Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

THỨ TƯ TUẦN 2 MÙA VỌNG NĂM C

Mt 11, 28-30
Kính thưa…Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có biết bao điều phải tất bật lo toan để mưu sinh cuộc sống cùng với cơm áo gạo tiền, nhất là những đau khổ thể xác cũng như tinh thần trong đời sống gia đình cũng như ngoài xã hội. Thiếu nhi chúng con cũng đang phải tất bật dành thời gian tích cực ôn tập bài vở để với ước mong đạt thành tích cao nhất cho kỳ thi học kỳ I. Những vất vả và gánh nặng đó nhiều lúc cũng đã làm chúng ta cảm thấy chán nản, thất vọng, muốn ngã lòng, không còn ý nghĩa, không còn hy vọng…Nhưng nếu chúng ta hiểu được ách của Chúa như Ngài nói, thì gánh nặng của chúng ta sẽ thấy nhẹ nhàng biết bao. “Hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. 
Người ta thường nói “có thì mới cho” người khác được. Không ai có thể cho cái mình không có. Ngay từ đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu biết rõ sứ mệnh của Ngài là đến thế gian để đem hạnh phúc cho con người. Chính vì vậy mà Ngài đã đến sống giữa con người để hiểu con người và cảm thông những nỗi gian truân, đau khổ và hạnh phúc của cuộc sống con người. Ngài đã đi khắp nơi từ Palestina tới Giêrusalem để rao giảng, chữa lành như cho người què đi được, người điếc được nghe, người mù được thấy, người chết sống lại… Và những ai đã từng chứng kiến các phép lạ Ngài làm, hoặc những người diễm phúc được Chúa chữa lành thì đều kinh ngạc, cảm phục và yêu mến Ngài đến độ muốn từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài. Vì nơi Ngài, họ tìm thấy một sự sẻ chia gánh nặng cuộc đời mà họ lẽ ra họ phải gánh chịu một mình. Hành động của Chúa Giêsu như thế chẳng phải là Ngài đang mở cho họ một lối thoát để tâm hồn họ được thảnh thơi, nghỉ ngơi nào đó sao?
Cha Giuse Tạ Duy Tuyền, hiện đang là chánh xứ Bình Lâm, giáo phận Xuân Lộc ngài chia sẻ: “Một buổi chiều nọ, ngồi trong tiệm sửa xe đạp, tôi có dịp quan sát khung cảnh náo nhiệt của một đoạn đường trong thành phố. Bỗng một chiếc Honda của một thanh niên từ trong hẻm lao thẳng ra và tông vào xe của một thiếu nữ. Rất may, cả hai người đều không bị thương tích ; nhưng chiếc quai giỏ bên tay xe của chị bị đứt. Trước mặt họ, những trái hồng văng tung toé. Hối hận vì hành động của mình, anh thanh niên vội bước đến xin lỗi và nhặt những trái hồng lên cho chị. Với thái độ điềm tĩnh, chị mỉm cười nói : “Xin lỗi anh, tôi thắng cũng không kịp”.
Kính thưa…Quả là điều thật dễ thương trong cuộc sống, khi con người biết biểu lộ tình thương, sự hiền lành và khiêm nhường của chính Chúa Giêsu, vị Thầy của chúng ta. Thật dễ thương nhưng chẳng dễ thực hiện, bởi dư luận vẫn cho rằng hiền lành là ngu xuẩn và khiêm nhường là nhu nhược.
Vì biết bao lần chỉ vì một va quẹt nhỏ mà lời qua tiếng lại rồi mang dao thanh toán nhau. Biết bao lần bà chẳng nhịn, ông chẳng nhường nên dẫn đến xô xát nhau không chỉ người dưng mà cả những người thân trong gia đình như vợ chồng, anh em, con cái . . .
Nếu mỗi người biết học cùng Chúa bài học của hiền lành và khiêm nhường thì đâu có những cảnh đau thương diễn ra hằng ngày. Nếu mỗi người biết sống hiền lành thì đâu có ghen tương, tranh chấp. Nếu mỗi người biết sống khiêm nhường thì đâu có tranh giành quyền lực mà làm hại lẫn nhau.
Ước gì chúng ta hãy biết học cùng Chúa sự hiền lành và khiêm nhường để gìn giữ sự hòa hợp cho những người chúng ta đang sống. Xin đừng vì tính kiêu căng tự phụ mà làm khổ tha nhân. 
Lạy Chúa Giê-su,
Cuộc đời chúng con luôn đong đầy những gánh nặng, những chồng chất hai vai. Chúng con luôn cảm thấy mệt mỏi, chán chường vì những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Xin cho chúng con biết chạy đến với Chúa, biết trao vào tay Chúa gánh nặng của cuộc sống để nhẹ vơi những ưu phiền lắng lo.
Và xin cho mỗi người chúng con biết sống khiêm nhưởng và hiền lành như Chúa. Amen

10/12/2015 Thứ Năm Tuần II Mùa Vọng Năm C


PHÚC ÂM: Mt 11, 11-15
"Chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, nhưng người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ông. Từ thời ông Gioan Tẩy Giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Tất cả các tiên tri và lề luật đã tuyên sấm cho đến Gioan và nếu các ngươi muốn hiểu, thì chính Gioan là Elia, kẻ phải đến. Ai có tai, thì hãy nghe!" Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Tin Mừng hôm nay: "Thật, Ta bảo các ngươi hay, trong con cái do người nữ sinh ra chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả". Con người có lẽ ai cũng mong ước được như Gioan Tẩy Giả. Chúng ta cũng thấy trong một đoạn Tin Mừng khác, lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy thì có một người đàn bà buột miệng nói rằng: "Phúc thay dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú. Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng: :Ai nghe và giữ lời Chúa thì còn có phúc hơn nhiều". Hoặc chúng ta cũng thấy trong lúc Chúa Giêsu đang thi hành sứ mệnh công khai của Ngài, Mẹ Maria và các người thân thuộc tìm đến nghe, nhưng vì dân chúng quá đông không chen vào được, có mấy người thấy thế nói với Chúa Giêsu: "Kìa Mẹ và anh em Thầy đến tìm Thầy", Chúa Giêsu liền trả lời: "Ai là Mẹ Ta, ai là anh em Ta? Ðó là những kẻ nghe và giữ lời Ta".
Qua những lời trên, Chúa Giêsu cho chúng ta một cái nhìn mới, một ý nghĩa mới: thân thuộc, bà con bằng máu mủ không quan trọng cho bằng thân thuộc bà con thiêng liêng: "Ai theo Ta mà không từ bỏ cha mẹ anh em thì chưa xứng đáng là môn đệ Ta". Nói thế không phải chúng ta không tôn kính hay không yêu mến cha mẹ chúng ta, vì giới răn thứ tư trong Mười Ðiều Răn, Ðức Kitô dạy rằng: "Hãy thảo kính cha mẹ". Giới răn này nằm sau giới răn thứ nhất: "Thờ phượng Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự".
Chúng ta đừng đặt nặng vấn đề gia đình, vấn đề tình thân thuộc máu huyết mà chúng ta quên mất việc thờ Thiên Chúa. Chúng ta cũng đừng tìm danh giá, giàu sang bên ngoài mà quên mất lương thực Thần Linh nuôi sống chúng ta, đó là Mình và Máu Chúa. Mình Máu Chúa nuôi sống phần hồn, lương thực Lời Chúa nuôi sống tinh thần chúng ta.
Từ Gioan Tẩy Giả trở về sau, tức là từ khi Chúa Giêsu Kitô đem ơn cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho nhân loại thì Nước Trời phải dùng sức mạnh mới chiếm lấy được và kẻ nào mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Trước Chúa Kitô chưa ai có được ơn cứu rỗi cho đến khi Chúa Kitô chết trên Thánh Giá Ngài mới kéo tất cả mọi sự lên cùng Ngài. Ai muốn nhận được ơn cứu rỗi đó phải qua cửa hẹp, phải vác thập giá mình mà theo Chúa mới vào được Nước Trời, vì ngày nào có sự khốn khó của ngày ấy.
Theo Chúa để vào Nước Trời, chúng ta phải chiến đấu với chính bản thân mình, phải từ bỏ những đam mê, những thói quen không tốt, những việc làm không chính đáng, phải hy sinh cho người thân quen thuộc trong gia đình, cho tha nhân và làm tất cả những gì khi có thể để giúp đỡ người khác mới thực sự là dấn thân thi hành giới răn "Mến Chúa Yêu Người".
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn hiểu rõ được giá trị của sự yêu thương, tránh tìm những gì hào nhoáng bên ngoài nhưng thực sự sống cảm thông, yêu thương nhau và tha thứ khoan dung hơn để mong chờ Ðấng Cứu Thế đến. Amen.

08/12/2015- Thứ Ba Tuần II Mùa Thường Niên Năm C


Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm
PHÚC ÂM: Lc 1, 26-38
"Chào Trinh Nữ đầy ân sủng, Chúa ở cùng Trinh Nữ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào trinh nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ, trinh nữ có phúc hơn các người nữ". Nghe lời đó, trinh nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa. Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp và triều đại Người sẽ vô tận!"


Nhưng Maria liền thưa với Thiên Thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?" Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế Đấng trinh nữ sinh ra sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được". Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và Thiên Thần cáo biệt trinh nữ. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Từ ngày nguyên tổ phạm tội, quan hệ nồng thắm giữa Thiên Chúa và loài người bị cắt đứt. Tội lỗi khiến con người bị tách lìa và xa cách Thiên Chúa bằng một khoảng cách gần như bất tận.
Vì tự cách ly với Thiên Chúa là nguồn mạch hạnh phúc và ân sủng, con người phải héo hon và tàn lụi dần như thân phận của những chiếc lá lìa cành.
Nhưng Thiên Chúa là Cha giàu lòng yêu thương không nỡ để cho loài người phải vĩnh viễn xa lìa Ngài là cội nguồn sự sống. Ngài lên kế hoạch xây dựng một nhịp cầu vĩ đại, nối liền trời với đất, giao hoà Thiên Chúa với con người.
Ðể thực hiện kế hoạch nầy, Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến gặp Ðức Maria, mời Mẹ cộng tác vào công trình hệ trọng nầy.
Sau khi biết ý định Thiên Chúa, với tinh thần sẵn sàng vâng phục của người tôi tớ, Ðức Maria thưa với thiên thần rằng: "Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền."
Từ lúc đó, Ðức Maria trở thành nhịp cầu nối liền trời với đất, nhịp cầu kỳ diệu nhất trong lịch sử nhân loại. Thế là qua Mẹ Maria, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống với loài người, mặc lấy xác phàm và sống giữa nhân loại, để tỏ bày cho mọi người nhận biết Thiên Chúa là Cha của mình và dẫn đưa họ về với Chúa Cha.
Một kỷ nguyên mới được khởi sự nhờ sự vâng phục và hợp tác của Mẹ Maria. Muôn người trên khắp thế giới ngót hai ngàn năm qua đã nhờ Mẹ mà được giao hoà với Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ do Ðức Giê-su mang đến.
* * *
Tuy nhiên, cho tới hôm nay vẫn còn rất nhiều người chung quanh chúng ta chưa nhận biết Ðấng Cứu Ðộ nên Thiên Chúa rất cần những nhịp cầu khác để đến với họ và đưa họ về với Ngài.
Thiên Chúa thiết tha mời gọi mỗi chúng ta hãy nối tiếp vai trò của Mẹ Maria, bắc thêm những nhịp cầu mới để đưa Chúa đến với những con người chưa biết Chúa đang sống chung quanh.
Mẹ Maria nhận thức phận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn nên đã mau mắn đáp lời Chúa mời gọi. Còn chúng ta là ai mà cứ mãi nấn ná chần chừ, chẳng muốn thi hành ý Chúa, chẳng muốn tuân lệnh Ngài truyền để trở thành nhịp cầu đưa Chúa đến với tha nhân?
* * *
Nguyện xin Chúa giúp chúng con noi gương bắt chước Mẹ Maria, nhận ra mình chỉ là tôi tớ hèn mọn, mà phận làm tôi thì không được làm trái mệnh lệnh Chúa truyền.
Nguyện xin Mẹ dạy chúng con mau mắn đáp lời Chúa mời gọi và thưa cùng Ngài: "Nầy tôi là tôi tớ Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền."AMEN.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Tô mì của người lạ


