn sàng đón Chúa trở lại với ta.


Suy nghĩ: Con đường để Chúa đến với tôi và tôi đến với Chúa là con đường nào? Tôi có nhận ra những chướng ngại nào không, và tôi phải dẹp bỏ chúng thế nào?


Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cuàng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men. (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Vọng).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


         

Chúa Nhật II Mùa Vọng

I.          Tìm Hiểu Lời Chúa
1.         Bài Đọc I : Br 5, 1-9
Niềm hy vọng mừng vui cho Giêrusalem
Trong một trang sách giàu chất thi ca, vị Tiên tri đã gửi tới Thành Giêrusalem một thông điệp vui mừng và hy vọng : con cái bị lưu lạc sẽ được Chúa đưa trở về trong danh dự và vinh quang. Dân thành sẽ nhận biết một kỷ nguyên thịnh vượng và hoà bình.
a.         Đây là một trong những bài thánh thi hay nhất trong Kinh thánh ca ngợi lòng nhân ái của Thiên Chúa dành cho dân của Người. Từ sự tủi nhục Thiên Chúa đã đưa dân tiến tới vinh quang; từ khốn khó đến sự phồn vinh; từ đau buồn của khóc than tiến tới niềm vui.
b.         Nhưng để Thiên Chúa gặp lại dân Ngài thì dân  cần phải có sự quay trở về, từ bỏ tội lỗi và sự bất trung là nguyên nhân gây nên sự dữ.. Cần phải mặc lại chiếc áo công chính.
c.         Cũng thế, vì Thiên Chúa chăm sóc con cái Ngài như một người cha tốt nhất, nên trong thử thách, chúng ta cần phải tín thác chờ đợi giờ Thiên Chúa can thiệp. Chắc chắn Ngài sẽ đến.
2.         Bài Đọc II : Pl 1, 4-6.8-11
Hướng tới sự hoàn thiện ngày một hơn.
Sau khi thổ lộ tất cả tình cảm chan chứa của mình dành cho anh chị em Philipphê và niềm vui mừng của mình trước sự thăng tiến đời sống thiêng liêng của họ, Thánh Phaolô mời gọi họ tỉnh táo hơn nữa để tiến tới không lầm lạc trên đường hướng đến Đức Kitô.
a.         Với tình yêu của Đức Kitô, Thánh Phaolô không ngừng cầu nguyện cho những người cộng tác loan báo Tin mừng với mình có được tình yêu nồng cháy trong sự hiểu biết sâu xa về con người và sứ mạng của Đức Kitô.
b.         Đời sống Kitô hữu, ngài giải thích là một sự tăng tiến hướng tới sự hoàn thiện viên mãn trong Đức Kitô.
c.         Bản văn này đuợc đặt trong bối cảnh và tinh thần của mùa vọng thật ý nghĩa. Một thời gian để suy gẫm, để cầu nguyện và để cố gắng tiến triển trong sự nhận biết thánh ý Chúa và trung tín sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn, quảng đại hơn.
3.         Tin Mừng : Lc 3, 1-6
Thánh Luca đưa chúng ta tham dự vào sự khởi đầu sứ mạng của Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan : Gioan, quả nhiên, đã được trao sứ mạng chuẩn bị cho đồng bào của mình đón Đấng Messia sắp ngự đến.
a.         Trước hết, bằng sự am hiểu lịch sử, Luca quan tâm ghi các mốc thời gian đương thời để đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả và sự xuất hiện công khai của Đức Giêsu Kitô. Khi đánh dấu thời gian xuất hiện của Gioan và của Đức Giêsu Kitô với các Vua và Thượng Tế bấy giờ, Luca muốn xác định thời gian của hai sự xuất hiện này trong lịch sử trần thế. Tất nhiên, khi đưa những mốc thời gian sử liệu, Luca không chú tâm đến lịch sử trần thế mà chủ đích là muốn lồng lịch sử này vào trong lịch sử Cứu độ.
b.         Tiếp theo, Luca trình bày vắn tắt tổng quát về lời rao giảng sám hối của Gioan. Sứ mạng của Gioan Tẩy Giả bắt đầu tạo nên một giai đoạn chuẩn bị cận kề vì Đấng Cứu Thế đã đến. Lấy lại lời Tiên tri Isaia loan báo, Luca minh chứng Gioan xuất hiện là giai đoạn cuối cùng của Cựu ước. Giai đoạn này, Dân Chúa được kêu gọi trở về với Thiên Chúa của mình trong tinh thần sám hối và khiêm nhường. Sứ mạng của Gioan là loan báo lần cuối cùng về ơn Cứu độ của Thiên Chúa và bắt nối vào Đức Giêsu Kitô, Đấng đến thực hiện ơn Cứu độ.
c.         Trong bối cảnh mùa vọng, Bản văn này được chọn đọc nhằm mục đích cho thấy rõ điều thiết yếu trong nỗ lực sống đức tin của Kitô hữu là phải khai mở trong tâm hồn một con đường cho Vương quốc của Đấng Cứu Thế ngự đến. Khai mở bằng việc chỉnh sửa lại ý hướng bản thân, bằng việc quyết tâm chống lại những tính hư tật xấu, và bằng việc chấm dứt những mối bất hòa với anh em.
II.        Gợi Ý Bài Giảng
1.         Từ Gioan  Tẩy Giả đến Kitô hữu ngày nay, cùng chia sẻ một sứ mạng : Gioan Tẩy Giả có sứ mạng chuẩn bị dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến với dân Ngài. Sứ mạng của ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử cụ thể như Thánh Sử Luca đã tỉ mỉ ghi lại những dữ liệu lịch sử, mốc thời gian mà Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Chắn chắn không phải là việc thừa thãi khi Luca cố ý ghi lại những nhân vật lịch sử, mốc thời gian : “Đời Hoàng Đế Tibêriô năm thứ 15, Phongxilô Philatô làm Tổng trấn xứ  Giuđêa … có lời Chúa đã kêu gọi Gioan, con Giacaria, trong hoang địa”. Chúa kêu gọi một con người gắn liền với một không gian, thời gian cụ thể để làm một việc Chúa muốn trong chương trình Cứu độ của Ngài, chương trình trải dài suốt lịch sử nhân loại này. Từng thời gian, từng không gian Chúa sẽ chọn gọi những người Chúa muốn để loan báo sứ điệp Cứu độ của Ngài cho mọi người. Nói cách khác, Gioan đã chấm dứt sứ mạng của mình cách tốt đẹp. Ngày nay, sứ mạng đó lại được tiếp nối qua ơn gọi Kitô hữu của mỗi người. Chúng ta không phải là những người của quá khứ, cũng không phải là những người được chọn cho tương lai mà là những con người của ngày hôm nay. Những Kitô hữu của Việt Nam, thời thế kỷ thứ XXI, sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa … Thiên Chúa đã muốn như thế. Ngài đã chọn mỗi người chúng ta là những Gioan Tẩy Giả cho ngày hôm nay, cho những anh chị em thời đại của mình, nơi chốn của mình.
Như thế, trách nhiệm của mỗi Kitô hữu là phải xây dựng niềm tin và ý thức sứ mạng : mỗi tín hữu là một Gioan Tẩy Giả được sai đến trong gia đình, xứ đạo và môi trường xã hội của mình. Từ đó, biết mình phải làm gì, nói gì? để chuẩn bị cho anh chị em chung quanh biết đón nhận Chúa. Để Thực Sự là Gioan Tẩy Giả chính bản thân phải biết hối cải và sống niềm hy vọng chờ đón Chúa. Cần phải chuẩn bị thích đáng cho vai trò Tiền hô của mình. Chuẩn bị bằng mọi cách : từ cách mạng thông tin, đấu tranh chống khủng bố, ủng hộ phong trào hoà bình, đến xây dựng nền văn minh sự sống để chờ Chúa đến.
2.         Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả, một thông điệp thời sự cho Kitô hữu ngày nay : Gioan kêu gọi mọi người sám hối, dọn đường cho Chúa ngự đến. Sứ mạng của ông đã kết thúc khi Đức Giêsu Kitô xuất hiện công khai để loan báo Tin Mừng, thực hiện công trình cứu độ. Gioan là Tiên tri cuối cùng của Cựu ước, là bản lề nối thời Cựu ước với Tân ước, nhưng không vì thế mà sứ điệp của ông không còn gia trị nữ. Đành rằng ngày nay, Đức Giêsu Kitô đã hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, ơn cứu độ đã tuôn đổ cho nhân loại, nhưng để đón nhận được ơn cứu độ thì chính mỗi người phải biết chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận. Trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện xã hội ngày nay, Thiên Chúa muốn đến với con người, đến giữa lòng nhân loại cũng vẫn đang phải đi vào những con đường quanh co khúc khuỷu của lòng người thâm hiểm, những con đường đầy vực thẳm hố sâu của tệ nạn xã hội, những con đường cụt không lối ra của lòng hận thù, chiến tranh và bạo lực trong thế giới. Cho nên, sứ điệp của Gioan vẫn còn đó tính thời sự của nó. Con người và xã hội hôm nay rất cần phải dọn đường để Chúa ngự đến. Dọn từ tâm hồn mỗi người cho đến toàn xã hội. Bên cạnh đó, tuy dẫu ơn Cứu độ của Chúa đã được thực hiện, đã được trao ban nhưng vẫn còn rất nhiều người, nhiều nơi chưa được thấy.