Tối hôm đó Sue cãi nhau với mẹ, rồi không mang gì theo cô đùng đùng ra khỏi nhà. Trong lúc đang trên đường, cô mới nhớ ra rằng mình chẳng có đồng bạc nào trong túi, thậm chí không có đủ mấy xu để gọi điện về nhà.

Cùng lúc đó cô đi qua một quán mì, mùi thơm bốc lên ngào ngạt làm cô chợt cảm thấy đói ngấu. Cô thèm một tô mì lắm nhưng lại không có tiền!

Người bán mì thấy cô đứng tần ngần trước quấy hàng bèn hỏi:

- Này cô bé, cô có muốn ăn một tô không?

- Nhưng... nhưng cháu không mang theo tiền... - cô thẹn thùng trả lời.

- Ðược rồi, tôi sẽ đãi cô - người bán nói - Vào đây, tôi nấu cho cô một tô mì.

Mấy phút sau ông chủ quán bưng tới cho cô một tô mì bốc khói. Ngồi ăn được mấy miếng, Sue lại bật khóc

- Có chuyện gì vậy? - ông ta hỏi

- Không có gì. Tại cháu cảm động quá! - Sue vừa nói vừa lấy tay quẹt nước mắt.
- Thậm chí một người không quen ngoài đường còn cho cháu một tô mì, còn mẹ cháu, sau khi cự cãi đã đuổi cháu ra khỏi nhà. Chú là người lạ mà còn tỏ ra quan tâm đến cháu, còn mẹ cháu.... "bả" ác độc quá!!" - cô bé nói với người bán mì...

Nghe Sue nói, ông chủ quán thở dài:

- Này cô bé, sao lại nghĩ như vậy? Hãy suy nghĩ lại đi, tôi mới chỉ đãi cô một tô mì mà cô cảm động như vậy, còn mẹ cô đã nuôi cô từ khi cô còn nhỏ xíu, sao cô không biết ơn mà lại còn dám cãi lời mẹ nữa?

Sue giật mình ngạc nhiên khi nghe điều đó.

"Tại sao mình lại không nghĩ ra nhỉ? Một tô mì của người lạ mà mình cảm thấy mang ơn, còn mẹ mình đã nuôi mình hàng bao năm qua mà thậm chí mình chưa bao giờ tỏ ra quan tâm đến mẹ dù chỉ một chút. Mà chỉ vì chuyện nhỏ mình lại cự cãi với mẹ.

Trên đường về, cô thầm nghĩ trong đầu những điều cô sẽ nói với mẹ:" Mẹ ơi, con xin lỗi. Con biết đó là lỗi của con, xin mẹ tha thứ cho con..."

Khi bước lên thềm, cô nhìn thấy mẹ đang lo lắng và mệt mỏi vì đã tìm kiếm cô khắp nơi. Nhìn thấy Sue, mẹ cô nói:" Sue, vào nhà đi con. Chắc con đói bụng lắm rồi phải không? Cơm nước mẹ nấu xong rồi, vào nhà ăn ngay cho nóng..."
Không thể kiềm giữ được nữa, Sue òa khóc trong tay mẹ.

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta dễ cảm kích với những hành động nhỏ mà một số người chung quanh làm cho chúng ta, nhưng đối với những người thân thuộc, nhất là cha mẹ, chúng ta lại xem sự hi sinh của họ như chuyện đương nhiên...

Tình yêu và sự quan tâm lo lắng của cha mẹ là món quá quý giá nhất mà chúng ta được tặng từ khi mới chào đời.

THỨ BẢY 05.12 - Tuần I Mùa Vọng

Is 30:19-21.23-26; Mt 9:35 – 10,1.6-8
Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.
SỨ VỤ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ
Quán ăn bên đường tấp nập người vô ra, ăn uống náo nhiệt. Bỗng: “Rầm!”. Một cụ già bị xe tông ngã soài trước hàng quán. Chiếc xe phóng nhanh tẩu thoát. Cụ già đau đớn, loạng choạng cố gượng dậy. Mọi người vẫn thản nhiên ăn uống, chẳng ai đến nâng cụ dậy. Nhìn. Lắc đầu. Nói: Rõ khổ!
Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu ấy được biểu lộ trọn vẹn nơi Đức Giêsu. Vì yêu thương nhân loại, Đức Giêsu đã xuống thế làm người và chết đau thương trên thập giá để mang ơn cứu rỗi cho chúng ta.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không muốn cứu rỗi thế giới một mình. Người muốn con người cộng tác với Người. Khi thấy đám đông vất vưởng, bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt, Đức Giêsu đã sai các môn đệ đến với họ để nâng đỡ, cứu giúp và đem ơn cứu độ đến cho họ.
Hôm nay, chúng ta có sẵn sàng cộng tác với Đức Giêsu như Người mời gọi?
Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở nên những sứ giả nhiệt thành loan báo Tin mừng và trao tình thương Chúa cho tha nhân.
Hình minh hoạ: Thiên Chúa của người nghèo khó (còn có tên là Saint Russia), tranh sơn dầu, vẽ năm 1899, của họa sĩ người Nga nổi tiếng Mikhail Nesterov (1862-1942).



CHÚA NHẬT 06.12 - Chúa Nhật II Mùa Vọng

Br 5:1-9; Pl 1:4-6.8-11; Lc 3:1-6

Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.
SÁM HỐI
Người xưa dạy rằng: Nếu gây ra lỗi lầm thì công khai nhận lỗi lầm ấy, rồi tìm nguyên nhân và đề ra biện pháp hầu quyết tâm sửa chữa. Thái độ đối với lầm lỗi như thế là thước đo một người chân chính.
Cuộc đời con người là một cuộc lữ hành tiến về quê trời. Trên con đường này, luôn có những thách đố, cám dỗ từ tiền tài, vật chất, danh vọng, quyền lực... khiến lòng người nhiều lúc điên đảo. Cho nên, không ít thì nhiều, con người khó tránh khỏi những lỗi lầm với Thiên Chúa, với tha nhân và với bản thân. Vì thế, con người luôn được mời gọi sám hối, quay về giao hòa với Thiên Chúa, với anh chị em và với bản thân.
Trong mùa Vọng, Giáo hội kêu mời con cái mình trở về với nguồn cội là Thiên Chúa. Trình thuật Tin mừng mời gọi chúng ta “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”. Thật vậy, Thiên Chúa là Cha luôn đi bước trước trong việc bày tỏ tình thương với con người. Lòng ăn năn sám hối là lời đáp trả trước tình thương vô bờ của Thiên Chúa.
Trình thuật Tin mừng còn đưa ra những chỉ dẫn để chúng ta thể hiện lòng sám hối của mình. Đó là: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Những chỉ dẫn này, khi mới nghe, có thể chúng ta thấy nhẹ nhàng, nhưng để thực hiện trong suốt cuộc đời, đòi buộc phải có một sự dấn thân quyết liệt và hy sinh to lớn.
Lạy Chúa, xin ban sức mạnh cho chúng con, để chúng con luôn sẵn lòng vâng nghe và thi hành Lời Chúa trong cuộc sống.

THỨ HAI SAU CN II VỌNG NĂM C Lu-ca 5, 17-26

Chúng ta vừa nghe một câu truyện Tin mừng sống động về việc Chúa Giêsu giảng dạy trong một ngôi nhà kia và việc Ngài chữa bệnh cho người bất toại ở đó. Để hiểu rõ việc người ta thả nguyên cái giường có người bệnh nhân nằm trên đó từ trên mái nhà xuống trước mặt Chúa Giêsu như thế nào, thì chúng ta nên biết thiết kế về ngôi nhà của người Palestine. Nhà của họ có mái bằng, chỉ hơi nghiêng một chút đủ cho nước chảy xuống. Mái gồm những cây đà ngang gác từ bờ tường này sang bờ tường bên kia, cách nhau bằng những khoảng ngắn. Những khoảng đó được che bằng những cành nhỏ đan lại, trét vữa và láng cho bằng mặt. Rất dễ dàng dỡ ra để có một khoảng trống giữa hai cây đà ngang. Mỗi ngôi nhà đều có bậc thang để lên trên mái một cách dễ dàng.
Trở lại diễn tiến câu chuyện: khi gặp được Chúa do những người nhà tốt bụng và có sáng kiến thả mình từ mái nhà xuống, lòng tin của anh bất toại nhiều năm đã bùng cháy lên sau nhiều năm trời tắt ngúm. Cuộc gặp gỡ này đánh dấu một khúc quanh trong cuộc đời anh. Thật ra thì ước nguyện duy nhất của anh cũng như của thân nhân và cả đám đông là làm sao được khỏi bệnh đã. Nhưng lời tuyên bố của Chúa lại làm cho mọi người ngỡ ngàng “Hỡi con, tội của con đã được tha”. Họ ngỡ ngàng vì tưởng đâu gặp được vị lương y cao tay, ai dè gặp phải một vị giải tội cho kẻ tê bại. Người ta đem anh ta tới vì anh tê bại chứ không phải vì anh tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu đi ngược lại quan niệm của họ. Chúa chữa trị tê liệt tâm hồn trước đã và đấy mới là mục đích của Chúa. Bệnh nhân đau khổ không phải vì đau yếu thể xác cho bằng đau yếu tâm hồn vì thiếu vắng Chúa. Chúa Giêsu thấy anh bất toại đau khổ về thể xác nhưng Chúa muốn chỉ ra cái đau khổ trong tâm hồn mới quan trọng cho anh. Cho nên Chúa muốn cho anh và mọi người thấy phần hồn phải ưu tiên giải quyết trước khi phần thân thể lành lặn. Chữa bệnh phải chữa tận gốc rễ mới được. Vì thế trước khi chữa thân xác, Chúa tha tội cho bệnh nhân đã. Để minh chứng điểm đó, Chúa nói: “Tội lỗi của con đã được tha”. 
Nghe thấy thế những người biệt phái cho rằng: Chúa nói lộng ngôn, vì dám kể mình ngang với Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Còn đây Chúa Giêsu nhân danh chính Ngài, Ngài có quyền. Và để minh chứng cho việc tha tội và để người Do thái biết đến uy quyền tha tội này, Chúa đã làm phép lạ ngay trước mắt mọi người. Chúa bảo: “Hãy chỗi dậy vác giường mà về” (c.24). Anh ta vác đi nghênh ngang trước sự ngạc nhiên kinh hoàng của mọi người. Anh ta và cả dân chúng lúc ấy tôn vinh tạ ơn Chúa. 
Anh chàng bất toại bị bất lực hoàn toàn nên phải nhờ tới thân nhân giúp đỡ. Khi chúng ta lầm lỗi cũng thế. Chúng ta không thể tự mình chỗi dậy đi về Nước trời được đâu. Một khi có tội ta giống như bị sa xuống vực thẳm cần một người ở ngoài kéo lên. Người ấy là Chúa Giêsu.
Mùa vọng về là dịp chúng ta tha thiết xin Chúa kéo chúng ta ra khỏi hố thất vọng của tội lỗi và giúp chúng ta trở về với đường chính nẻo ngay, chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón Chúa đến trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Amen.

CN II MÙA VỌNG NĂM C - 2015 NGƯỜI PHU QUÉT LÁ


Trong Tác phẩm “ Người phu quét lá”, ĐGM Phêrô Nguyễn Khảm đã ví von, đời Linh mục như người phu quét lá: “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu” (Ns.Trịnh Công Sơn).
Người phu quét lá bên các nẻo đường, dù mưa dầm hay nắng hạn, họ vẫn ngày ngày có mặt từ sáng sớm tinh sương để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục, mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người. Trong ý nghĩa đó, có thể nói, Gioan Tiền Hô, mà trang TM hôm nay nhắc đến, cũng là “Người phu quét lá” dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại. 
Kính thưa…Bước vào tuần thứ II Mùa Vọng, bao giờ GH cũng cho chúng ta gặp con người mang tên Gioan, vị ngôn sứ đi trước dọn đường và dọn lòng người để đón Đấng Cứu Thế. Thực thi sứ vụ dọn đường, Ngôn Sứ Gioan luôn gắn bó với Thiên Chúa và sống gần gũi với con người. Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho mọi người đến với Chúa Cứu Thế.
Ông chính là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã đón nhận cái chết như một thiên anh hùng ca cho sứ vụ một cách tuyệt vời. 
Trang TM chúng ta vừa nghe, Gioan đã nhắc lại lời tiên tri Isaia và mời gọi dân chúng dọn đường và sám hối: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường nhấp nhô phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính. 
Con đường mà Gioan mời gọi chúng ta dọn, đó chính là đường đi vào tâm hồn. Đó là con đường nội tâm. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống. Mỗi khi đất nước đón tiếp một nguyên thủ quốc gia từ nước khác tới thăm, người ta thường hô hào sửa sang đường sá, làm sạch đẹp môi trường cảnh quang. Đó là biểu lộ lòng hiếu khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại với chúng ta. Cho nên, việc dọn đường cho Chúa đến là cần thiết. Con đường mà chúng ta phải dọn, phải sửa sang để lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế, và để đón Chúa, đó là những chông gai tội lỗi, đó là những đam mê của cải vật chất hay danh lợi, hoặc đó là những thói hư tật xấu. 
Kính thưa…Hôm nay bước vào tuần lễ thứ hai của Mùa Vọng, cả thế giới Kitô giáo đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, thậm chí còn có cả những người không tôn giáo hay ngoài kitô giáo cũng nô nức chào đón, các cửa tiệm tràn ngập cây thông Giáng sinh, quà tặng Giáng sinh, món ăn, quần áo, đồ chơi hay những cánh thiệp cho Giáng sinh. Nhiều nhà đang sửa soạn đón GS với những cây thông hay hang đá trong gia đình. Giáo xứ chúng ta cũng vừa kịp hoàn thành bức phông lớn hình gia đình Thánh Gia người Việt ngoài tiền sảnh nhà thờ. Có thể nói đây là bức phông được hoàn tất sớm nhất trong khu vực giáo hạt Hàm Tân. Đâu đó nhạc Giáng sinh cũng đã rộn vang và lòng người đã thấy rạo rực niềm vui GS. 
Nhưng phải dọn mừng lễ Giáng sinh thế nào cho xứng đáng, cho đúng theo Tin mừng của Chúa mà Gioan đã hô hào :”Hãy dọn đường cho Chúa đến”. Con đường tâm hồn của chúng ta đã tốt chưa? Và lòng chúng ta đã trở nên thửa đất mầu mỡ để đón ơn Chúa chưa ? Hay lòng chúng ta lại trở nên một sa mạc cằn cỗi ?
Dọn đường tâm hồn là chấp nhận biến đổi sa mạc của cõi lòng thành miền đất trù phú, miền đất thấm đẫm ơn Chúa. Bởi vậy, người ta phải chấp nhận sự hao mòn sức lực, chấp nhận tự gọt giũa chính mình, chấp nhận nhiều khó khăn khác nhau. Vì biến đổi như thế là sám hối. Và sám hối thật lòng đòi phải có dấn thân thực sự để tự mình từ nay dám cắt bỏ một thói quen, một đam mê, một tật xấu… để lòng mình biết yêu hơn, khiêm nhường hơn, sống phục vụ hơn, vị tha hơn…
Mừng lễ Giáng sinh là chúng ta kỷ niệm việc Chúa đã xuống trần hơn hai ngàn năm rồi, đồng thời Chúa sẽ còn đến trong ngày chung thẩm nữa. Nếu thánh Gioan Tiền hô đã làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, bằng việc làm và bằng chính đời sống của Ngài. Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa trong môi trường của chúng ta. Nhưng muốn cho lời chứng của chúng ta có hiệu quả, trước hết chúng ta phải có đời sống xứng đáng, phải đoạn tuyệt với tội lỗi và những tính mê nết xấu và thể hiện một đời sống bác ái yêu thương. Đó là những việc chúng ta cần làm để chuẩn bị mừng Chúa Giáng sinh.
Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Cả cuộc đời Gioan chỉ một tâm nguyện là làm “Người phu quét lá” dọn lòng người khác. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gioan để trở thành “ Người phu quét lá” cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và cho mọi người xung quanh chúng ta. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình. Amen!

Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng Năm C

HÃY CHẠNH LÒNG THƯƠNG (Mt 9,35-10,1.6-8)
Có một gia đình kia gồm 7 anh chị em. 6 anh chị em lớn rất giàu có, nhưng còn gia đình đứa em út thì rất nghèo khổ, vợ với con lại nay ốm mai đau. Thế nhưng các anh chị lớn chẳng những không giúp gia đình đứa em tội nghiệp nghèo nàn này, trái lại họ còn kéo bè kéo phái gây đau khổ cho em mình. 
Kính thưa…Là anh chị em ruột với nhau, nhưng tại sao họ lại không yêu thương đùm bọc lẫn nhau?

Gia đình mà chúng ta vừa nghe kể là một phản ánh của thời đại hôm này. Đó là một phần tất yếu của cuộc sống. Thật vậy! Cuộc sống hôm nay với bao tất bật lo toan cơm áo gạo tiền khiến chúng ta chỉ chỉ nghĩ đến mình, chỉ lo cho bản thân mình mà ít khi nghĩ đến người khác, quan tâm giúp đỡ người khác.
Với Chúa Giesu và tin mừng cứu rỗi của Ngài thì khác.Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu thấy đám đông lầm than vất vưởng thì Ngài chạnh lòng thương. Thánh sử Matthêu nói rõ: “Thấy dân chúng đông đảo, Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than, vất vưởng, như chiên không người không chăn dắt”. Chúa THẤY và Chúa CHẠNH LÒNG THƯƠNG. 
Thánh Matheu còn cho chúng ta thấy một Đấng Mesia thao thức với sứ mạng loan báo Tin Mừng và mời gọi sự cộng tác của các tông đồ và chúng ta nữa vào sứ mạng đó khi đưa ra lời đề nghị:Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin Chủ sai thợ ra gặt lúa về. Ngài muốn chúng ta cộng tác với Ngài bằng lời cầu nguyện. Tiếp theo việc cầu nguyện, là việc Chúa mời gọi các môn đệ và chúng ta trở thành những cánh tay nối dài của Chúa, tiếp tục sứ mạng của ngài và làm cho Tin Mừng được lan tỏa khắp nơi.
Kính thưa… Đấng Mesia mà muôn dân mong đợi chính là Đức Giêsu. Ngài là Đấng cứu độ chúng ta. Tuy nhiên Ngài sẽ không thể bước vào nhà tâm hồn chúng ta nếu chúng ta không mở cửa đón tiếp Ngài. Người sẽ không thể biến đổi thế giới, và tâm hồn, nếu chúng ta không sẵn sàng. 
Chúa cũng đang muốn chúng ta mang trái tim của Chúa, bước đến với anh em, chạnh lòng thương trước những đau khổ của đồng loại và ra tay xoa dịu những bệnh tật tâm hồn và thể xác của anh em.
Khi mỗi người thực hiện như thế, thì mùa vọng sẽ không chỉ là chờ đón hay kỷ niệm một biến cố quá khứ, mà thực sự là muà ân phúc, mùa hy vọng cho mỗi người mỗi gia đình và cả thế giới. Xin Chúa biến đổi chúng ta nên những cộng tác viên tích cực của Chúa, đem Tin Mừng của Chúa đến cho anh em chung quanh. 
Sứ mạng mà Đức Giê-su trao ban cho các Tông đồ xưa kia cũng chính là lời mời gọi mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Trước những nhu cầu của anh chị em trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, những người ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày, xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức lời mời gọi của Chúa để luôn nhiệt thành với việc giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính đời sống của mình. 
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa để con biết rung cảm trước những nỗi bất hạnh của anh chị em. Xin cho con đôi tay của Chúa để con biết mở rộng và trao ban. Xin cho con đôi chân của Chúa để con đi đến với anh chị em đang cần đến con. Amen.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

4.12.2015 – Thứ sáu Tuần 1 Mùa Vọng

Lời Chúa: Mt 9, 27-31
Ðang khi Ðức Giêsu ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: “Lạy Con Vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” Khi Ðức Giêsu về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi tin.” bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy.” Mắt họ liền mở ra. Người nghiêm giọng bảo họ: “Coi chừng, đừng cho ai biết!” Nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Người trong khắp cả vùng.
Suy niệm:

Trong kho tàng truyện cổ Ấn Độ người ta đọc được câu chuyện này. Ngày xưa có mấy anh mù rủ nhau đi xem voi. Họ được dẫn đến cạnh một con voi rất to để họ dùng tay mà sờ vào nó. Anh thứ nhất sờ được vào cái vòi của con voi. Sờ xong anh đắc chí hô to:
- Tôi biết voi giống cái gì rồi, nó giống như một con rắn.
Anh thứ hai sờ vào chân voi rồi nói:
- Đâu phải, voi giống như cái cột nhà.
Anh thứ ba sờ vào sườn voi, phản đối:
- Các anh điên hả? Voi giống như một bức tường chứ!.
Anh thứ tư sờ vào tai voi, bật cười.
- Các anh nói gì vậy? Voi giống như một tàu lá chuối.
Đúng là mù! Mù là không thấy và vì không thấy nên không biết hay biết một cách phiếm diện, biết không đầy đủ.
Cái mù thể xác đã khốn khổ như thế, nhưng còn có một loại mù còn khốn khổ hơn nữa, người ta gọi đó là mù lương tâm, mù không dám nhìn, không dám nhận sự thật. Đây là thứ mù thường xảy ra trong đời sống con người.
Đúng thế, không dám nhận ra sự thật cũng là một bệnh mù. Bệnh này rất nguy hiểm, nó thường bộc phát và lây lan nhanh. Nguyên nhân của căn bệnh này là tính kiêu ngạo, một loại vi trùng rất khó trị và thường gây ra những hậu quả rất tai hại cho những người mắc bệnh này.
Chúng ta lấy một vài ví dụ trong Tin Mừng, chẳng hạn ông Philatô đứng trước mặt Chúa Giêsu nhưng chỉ thấy Ngài như một tên tử tội cần phải loại trừ chứ không thể nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Vua Hêrôđê cũng vậy, mặc dù được đứng trước trực diện với Chúa, nhưng chỉ thấy Ngài như một người điên.
Ngược lại, hai người mù trong bài Tin Mừng hôm nay, mặc dù họ mù hai con mắt thể lý, nhưng trái lại họ được sáng con mắt đức tin, con mắt tâm hồn, cho nên họ đã nhận ra Chúa là Đấng con Vua Đavít. Họ đã tin Chúa và được Chúa chữa lành cho họ được nhìn thấy.
Chúng ta có thể sáng mắt thể lý, vì chúng ta nhìn thấy rõ ràng những công trình của Chúa qua vũ trụ van vật, nhưng có khi chúng ta lại mù con mắt đức tin, vì chúng ta đã không tin vào Thiên Chúa qua các dấu chỉ của sự vật, hay các biến cố chung quanh để nhận ra thánh ý Chúa mà thi hành.
Chính Chúa Kitô mặc khải Ngài là ánh sáng. Nếu chúng ta hướng về Ngài chúng ta sẽ được ánh sáng. Còn nếu chúng ta quay lưng lại với Ngài, thì trước mắt chúng ta chỉ là bóng tối dày đặc. Vì vậy, chỉ một cái nhìn có thể đưa chúng ta tới ánh sáng hay bóng tối. Nếu chúng ta bỏ Ngài là bỏ ánh sáng, là đi vào bóng tối.
Chúa Giêsu chính là ánh sáng. Chỉ trong Ngài, chúng ta mới thực sự là người sáng mắt. Chỉ trong Ngài chúng ta mới biết chúng ta là ai, và sẽ đi đến đâu. Dĩ nhiên, để có thể tiếp nhận được ánh sáng của Ngài, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải ý thức được sự mù lòa của mình và quyết tâm ra khỏi sự mù lòa ấy.
Phêrô Nguyễn Bùi Quốc Khánh SDB



Chúa Nhật II mùa Vọng



Thiên Chúa dự định thực hiện một việc tốt lành cho dân Người, đó là ban ơn cứu độ. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khai triển đề tài ấy qua đoạn sách ngôn sứ Ba-rúc, đồng thời qua sứ điệp của ông Gio-an Tiền hô và lời khuyên của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê, đưa ra một chương trình sám hối giúp ta tiếp nhận ơn cứu độ.

1. Giê-ru-sa-lem được khôi phục là hình bóng nói lên ơn cứu độ (bài đọc Cựu Ước – Ba-rúc 5:1-9)

Sách ngôn sứ Ba-rúc nói về cuộc lưu đày của Ít-ra-en tại Ba-by-lon và về viễn tượng dân được giải phóng rồi trở về Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên viễn tượng giải phóng ấy không chỉ mang tính cách lịch sử Ít-ra-en, mà còn ám chỉ về thời cứu độ Thiên Chúa thực hiện qua Chúa Ki-tô. Giê-ru-sa-lem đã trở nên điêu tàn sau khi dân Ít-ra-en bị phát lưu. Giờ đây, ngôn sứ Ba-rúc nhìn thấy một Giê-ru-sa-lem được phục hồi còn vinh quang rực rỡ hơn cả trước kia. Đức cha Êu-xê-bi-ô, giám mục Xê-da-rê, trong bài chú giải sách I-sai-a đã nói về vai trò của Giê-ru-sa-lem: “Quả thật, Xi-on đây cũng chính là Giê-ru-sa-lem, đã nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa, là thành được xây ở trên cao, trên núi của Thiên Chúa, nghĩa là trên Ngôi Lời, Con Một của Người”.

Vậy cái nhìn của ngôn sứ Ba-rúc về Giê-ru-sa-lem được cứu độ như thế nào? Hình ảnh đầu tiên về Giê-ru-sa-lem được cứu độ là “cởi bỏ áo tang khổ nhục để khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa” (Br 5:1). Cứu độ là được thay đổi từ tình trạng xấu tới tình trạng tốt, hoặc từ cái mất đến cái tìm lại được. Giê-ru-sa-lem đã trải qua một thời kỳ đen tối, mất đi tất cả và nằm trong bàn tay kìm kẹp của dân ngoại. Một thành lừng danh nay đã hoang tàn vì không còn dân chúng và sức sống nữa, khác gì một thành phố chết. Tình trạng chết ấy đúng là “áo tang khổ nhục” bao trùm Giê-ru-sa-lem. Bị ngoại bang xâm chiếm, Giê-ru-sa-lem nhục nhã vì Đền Thờ trở thành ô uế, các đồ dùng thờ phượng bị tục hóa, việc thờ phượng Thiên Chúa bị thay thế bằng việc cúng tế các thần ngoại, vinh quang và công chính của Thiên Chúa nhường chỗ cho đồi trụy và thấp hèn của thế gian.

Giữa tình trạng buồn thảm và thất vọng ấy, ngôn sứ Ba-rúc mang đến sứ điệp giải phóng của Thiên Chúa: “Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, hãy đứng ở nơi cao và hướng nhìn về phía đông” (Br 5:5). Phía đông là phía mặt trời, mặt trời công chính, biểu tượng của Thiên Chúa, sẽ mọc lên và phá tan u tối. Phía đông cũng là hướng Ba-by-lon, nơi con cái Ít-ra-en bị lưu đày sẽ lên đường trở về quê cha đất tổ. Con đường xưa đem dân Ít-ra-en đi lưu đày là con đường khổ cực, khó khăn và nhục nhã nay được dọn dẹp lại theo lệnh Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Ít-ra-en tiến bước an toàn” (Br 5:7).

Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong sứ điệp giải phóng này phải là sự can thiệp của Thiên Chúa. Vai trò chủ động của Thiên Chúa được đề cao: Thiên Chúa “ban vinh quang vĩnh cửu, khoác áo choàng công chính cho Ít-ra-en, truyền dạy con cái Ít-ra-en tụ họp về, ra lệnh dọn đường để Ít-ra-en tiến bước an toàn, cho quế trầm tỏa bóng che rợp Ít-ra-en, dẫn Ít-ra-en đi trong hoan lạc”.

Những gì Thiên Chúa đã làm cho Giê-ru-sa-lem thì Người cũng làm cho ta để cứu độ ta. Thiên Chúa đã khôi phục Giê-ru-sa-lem và xây thành “trên Con của Người”, nghĩa là Người cứu độ ta nhờ công nghiệp Chúa Ki-tô. Chúa sẽ dẫn ta “đi trong hoan lạc, dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người” (Br 5:9). Nhưng ta cũng có bổn phận phải theo sự dẫn dắt của Chúa, nhất là trong công việc dọn đường cho ơn cứu độ, theo lệnh Chúa mà dẹp bỏ những núi cao, gò nổng và thung lũng “có tự lâu đời” trong ta, tức những tính hư tật xấu đã ăn rễ sâu trong lối sống của ta.

2. “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (bài Tin Mừng – Lu-ca 3:1-6)

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Ba-rúc loan báo Thiên Chúa cứu độ Giê-ru-sa-lem. Lời tiên tri ấy nay đã ứng nghiệm khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Chúa Giê-su bắt đầu sứ mệnh cứu thế sau những năm sống ẩn dật tại Na-da-rét. Nhưng trước khi Người xuất hiện, có ông Gio-an “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3:3).

Trước khi giới thiệu con người và sứ vụ của ông Gio-an Tiền hô cũng như của Chúa Giê-su, thánh sử Lu-ca đã không quên nói đến khung cảnh thời gian và không gian đạo đời. Ngài muốn trình bày một bối cảnh lịch sử để giúp ta nhận ra tính cách phổ quát của ơn cứu độ, là: “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3:6). Sứ điệp về ơn cứu độ phổ quát ấy phải là cốt lõi lời rao giảng của ông Gio-an. Tuy nhiên, kèm theo lời rao giảng trọng đại này, ông Gio-an muốn có một nghi thức dễ khiến cho người ta cảm động và nghiêm túc tiếp nhận tin mừng cứu độ. Đó là làm phép rửa. Mục đích phép rửa của ông không phải là tha thứ tội lỗi dân chúng, mà chỉ là giúp họ “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”, bởi vì việc tha tội thuộc quyền của “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1:29).

Thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa thì ai cũng có khả năng thấy được, vì ơn cứu độ có tính cách phổ quát. Nhưng tiếp nhận ơn cứu độ lại là chuyện khác, cần phải có đáp trả và nỗ lực của mỗi người. Vì thế, đối với ông Gio-an, muốn kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, không gì tốt hơn là mượn lời ngôn sứ I-sai-a để kêu gọi dân chúng: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3:4). Đường lối là hình ảnh dễ dàng nhất để mô tả một chuyển động, có điểm đi điểm tới. Mọi ngăn cản, khó khăn cần phải được dẹp bỏ. Hình ảnh con đường với thung lũng, núi đồi, khúc quanh co, chỗ lồi lõm thật là thích đáng giúp ta hiểu thế nào là một tâm hồn có những trở ngại khiến cho việc di chuyển giữa họ với Chúa thật khó khăn, hoặc có thể nói là không thể vượt qua nổi. Khó khăn trở ngại không phải về phía Thiên Chúa, mà hoàn toàn về phía con người. Làm sao Chúa đến với ta khi ta cứ theo con đường của ta là con đường tội lỗi và chống lại Chúa? Những thung lũng tham lam, núi đồi kiêu căng, khúc quanh co gian dối và lồi lõm bất trung đã dựng lên những chướng ngại vật cản đường Chúa đến. Do đó, dọn đường cho sẵn và sửa lối cho ngay là việc của ta, còn việc Chúa cứu độ chỉ được thể hiện nếu ta cộng tác với Chúa bằng cách chuẩn bị sẵn sàng.