Nhận ra tính thời sự trong sứ điệp của Gioan tẩy Giả sẽ giúp mỗi người sống mùa vọng này ý nghĩa hơn thiết thực hơn. Mùa vọng không chỉ là khoảng thời gian trong chu kỳ của niên lịch phụng vụ, đến hẹn lại lên để rồi làm mọi sự như một thói quen máy móc, thành một nếp sống nhàm chán. Nhưng nhờ đó, sống tích cực hơn, mùa vọng sẽ như làm một điểm mốc để kiểm điểm bản thân, làm mới lại sức sống đức tin; mùa vọng sẽ như là một dấu nhấn để can đảm dấn bước lên đường và mùa vọng sẽ như là một cánh cửa hy vọng mở ra một giai đoạn mới trong hành trình đức tin.
3.         Canh tân cuộc sống theo lời Gioan Tẩy Giả, một đòi hỏi khần thiết : Gioan tẩy Giả kêu gọi sám hối canh tân cuộc sống để chuẩn bị đón Chúa, nhưng bây giờ Chúa đã đến rồi, ơn cứu độ đã trao ban rồi. Mùa vọng chỉ là thời gian nhắc nhớ đến việc Chúa đến lần thứ nhất để hướng lòng chờ đón Chúa đến lần thứ hai. Vậy thì không còn thời gian để lần lữa, để trì hoãn hay để chuẩn bị mà bây giờ là thời gian dứt khoát đón nhận hay không đón nhận Chúa và ơn cứu độ của Ngài. Chính vì thế, lời mời gọi sám hối, canh tân cuộc sống là một đòi hỏi khẩn thiết. Chúa đã đến nhà và Ngài đang đứng gõ cửa chờ đợi mỗi người mở cửa để Ngài vào. ‘Hãy lấp mọi hố sâu, hãy san mọi núi đồi, sám hối canh tân là một đòi hỏi của lòng trong sạch, phải loại bỏ mọi tư tưởng tội lỗi xấu sa thấp hèn, mọi dục vọng bất chính. Chính chúng là cội rễ của mọi tính hư tật xấu : kiêu ngạo, ích kỷ, ghen tuông, hung hăng, bạo lực … Đức Kitô không thoả hiệp với sữ xấu, không ở chung với chúng. ‘ Con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng’, sám hối canh tân là một đòi hỏi về sự công chính, sự công chính trong chiều cao đối với Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng và là Chủ tể muôn vật; là Cha đầy lòng nhân từ, chúng ta sống công chính với Ngài khi tôn thờ và đón nhận Ngài với tất cả tình yêu mến. Sự công chính trong chiều ngang đối với anh chị em, họ là những người cùng chung sống, cùng đồng hành với chúng ta. Biết bao người anh chị em của chúng ta đang lâm vào cảnh bất hạnh, khó nghèo, mồ côi. Sống công chính với họ là chúng ta phải biết yêu thương cảm thông và làm sao mang lại cho họ phẩm giá và sự giải thoát, làm sao chia sẻ cho họ hạnh phúc của mình. ‘ Con đường gồ ghề hãy san cho bằng”, sám hối canh tân là một đòi hỏi về đời sống nội tâm. Tâm hồn chúng ta gồ ghề bởi biết bao những chi phối, lo toan của cuộc sống hàng ngày. Cơm áo gạo tiền, danh vọng, quyền lợi … chiếm hữu tất cả tâm trí, tình cảm của cá nhân, khiến cho tâm hồn không còn chỗ cho Chúa nữa. Chúa đã đến, chúng ta phải liên kết chặt chẽ với Ngài. Trong tâm khảm phải níu giữ Lời Ngài, trong cuộc sống phải thực thi Lời Ngài.
III.       Lời Cầu Chung
* Lời Mở : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã đến để ban tặng cho chúng ta hồng ân cứu độ. Trong tâm tình chúc tụng, ngợi khen Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1.         Hội Thánh có sứ mạng loan báo Tin mừng cứu độ. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi thành phần Hội Thánh luôn biết đồng hành, hiện diện với con người và xã hội hôm nay để làm cho thế giới này ngày càng phát triển những gía trị Tin Mừng.
2.         Chúa đã đến hơn hai ngàn năm qua nhưng thế giới ngày này vẫn còn biết bao nhiêu tệ nạn xã hội, chiến tranh, hận thù và bất công. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia luôn biết đối thoại, cộng tác với nhau xây dựng một thế giới văn minh, hòa bình và tràn đầy tình người.
3.         Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để ai nấy biết nỗ lực canh tân đổi mới cuộc sống theo những giá trị của Tin Mừng.