3. Thánh Phao-lô nói gì về việc chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ? (bài đọc Tân Ước – Phi-líp-phê 1:4-6.8-11)

Ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tiền hô đã loan báo ơn cứu độ và việc chuẩn bị qua những hình ảnh cụ thể về Giê-ru-sa-lem và việc dọn đường lối. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì đề cập đến việc chuẩn bị tâm hồn khi ngài “khẩn khoản nài xin” anh chị em tín hữu hãy làm sao “cho lòng mến ngày thêm dồi dào” và “được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách” trong thời gian họ chờ đợi Chúa đến vào phút cuối đời. “Sống một đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”, đó là châm ngôn của mọi tín hữu muốn lãnh nhận được ơn cứu độ.

Trước hết ta thấy hết sức cảm động vì tấm lòng yêu thương của người cha nơi thánh Phao-lô. Tình thắm thiết của ngài dành cho tín hữu Phi-líp-phê cũng là tình ngài dành cho ta. Ngài chia sẻ những gì ngài đã sống, đó là sống “nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Cuộc sống đầy tràn tinh thần Chúa Ki-tô đã làm cho lòng mến của ngài ngày thêm dồi dào và được nên tinh tuyền. Ngài đã chạy hết quãng đường trong cuộc đua và đã chiến thắng trong cuộc thi đấu (2 Tm 4:7). Những lời ngài tâm sự với Ti-mô-thê phải là những lời khích lệ ta thực thi việc chuẩn bị dọn đường đón nhận Đấng Cứu Độ. Một trong những cách chuẩn bị mà thánh Phao-lô chú trọng nhất, đó là “góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng”, bởi vì nếu muốn rao giảng Tin Mừng thì chính mình phải sống Tin Mừng ấy trước. Cả cuộc đời ta là những tháng năm rao giảng Tin Mừng bằng đời sống. Thánh Phao-lô còn cho ta thấy tương lai chắc chắn của việc sống và rao giảng Tin Mừng, là: “Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Ki-tô Giê-su quang lâm” (Pl 1:6). Nói khác đi, nếu Chúa đã giúp ta làm công việc dọn đường lúc ban đầu khi ta sống trên trần gian này, thì Người cũng giúp ta hoàn tất công việc dọn đường ấy khi Chúa Ki-tô trở lại trần gian ngày cuối đời của ta.


4. Sống Lời Chúa

Ngôn sứ Ba-rúc giúp ta xác tín vào ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho mọi người. Thánh Gio-an Tiền hô lập lại lời ngôn sứ I-sai-a để loan báo ơn cứu độ phổ quát và việc chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Còn thánh Phao-lô Tông đồ thì chia sẻ tâm tình yêu thương và khích lệ ta hãy “sống đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Nếu tuần thứ nhất mùa Vọng chú trọng loan báo việc Chúa đến cứu độ, thì Phụng vụ Lời Chúa tuần này nhấn mạnh hơn đến việc ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ. Chuẩn bị không phải chỉ trong mấy tuần lễ trước ngày lễ Giáng Sinh, nhưng là chuẩn bị cho cả một đời để sẵn sàng đón Chúa trở lại với ta.


Suy nghĩ: Con đường để Chúa đến với tôi và tôi đến với Chúa là con đường nào? Tôi có nhận ra những chướng ngại nào không, và tôi phải dẹp bỏ chúng thế nào?


Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cuàng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men. (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Vọng).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


         

Chúa Nhật II Mùa Vọng

I.          Tìm Hiểu Lời Chúa
1.         Bài Đọc I : Br 5, 1-9
Niềm hy vọng mừng vui cho Giêrusalem
Trong một trang sách giàu chất thi ca, vị Tiên tri đã gửi tới Thành Giêrusalem một thông điệp vui mừng và hy vọng : con cái bị lưu lạc sẽ được Chúa đưa trở về trong danh dự và vinh quang. Dân thành sẽ nhận biết một kỷ nguyên thịnh vượng và hoà bình.
a.         Đây là một trong những bài thánh thi hay nhất trong Kinh thánh ca ngợi lòng nhân ái của Thiên Chúa dành cho dân của Người. Từ sự tủi nhục Thiên Chúa đã đưa dân tiến tới vinh quang; từ khốn khó đến sự phồn vinh; từ đau buồn của khóc than tiến tới niềm vui.
b.         Nhưng để Thiên Chúa gặp lại dân Ngài thì dân  cần phải có sự quay trở về, từ bỏ tội lỗi và sự bất trung là nguyên nhân gây nên sự dữ.. Cần phải mặc lại chiếc áo công chính.
c.         Cũng thế, vì Thiên Chúa chăm sóc con cái Ngài như một người cha tốt nhất, nên trong thử thách, chúng ta cần phải tín thác chờ đợi giờ Thiên Chúa can thiệp. Chắc chắn Ngài sẽ đến.
2.         Bài Đọc II : Pl 1, 4-6.8-11
Hướng tới sự hoàn thiện ngày một hơn.
Sau khi thổ lộ tất cả tình cảm chan chứa của mình dành cho anh chị em Philipphê và niềm vui mừng của mình trước sự thăng tiến đời sống thiêng liêng của họ, Thánh Phaolô mời gọi họ tỉnh táo hơn nữa để tiến tới không lầm lạc trên đường hướng đến Đức Kitô.
a.         Với tình yêu của Đức Kitô, Thánh Phaolô không ngừng cầu nguyện cho những người cộng tác loan báo Tin mừng với mình có được tình yêu nồng cháy trong sự hiểu biết sâu xa về con người và sứ mạng của Đức Kitô.
b.         Đời sống Kitô hữu, ngài giải thích là một sự tăng tiến hướng tới sự hoàn thiện viên mãn trong Đức Kitô.
c.         Bản văn này đuợc đặt trong bối cảnh và tinh thần của mùa vọng thật ý nghĩa. Một thời gian để suy gẫm, để cầu nguyện và để cố gắng tiến triển trong sự nhận biết thánh ý Chúa và trung tín sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn, quảng đại hơn.
3.         Tin Mừng : Lc 3, 1-6
Thánh Luca đưa chúng ta tham dự vào sự khởi đầu sứ mạng của Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan : Gioan, quả nhiên, đã được trao sứ mạng chuẩn bị cho đồng bào của mình đón Đấng Messia sắp ngự đến.
a.         Trước hết, bằng sự am hiểu lịch sử, Luca quan tâm ghi các mốc thời gian đương thời để đánh dấu việc khởi đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả và sự xuất hiện công khai của Đức Giêsu Kitô. Khi đánh dấu thời gian xuất hiện của Gioan và của Đức Giêsu Kitô với các Vua và Thượng Tế bấy giờ, Luca muốn xác định thời gian của hai sự xuất hiện này trong lịch sử trần thế. Tất nhiên, khi đưa những mốc thời gian sử liệu, Luca không chú tâm đến lịch sử trần thế mà chủ đích là muốn lồng lịch sử này vào trong lịch sử Cứu độ.
b.         Tiếp theo, Luca trình bày vắn tắt tổng quát về lời rao giảng sám hối của Gioan. Sứ mạng của Gioan Tẩy Giả bắt đầu tạo nên một giai đoạn chuẩn bị cận kề vì Đấng Cứu Thế đã đến. Lấy lại lời Tiên tri Isaia loan báo, Luca minh chứng Gioan xuất hiện là giai đoạn cuối cùng của Cựu ước. Giai đoạn này, Dân Chúa được kêu gọi trở về với Thiên Chúa của mình trong tinh thần sám hối và khiêm nhường. Sứ mạng của Gioan là loan báo lần cuối cùng về ơn Cứu độ của Thiên Chúa và bắt nối vào Đức Giêsu Kitô, Đấng đến thực hiện ơn Cứu độ.
c.         Trong bối cảnh mùa vọng, Bản văn này được chọn đọc nhằm mục đích cho thấy rõ điều thiết yếu trong nỗ lực sống đức tin của Kitô hữu là phải khai mở trong tâm hồn một con đường cho Vương quốc của Đấng Cứu Thế ngự đến. Khai mở bằng việc chỉnh sửa lại ý hướng bản thân, bằng việc quyết tâm chống lại những tính hư tật xấu, và bằng việc chấm dứt những mối bất hòa với anh em.
II.        Gợi Ý Bài Giảng
1.         Từ Gioan  Tẩy Giả đến Kitô hữu ngày nay, cùng chia sẻ một sứ mạng : Gioan Tẩy Giả có sứ mạng chuẩn bị dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến với dân Ngài. Sứ mạng của ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử cụ thể như Thánh Sử Luca đã tỉ mỉ ghi lại những dữ liệu lịch sử, mốc thời gian mà Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Chắn chắn không phải là việc thừa thãi khi Luca cố ý ghi lại những nhân vật lịch sử, mốc thời gian : “Đời Hoàng Đế Tibêriô năm thứ 15, Phongxilô Philatô làm Tổng trấn xứ  Giuđêa … có lời Chúa đã kêu gọi Gioan, con Giacaria, trong hoang địa”. Chúa kêu gọi một con người gắn liền với một không gian, thời gian cụ thể để làm một việc Chúa muốn trong chương trình Cứu độ của Ngài, chương trình trải dài suốt lịch sử nhân loại này. Từng thời gian, từng không gian Chúa sẽ chọn gọi những người Chúa muốn để loan báo sứ điệp Cứu độ của Ngài cho mọi người. Nói cách khác, Gioan đã chấm dứt sứ mạng của mình cách tốt đẹp. Ngày nay, sứ mạng đó lại được tiếp nối qua ơn gọi Kitô hữu của mỗi người. Chúng ta không phải là những người của quá khứ, cũng không phải là những người được chọn cho tương lai mà là những con người của ngày hôm nay. Những Kitô hữu của Việt Nam, thời thế kỷ thứ XXI, sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa … Thiên Chúa đã muốn như thế. Ngài đã chọn mỗi người chúng ta là những Gioan Tẩy Giả cho ngày hôm nay, cho những anh chị em thời đại của mình, nơi chốn của mình.
Như thế, trách nhiệm của mỗi Kitô hữu là phải xây dựng niềm tin và ý thức sứ mạng : mỗi tín hữu là một Gioan Tẩy Giả được sai đến trong gia đình, xứ đạo và môi trường xã hội của mình. Từ đó, biết mình phải làm gì, nói gì? để chuẩn bị cho anh chị em chung quanh biết đón nhận Chúa. Để Thực Sự là Gioan Tẩy Giả chính bản thân phải biết hối cải và sống niềm hy vọng chờ đón Chúa. Cần phải chuẩn bị thích đáng cho vai trò Tiền hô của mình. Chuẩn bị bằng mọi cách : từ cách mạng thông tin, đấu tranh chống khủng bố, ủng hộ phong trào hoà bình, đến xây dựng nền văn minh sự sống để chờ Chúa đến.
2.         Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả, một thông điệp thời sự cho Kitô hữu ngày nay : Gioan kêu gọi mọi người sám hối, dọn đường cho Chúa ngự đến. Sứ mạng của ông đã kết thúc khi Đức Giêsu Kitô xuất hiện công khai để loan báo Tin Mừng, thực hiện công trình cứu độ. Gioan là Tiên tri cuối cùng của Cựu ước, là bản lề nối thời Cựu ước với Tân ước, nhưng không vì thế mà sứ điệp của ông không còn gia trị nữ. Đành rằng ngày nay, Đức Giêsu Kitô đã hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, ơn cứu độ đã tuôn đổ cho nhân loại, nhưng để đón nhận được ơn cứu độ thì chính mỗi người phải biết chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận. Trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện xã hội ngày nay, Thiên Chúa muốn đến với con người, đến giữa lòng nhân loại cũng vẫn đang phải đi vào những con đường quanh co khúc khuỷu của lòng người thâm hiểm, những con đường đầy vực thẳm hố sâu của tệ nạn xã hội, những con đường cụt không lối ra của lòng hận thù, chiến tranh và bạo lực trong thế giới. Cho nên, sứ điệp của Gioan vẫn còn đó tính thời sự của nó. Con người và xã hội hôm nay rất cần phải dọn đường để Chúa ngự đến. Dọn từ tâm hồn mỗi người cho đến toàn xã hội. Bên cạnh đó, tuy dẫu ơn Cứu độ của Chúa đã được thực hiện, đã được trao ban nhưng vẫn còn rất nhiều người, nhiều nơi chưa được thấy.
Nhận ra tính thời sự trong sứ điệp của Gioan tẩy Giả sẽ giúp mỗi người sống mùa vọng này ý nghĩa hơn thiết thực hơn. Mùa vọng không chỉ là khoảng thời gian trong chu kỳ của niên lịch phụng vụ, đến hẹn lại lên để rồi làm mọi sự như một thói quen máy móc, thành một nếp sống nhàm chán. Nhưng nhờ đó, sống tích cực hơn, mùa vọng sẽ như làm một điểm mốc để kiểm điểm bản thân, làm mới lại sức sống đức tin; mùa vọng sẽ như là một dấu nhấn để can đảm dấn bước lên đường và mùa vọng sẽ như là một cánh cửa hy vọng mở ra một giai đoạn mới trong hành trình đức tin.
3.         Canh tân cuộc sống theo lời Gioan Tẩy Giả, một đòi hỏi khần thiết : Gioan tẩy Giả kêu gọi sám hối canh tân cuộc sống để chuẩn bị đón Chúa, nhưng bây giờ Chúa đã đến rồi, ơn cứu độ đã trao ban rồi. Mùa vọng chỉ là thời gian nhắc nhớ đến việc Chúa đến lần thứ nhất để hướng lòng chờ đón Chúa đến lần thứ hai. Vậy thì không còn thời gian để lần lữa, để trì hoãn hay để chuẩn bị mà bây giờ là thời gian dứt khoát đón nhận hay không đón nhận Chúa và ơn cứu độ của Ngài. Chính vì thế, lời mời gọi sám hối, canh tân cuộc sống là một đòi hỏi khẩn thiết. Chúa đã đến nhà và Ngài đang đứng gõ cửa chờ đợi mỗi người mở cửa để Ngài vào. ‘Hãy lấp mọi hố sâu, hãy san mọi núi đồi, sám hối canh tân là một đòi hỏi của lòng trong sạch, phải loại bỏ mọi tư tưởng tội lỗi xấu sa thấp hèn, mọi dục vọng bất chính. Chính chúng là cội rễ của mọi tính hư tật xấu : kiêu ngạo, ích kỷ, ghen tuông, hung hăng, bạo lực … Đức Kitô không thoả hiệp với sữ xấu, không ở chung với chúng. ‘ Con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng’, sám hối canh tân là một đòi hỏi về sự công chính, sự công chính trong chiều cao đối với Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng và là Chủ tể muôn vật; là Cha đầy lòng nhân từ, chúng ta sống công chính với Ngài khi tôn thờ và đón nhận Ngài với tất cả tình yêu mến. Sự công chính trong chiều ngang đối với anh chị em, họ là những người cùng chung sống, cùng đồng hành với chúng ta. Biết bao người anh chị em của chúng ta đang lâm vào cảnh bất hạnh, khó nghèo, mồ côi. Sống công chính với họ là chúng ta phải biết yêu thương cảm thông và làm sao mang lại cho họ phẩm giá và sự giải thoát, làm sao chia sẻ cho họ hạnh phúc của mình. ‘ Con đường gồ ghề hãy san cho bằng”, sám hối canh tân là một đòi hỏi về đời sống nội tâm. Tâm hồn chúng ta gồ ghề bởi biết bao những chi phối, lo toan của cuộc sống hàng ngày. Cơm áo gạo tiền, danh vọng, quyền lợi … chiếm hữu tất cả tâm trí, tình cảm của cá nhân, khiến cho tâm hồn không còn chỗ cho Chúa nữa. Chúa đã đến, chúng ta phải liên kết chặt chẽ với Ngài. Trong tâm khảm phải níu giữ Lời Ngài, trong cuộc sống phải thực thi Lời Ngài.
III.       Lời Cầu Chung
* Lời Mở : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã đến để ban tặng cho chúng ta hồng ân cứu độ. Trong tâm tình chúc tụng, ngợi khen Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1.         Hội Thánh có sứ mạng loan báo Tin mừng cứu độ. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi thành phần Hội Thánh luôn biết đồng hành, hiện diện với con người và xã hội hôm nay để làm cho thế giới này ngày càng phát triển những gía trị Tin Mừng.
2.         Chúa đã đến hơn hai ngàn năm qua nhưng thế giới ngày này vẫn còn biết bao nhiêu tệ nạn xã hội, chiến tranh, hận thù và bất công. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia luôn biết đối thoại, cộng tác với nhau xây dựng một thế giới văn minh, hòa bình và tràn đầy tình người.
3.         Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để ai nấy biết nỗ lực canh tân đổi mới cuộc sống theo những giá trị của Tin Mừng.

* Kết Nguyện : Lạy Thiên Chúa là Cha đầy lòng thương xót, Chúa đã yêu thương cho Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến để cứu độ, giải thoát chúng con khỏi kiếp nô lệ cho tọâi lỗi, ma quỉ và sự chết. Xin thương đoái nhận những ý nguyện chân thành của chúng con, cho chúng con biết dọn mình sẵn sàng đón chờ ngày Đức Kitô ngự đến trong vinh quang. Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

THÁNH PHANXICO XAVIER (1506-1552)



Mc 16, 15-20
“Được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”
Kính thưa…….. Lời vàng này của Chúa Giêsu đã thôi thúc, đánh động tâm hồn một học giả tài năng đầy triển vọng. Một giáo sư trẻ tuổi đang sinh sống và giảng dạy tại Bale đã từ bỏ tất cả để bước theo Chúa trên con đường truyền giáo với đầy những nghịch cảnh và khó khăn. Đó chính là Thánh Phanxico Xavier.
Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Ngài qua đời trên đảo Xan-xi-an , ngoài khơi bờ biển Quảng Đông Trung Quốc năm 1552. Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh cùng thời với thánh Ignatiô Loyola, năm 1622; được ghi tên vào lịch Rôma năm 1623 và được tuyên phong là bổn mạng Ấn Độ và các nước Viễn Đông năm 1748. Cùng với thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, năm 1927, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI tuyên phong là bổn mạng các xứ truyền giáo.
Nói đến thánh Phanxicô Xaviê, người Kitô hữu ngày nay nghĩ ngay đến một trong những chứng nhân tiêu biểu nhất của lòng nhiệt thành truyền giáo. Thánh nhân như dấu chỉ Thiên Chúa dùng để chứng tỏ cho nhân loại thấy được tính phổ quát của Giáo hội mà Đức Kitô đã lập và không ngừng tác động cho nó tăng triển sâu rộng. Huấn lệnh mà Thầy Giêsu đã mời gọi Nhóm tông đồ năm xưa như trang TM chúng ta vừa nghe, vẫn luôn mới mẻ và thúc bách suốt dòng lịch sử: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Cảm nghiệm được giá trị và tầm vóc của sứ vụ mà Thầy Chí Thánh kêu mời, Thánh Phanxicô đã kịp thời đáp trả trong tinh thần yêu mến, dám sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh trên hành trình rao giảng.
Nét đẹp trong tinh thần truyền giáo của Thánh Phanxicô phải kể đến trước hết, đó là thái độ từ khước danh vọng trần thế để được nhận lãnh gia tài vĩnh cữu nhờ việc hoán cải những tâm hồn. Vì thế, ngài đã nghiệm thấu lời vàng của Thầy chí thánh Giê-su đã nói: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì ?”. Khi đã chiến thắng được tham dục, ngài không ngừng sám hối theo Tin Mừng để triệt trừ tính kiêu căng trỗi dậy đòi ngài phải khuất phục trước cuồng vọng của xác thịt. Đây chính là bước quan trọng giúp thánh nhân có thể tập trung tới việc cộng tác đắc lực cứu rỗi các linh hồn, làm cho Nước Chúa được rộng lan.
Điểm thứ hai trong con người của ngài chính là lòng trắc ẩn với những cảnh đời nghèo khó. Bất cứ chỗ nào ngài đến, ngài đều sống với người nghèo, chia sẻ thức ăn và các phương tiện thô sơ với họ. Ngài dành rất nhiều thời giờ để chăm sóc người đau yếu, nghèo khổ, nhất là người cùi. Rất nhiều khi ngài không có thời giờ để ngủ hoặc ngay cả để đọc kinh nhật tụng, nhưng, qua các thư từ ngài để lại chúng ta được biết, ngài luôn luôn tràn ngập niềm vui.
Kính thưa….Cha Phanxicô đến các quần đảo ở Mã Lai, và Nhật Bản. Ngài học tiếng Nhật và rao giảng cho các người dân chất phác, dạy giáo lý và rửa tội cho họ, cũng như thành lập các trụ sở truyền giáo cho những người muốn giúp đỡ công cuộc của ngài. Từ Nhật Bản, ngài mơ ước đến Trung Hoa, rồi sang Việt Nam, nhưng dự tính này không bao giờ thực hiện được. Ngài đã từ trần trước khi đặt chân đến phần đất này.
Năm 1622, ngài được Đức Giáo Hoàng Piô X phong thánh và đặt làm quan thầy các công cuộc truyền giáo nước ngoài.
Ước gì lời mời gọi "ra đi và rao giảng cho muôn dân" luôn là tâm niệm hằng ngày của chúng ta sẵn lòng mang Lời Chúa đến cho anh em. Nhưng trước tiên, việc rao giảng này được khởi đầu ngay trong gia đình cho con cái, vợ chồng bạn bè và từ họ mở rộng đến những nơi chúng ta tiếp xúc gặp gỡ.
Xin Chúa luôn đồng hành để chúng ta can đảm vượt qua mọi khó khăn để trung tín trong ơn gọi của mình. Amen

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

Thứ 3,1 V:Thiên Chúa yêu thương kẻ bé mọn

Thứ Ba tuần I Mùa Vọng

1. Thiên Chúa nâng cao những người bé mọn

Một lần nữa Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay khẳng định: Thiên Chúa luôn luôn hướng về và dành cho những người bé mọn một vị trí đặc biệt trong trái tim của Người.