* Kết Nguyện : Lạy Thiên Chúa là Cha đầy lòng thương xót, Chúa đã yêu thương cho Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến để cứu độ, giải thoát chúng con khỏi kiếp nô lệ cho tọâi lỗi, ma quỉ và sự chết. Xin thương đoái nhận những ý nguyện chân thành của chúng con, cho chúng con biết dọn mình sẵn sàng đón chờ ngày Đức Kitô ngự đến trong vinh quang. Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

THÁNH PHANXICO XAVIER (1506-1552)



Mc 16, 15-20
“Được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”
Kính thưa…….. Lời vàng này của Chúa Giêsu đã thôi thúc, đánh động tâm hồn một học giả tài năng đầy triển vọng. Một giáo sư trẻ tuổi đang sinh sống và giảng dạy tại Bale đã từ bỏ tất cả để bước theo Chúa trên con đường truyền giáo với đầy những nghịch cảnh và khó khăn. Đó chính là Thánh Phanxico Xavier.
Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Ngài qua đời trên đảo Xan-xi-an , ngoài khơi bờ biển Quảng Đông Trung Quốc năm 1552. Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh cùng thời với thánh Ignatiô Loyola, năm 1622; được ghi tên vào lịch Rôma năm 1623 và được tuyên phong là bổn mạng Ấn Độ và các nước Viễn Đông năm 1748. Cùng với thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, năm 1927, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI tuyên phong là bổn mạng các xứ truyền giáo.
Nói đến thánh Phanxicô Xaviê, người Kitô hữu ngày nay nghĩ ngay đến một trong những chứng nhân tiêu biểu nhất của lòng nhiệt thành truyền giáo. Thánh nhân như dấu chỉ Thiên Chúa dùng để chứng tỏ cho nhân loại thấy được tính phổ quát của Giáo hội mà Đức Kitô đã lập và không ngừng tác động cho nó tăng triển sâu rộng. Huấn lệnh mà Thầy Giêsu đã mời gọi Nhóm tông đồ năm xưa như trang TM chúng ta vừa nghe, vẫn luôn mới mẻ và thúc bách suốt dòng lịch sử: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Cảm nghiệm được giá trị và tầm vóc của sứ vụ mà Thầy Chí Thánh kêu mời, Thánh Phanxicô đã kịp thời đáp trả trong tinh thần yêu mến, dám sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh trên hành trình rao giảng.
Nét đẹp trong tinh thần truyền giáo của Thánh Phanxicô phải kể đến trước hết, đó là thái độ từ khước danh vọng trần thế để được nhận lãnh gia tài vĩnh cữu nhờ việc hoán cải những tâm hồn. Vì thế, ngài đã nghiệm thấu lời vàng của Thầy chí thánh Giê-su đã nói: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì ?”. Khi đã chiến thắng được tham dục, ngài không ngừng sám hối theo Tin Mừng để triệt trừ tính kiêu căng trỗi dậy đòi ngài phải khuất phục trước cuồng vọng của xác thịt. Đây chính là bước quan trọng giúp thánh nhân có thể tập trung tới việc cộng tác đắc lực cứu rỗi các linh hồn, làm cho Nước Chúa được rộng lan.
Điểm thứ hai trong con người của ngài chính là lòng trắc ẩn với những cảnh đời nghèo khó. Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng, qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.
Kính thưa….Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, rồi sang Việt Nam, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.
Năm 1622, ngài được Đức Giáo Hoàng Piô X phong thánh và đặt làm quan thầy các công cuộc truyền giáo nước ngoài.
Ước gì lời mời gọi "ra đi và rao giảng cho muôn dân" luôn là tâm niệm hằng ngày của chúng ta sẵn lòng mang Lời Chúa đến cho anh em. Nhưng trước tiên, việc rao giảng này được khởi đầu ngay trong gia đình cho con cái, vợ chồng bạn bè và từ họ mở rộng đến những nơi chúng ta tiếp xúc gặp gỡ.
Xin Chúa luôn đồng hành để chúng ta can đảm vượt qua mọi khó khăn để trung tín trong ơn gọi của mình. Amen