Nhưng ai là « người bé mọn »? Theo Kinh Thánh, người bé mọn thường được đồng hóa với người nghèo hèn, mồ côi, góa bụa, khách ngoại kiều, thậm chí cả những người tội lỗi, phường thu thuế và gái điếm…và rộng hơn là tất cả những ai có lòng khiêm nhường biết nhìn nhận con người thật của mình và không ngừng trông cậy vào tình thương Thiên Chúa.

Tại sao « người bé mọn » lại được Thiên Chúa ưu ái như vậy ? Thiên Chúa yêu thương họ vì Ngài muốn và yêu thương họ là « điều đẹp ý Thiên Chúa Cha » và « Chúa Con muốn » như vậy. Ở đây Chúa Giêsu muốn ám chỉ Nước Thiên Chúa sẽ không được mạc khải cho người kiêu căng, tự phụ, tự cho mình vững mạnh không cần đến ai giúp đỡ, kể cả Thiên Chúa. Những ai không ngừng hoán cải, luôn biết ý thức về những giới hạn của mình và luôn sẵn sàng mở lòng ra với Thiên Chúa và khao khát Người thì sẽ được Người yêu thương mạc khải cho.

2. Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em đang thấy

Bài đọc một trích trong sách ngôn sứ Isaia (11, 1-10) là lời hứa của Thiên Chúa về Đấng Messia và thời đại của Người: với đầy tràn Thần Khí và lòng kính sợ Thiên Chúa, Đấng Messia sẽ đến xét xử muôn dân nước theo lẽ công bình và chăn dắt muôn người bằng lòng yêu thương, thành tín… Đây là lời hứa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Israel. Quan trọng không đơn thuần bởi vì nó hứa hẹn về một tương lai tươi sáng, nhưng còn vì là lời hứa của chính Thiên Chúa về ơn cứu độ cho muôn dân tộc.

Sự xuất hiện của Đức Giêsu cùng với lời rao giảng, việc làm và các phép lạ của Người là một dấu chỉ hùng hồn cho thấy sự hiện hữu của triều đại Thiên Chúa. Nhưng sự thật ta thấy cho đến tận hôm nay, không phải mọi người đều có thể khám phá ra điều này. Họ không nhận ra không phải vì Thiên Chúa không muốn cho họ biết, nhưng bởi lòng chai dạ đá đã ngăn cản không cho họ mở lòng ra đón nhận những điều đang được mạc khải. Hạnh phúc và ơn cứu độ của triều đại Thiên Chúa đã đến, nhưng chỉ những ai biết mở lòng ra đón nhận với lòng khiêm hạ thì mới có được hạnh phúc ấy.

Lạy Chúa, chúng con đang sống trong những ngày đầu tiên của Mùa Vọng. Đây là cơ hội rất tốt Chúa muốn dành để mời gọi mỗi chúng con làm mới lại chính mình, sống bằng xác tín chính ơn gọi của mình là mở lòng ra với Chúa và với tha nhân, hầu có thể lãnh nhận quà tặng ơn cứu độ. Xin đừng bao giờ để con tự khép lòng mình lại trên nhưng luôn biết mở toang cánh cửa trái tim cho Chúa ngự vào. Nhờ thế, tâm hồn con mới có được hạnh phúc vì Chúa mới chính là hạnh phúc và ơn cứu độ cho con. Amen.

-
Đức Giêsu chạnh lòng thương
Mt 15, 29-37

Hôm nay, bài Tin mừng kể lại việc Đức Giêsu chữa lành nhiều bệnh nhân và hóa bánh ra nhiều lần thứ hai.

Chúa Giêsu lên núi, dân chúng lũ lượt kéo đến nghe Người giảng và đem theo nhiều kẻ bệnh tật để xin cứu chữa. Chúa đã chữa cho kẻ câm nói được, kẻ què đi được, kẻ mù thấy được nên họ hết sức cảm phục và tôn vinh Chúa.

Sau ba ngày họ luôn ở với Đức Giêsu mà không có gì ăn nên họ tỏ ra rất mệt nhọc (Mt 15,32). Chính vì vậy, Đức Giêsu đã “chạnh lòng thương” và không đành để cho họ nhịn đói, nên đã làm phép lạ cho bảy cái bánh và mấy con cá hóa nhiều cho họ ăn no nê dư dật.

Đức Giêsu đã thể hiện dung mạo của lòng xót thương. Người sẵn lòng yêu thương, chữa lành mọi người đặc biệt là những ai nghèo khổ, bệnh tật về phần hồn phần xác. Tin tưởng vào lòng xót thương của Chúa, chúng ta hãy chạy đến để cầu xin Chúa mỗi khi gặp khó khăn thử thách để cũng được Người ủi an nâng đỡ.

Trong cuộc sống, qua sách báo, tivi, internet chúng ta nhận thấy con người dần dần đang thiếu đi sự quan tâm chia sẻ, nhiều khi còn trở nên vô cảm trước những nỗi đau khổ bất hạnh của người xung quanh. Vì vậy, mỗi chúng ta cũng cần noi gương Chúa biết nhạy cảm mở rộng tấm lòng, mở rộng bàn tay ra để giúp đỡ những người nghè khổ bệnh tật hồn xác bên cạnh chúng ta.


THỨ TƯ SAU CN I VỌNG C - 2015

Trong bài đọc thứ nhất chúng ta vừa nghe đọc, khi mô tả về thời cánh chung, ngôn sứ Isaia nghĩ đến một bữa tiệc lớn cho mọi dân tộc do Đức Chúa của Ítraen khoản đãi trên núi thánh. Không phải chỉ đãi thịt béo, rượu ngon, Đức Chúa còn lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người. Khổ đau không còn nữa, chỉ còn tiếng reo vui và tiếng cười hạnh phúc.
Còn trong bài TM hôm nay, lời của ngôn sứ Isaia xưa, nay đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Thánh Matthêu mô tả thật rõ nét hình ảnh Chúa Giêsu lên một ngọn núi thuộc miền Thập Tỉnh của dân ngoại. Dân chúng kéo đến cùng với những người bệnh hoạn tật nguyền. Trên ngọn núi ấy, Ngài đã đem đến niềm vui cho bao người. Như kẻ câm nói được, người què đi được, người mù sáng mắt. Ngài không giảng về một Nước Trời xa xôi. Ngài cho thấy một Nước Trời gần gũi khi thân xác được lành mạnh. Vì vậy, Ngài đã quan tâm đến đám đông dân chúng không chỉ với việc rao giảng, hay chữa bệnh, mà Ngài còn biết chạnh lòng thương đám đông trong cái ăn cái mặc, trong sự sống còn của kiếp người. Ngài thấu hiểu đám đông đã theo Ngài, đã ở với Ngài từ ba ngày qua mà không có gì ăn. Ngài hiểu thế nào là cái đói và hậu quả của nó nên Ngài không muốn để họ đi về mà bụng lại rỗng không. Ngài “Sợ rằng họ bị đói sẽ xỉu dọc đường” . Nên đã nghĩ đến việc cho họ ăn như một nhu cầu cấp thiết. Trước vấn đề lương thực cho một đám đông như vậy ở nơi hoang vắng, các môn đệ thấy mình bất lực và bế tắc sau lời đề nghị của Chúa. “Chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no khi chúng con chỉ có bảy cái bánh và ít cá nhỏ” (c. 33).
“Bảy cái bánh và ít cá nhỏ”, đó là tất cả những gì họ có. Chúa đã làm phép lạ cả thể từ bảy chiếc bánh và ít cá nhỏ đó cho nhiều người ăn no nê và còn dư lại 7 thúng. Để nuôi đám đông, các môn đệ phải cộng tác với Đức Giêsu, trao cho Ngài tất cả những gì mình có, để rồi nhận lại tất cả từ Ngài, và đem chia sẻ cho đám đông. Bữa ăn hôm đó ở nơi vắng không phải là một đại tiệc với thịt ngon và bia rượu, nhưng rõ ràng là rất cần thiết, khi Chúa Giêsu đem lại sự no đủ cho dân chúng.
Kính thưa…Thế giới hôm nay còn hơn một tỉ người đói, đa số ở các nước Á châu. Nạn đói tại Sômali và nhiều nơi trên thế giới là một ô nhục cho nhân loại ngày nay. Nhưng không riêng gì tại các nước nghèo, ngay trong các nước giàu, người ta cũng nói đến những hình thức nghèo đói và thiếu ăn mới, đó là nghèo đói tình người: con người có thể có một bộ óc phát triển hơn, một thân thể cường trán hơn, nhưng trái tim thì lại mỗi ngày một nhỏ lại. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, vì Ngài xót thương đám đông đi theo Ngài. Ngài xót thương họ không những vì họ đang đói khát cơm bánh thể xác, mà còn vì nỗi đói khát tinh thần. Phép lạ bánh hóa nhiều không phải là một giải pháp tạm thời xoa dịu cơn đói khát, mà là một lời mời gọi, một khơi dậy về một chiều kích vượt trên những nhu cầu thể lý. Bên kia cơm bánh nuôi thể xác, Chúa Giêsu mời gọi con người hướng về một của ăn không hư nát là sự sống thần linh, sự sống làm cho con người biết yêu thương quảng đại hơn. Giàu tình người, giàu lòng quảng đại, giàu tình liên đới, đó là sự giàu có đích thực, và với sự giàu có ấy, phép lạ của Chúa Giêsu không ngừng được tiếp diễn, và lúc đó, cái đói khát thể xác mới được xóa bỏ và kiếp nghèo mới được hạ giảm. Bữa tiệc cánh chung mà chúng ta đang chờ mong trong suốt Mùa Vọng , phải được chuẩn bị từ những bữa ăn tinh thần cũng như vật chất cho những người nghèo hôm nay. Sống Mùa Vọng là lưu tâm đến bao người thiếu ăn ở quanh ta. Và dù chỉ có mấy cái bánh, ta vẫn tin có thể bẻ ra để nuôi được họ. Amen!

THỨ BA SAU CN I VỌNG C :Lc 10,21-24

Sau những ngày truyền giáo vất vả cực nhọc, các môn đệ trở về quây quần bên Chúa. Họ đem theo những thành tích để khoe với Ngài. Họ trình Chúa: “Thưa Thày, nhân danh thày thì cả ma quỉ cũng phải lụy phục chúng con”. Chúa bảo họ: “chớ vui mừng vì điều đó, mà hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời”. Sự thành công và niềm vui của 12 môn đệ được ghi tên trên trời làm Chúa vui theo và hơn bao giờ hết, Ngài rất hãnh diện về đám học trò cưng của mình. Biểu hiện niềm vui và sự hãnh diện ấy, Ngài đã thốt lên lời tán tụng tạ ơn Thiên Chúa Cha : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan biết những điều ấy, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” .
Thật vậy, lần giở trong TM chúng ta thấy: Thiên Chúa đã giấu mầu nhiệm nước trời đối với những người tự cho mình khôn ngoan tài trí. Ngài đã không lựa chọn ai trong số công chúa hoàng cung làm mẹ. Thiên Chúa đã không ban quyền cho nhóm biệt phái pharisiêu hay Hêrôdê làm tông đồ, nhưng Ngài đã chọn những kẻ bé mọn. Vậy Kẻ bé mọn đó là ai ?
Trước hết, kẻ bé mọn là những người có một tấm lòng ngay lành, không thay đổi, không bất trung bội nghĩa. Người có lòng ngay được gọi là thiên tử, là con Thiên Chúa (Mt 5,9), được ở với Thiên Chúa, được thấy dung nhan Chúa. Người có lòng ngay là người phản ảnh Thiên Chúa là Đấng chân thật. Người có lòng ngay là người có đời sống trong sạch, biết dứt khoát từ bỏ tội lỗi, sống thành thực không lừa dối anh em.
Tiếp đến, kẻ bé mọn được hiểu là những ai có tinh thần trẻ thơ. Chúa nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, vì nước trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14). Nên giống như trẻ thơ vì trẻ thơ có sự ngây thơ trong trắng như thiên thần. Trẻ thơ như tờ giấy trắng, muốn viết gì lên đó cũng được. Trẻ thơ dễ dàng chấp nhận bất cứ điều gì cha mẹ răn bảo. Bảo sai chúng biết sai, bảo đúng chúng cho đúng. Trẻ thơ có gì cũng khoe và đem gửi cha mẹ như là một nơi vững chắc nhất. Trẻ thơ biết mình yếu đuối và thiếu thốn. Chúng không thể có gì tự vệ ngoài cha mẹ. Tuổi thơ lo học hành không đua đòi nhác nhớn. 
Nhưng trong thực tế cuộc sống ngày hôm nay: cha phải nói một cách rất thật lòng với thiếu nhi chúng con rằng: thiếu nhi chúng con hiện tại không còn giống như trẻ thơ Do Thái mà Chúa sánh ví trong TM nữa rồi. Bởi vì, TN chúng con hôm nay ít còn có tâm hồn đơn sơ trong trắng ngay thẳng, thật thà. Nhiều bạn trong chúng con đang tập tành làm người lớn. Hay nói cách khác, hôm nay chúng con đã tự đánh mất tuổi thơ của chúng con. 
Chúng con yêu quý! Chúa rất thích những tấm lòng nhỏ bé đơn sơ, cho nên, trong mùa Vọng năm nay, chúng con hãy quyết tâm cố gắng để tìm lại chính chúng con, tìm lại tuổi thơ hồn nhiên dễ thương ngày nào, để được người lớn và chính Chúa chúc lành và yêu thương.
Và kính thưa quý ông bà anh chị em!Mùa Vọng năm nay, xin cho mỗi người chúng ta biết sống khiêm tốn, sống cậy trông và phó thác cho Chúa, Đấng mà chúng ta đang trông chờ đến để giải thoát chúng ta khỏi ách của Satan và sự dữ. Chính vì thế mà lời cầu nguyện thích hợp nhất của mùa Vọng là "Lạy Chúa Xin hãy đến".
Lạy Chúa Giê-su ! Chúng con tin Chúa là Chúa tể vũ trụ. Chúng con tin Chúa là Đấng Emanuel đã đến trần gian để ở cùng chúng con. Chúa đã đến mạc khải Nước trời cho những kẻ bé mọn. Chúa đã chấp nhận mục nát đời mình trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người. Chúng con xin tạ ơn và chúc tụng Chúa. Xin ban cho chúng con quả tim đơn sơ như trẻ nhỏ, sẵn sàng đón nhận những gì Chúa ban tặng cho chúng con, và xin cho chúng con can đảm phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng con xin được nép mình bên Chúa như trẻ thơ nép mình trong vòng tay của mẹ. Amen.

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

THỨ BA TUẦN 1 MÙA VỌNG B( 01.12.2015)

 Lc 10, 21-24
Khi ấy, được Thánh Thần tác động, Ðức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Rồi Ðức Giêsu quay lại với các môn đệ và bảo riêng: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Suy niệm:
Chuyện kể rằng: Ở một vùng đất nọ có một nhà hiền triết nổi tiếng là khôn ngoan và thánh thiện, người dân trong vùng ai có vấn đề gì chưa thông hiểu hay không giải quyết được đều đến thỉnh ý của nhà hiền triết và khi ra về lòng họ luôn vui mừng hân hoan vì nhận được những chỉ dẫn, những lời khuyên bổ ích. Tiếng tăm về nhà hiền triết tài đức ngày một lan rộng nên có nhiều người đến tìm gặp ngài.
Nghe biết sự tình như thế, một giáo sư trong vùng mới đâm nghĩ bụng: ta phải đến thỉnh giáo người mà thiên hạ đồn đại là khôn ngoan để xem sự thật thế nào.
Tiếp vị giáo sư trong một ngôi nhà ấm cúng, sau một vài câu hỏi chào thăm, nhà hiền triết mới mời vị giáo sư dùng trà. Khi rót trà, nhà hiền triết cứ rót mặc cho ly nước đã đầy để nước chảy tràn ra ngoài. Vị giáo sư mới thầm nghĩ rằng: “người mà thiên hạ  cho là bậc khôn ngoan hoá ra chỉ là một ông già lẩn thẩn, đãng trí”. Không thể chịu nỗi vị giáo sư mới thốt lên: “ Thưa ông, ly nước đã đầy, sao ông có thể rót thêm được nữa”. Lúc này, nhà hiền triết mới dừng lại và bình thản nói: đúng thế, ly trà đã đầy sao có thể rót thêm được. Giống như ly trà, Ông đến với tôi khi lòng chất đầy thành kiến và kêu ngạo thì làm sao tôi có thể nói với ông về những triết thuyết của tôi”.
 Câu chuyện kể trên không mấy khó để mỗi người chúng ta rút ra cho mình bài học nhân bản là cần lắm sự chân thành, khiêm nhu, đơn sơ trước người khác và trước cuộc sống. Lẽ đời vốn dĩ luôn quý chuộng những con người mặc lấy cho mình tâm tình như thế và ngược lại, thói kêu căng tự phụ cho dẫu là ai đi chăng nữa đều đáng khinh chê, lên án.
Tin Mừng ngày hôm nay cũng đã nói lên điều đó, khi Đức Giê-su lòng đầy hoan hỷ trong Thánh Thần đã thốt lên: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen cha vì cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những mầu nhiệm nước trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mon. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha".
Trước tiên, người bé mọn Chúa Giê-su muốn nói đến là ai? Một câu trả lời dễ dàng khi soi dọi vào bối cảnh của  đoạn Tin Mừng hôm nay đó là  các môn đệ nói riêng và những người mặc lấy thái độ khiêm nhường, biết lắng nghe lời Chúa nói chung. Đoạn Tin Mừng tường thuật lại việc các ông trở về lòng đầy hân hoan vì nhân danh Đức Giêsu mà họ chữa được các bệnh tật, trừ được quỷ. Niềm tin nhưng không mà Thiên Chúa mặc khải cho các ông cần lắm thái độ khiêm nhường, tín thác, đơn sơ vì họ xác tín rằng chính quyền năng Thiên Chúa đã làm những việc ấy và họ chỉ là những khí cụ để Thiên Chua thi thố tình thương của Nnười mà thôi.
Cũng thế, những bậc khôn ngoan thông thái mà Chúa ám chỉ không ai khác chính là những kinh sư, những Pharisêu, những nhà thông luật cho rằng mình thông minh, thuộc luật Môsê và đã đủ khôn ngoan để cầm nắm chìa khoá của sự trường cửu. Đó là những nhà thông thái chỉ gói gọn trong bối cảnh Tin Mừng nhưng sâu xa hơn, đó có thể còn có tôi và có bạn khi chúng ta với một chút kiến thức cỏn con đã huyênh hoang, kêu ngạo cho mình là nhất , đã thấu hiểu lẽ đời, muốn làm thầy thiên hạ, xem người khác bằng nữa con mắt... thái độ ấy chẳng phải như vị giáo sư ở câu chuyện trên ư, chẳng phải chính chúng ta cũng thấm nhiễm men Pharisêu, men kinh sư biệt phái ư. Thái độ ấy, chưa xét đến giá trị Tin Mừng, chỉ xét đến đạo đức luân thường xã hội thôi cũng đáng bị lên án.
Thánh Phaolô trong thư gửi đến giáo đoàn Cô-rin-tô cũng nhắn nhủ những tâm tình ấy khi ngài nói: "Những gì thế gian cho là điên dại thì  Thiên Chúa đã chọn để hạ gục những kẻ khôn ngoan và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ gục những kẻ hùng mạnh, những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì đã có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người" (1Cr 1, 27 - 29).
Dừng lại giây lát để suy xét  một vấn đề là chúng ta không thể đem thước đo giá trị của con người để mặc định cho Thiên Chúa trong việc nhận định tốt xấu đúng sai, nhưng thiết nghĩ, Thiên Chúa luôn yêu quý những tâm hồn đơn sơ, chân thành lắng nghe lời Chúa hơn là những người tự coi mình là thầy dạy của thiên hạ. Điều này được minh chứng khá rõ khi Chúa tỏ mình ra cho Ba Vua, khi gọi Lêvi- người thu thuế, khi ghé nhà GiaKêu- một người giàu có, khi trò chuyện cùng Nicôđêmô - một kinh sư lỗi lạc trong dân Do Thái. Cần phải minh định điều cốt lõi ở đây là, không phải Thiên Chúa là đấng thiên tư tây vị, chỉ yêu chuộng những người nghèo khổ, đơn sơ, bần hàn, mà lại “ngó lơ” những người khôn ngoan, thông thái, giàu có mà chính xác là Chúa yêu chuộng những tâm hồn đơn sơ, chân thành và khiêm nhường dẫu cho họ là người thông thái hay không thông thái, cao sang hay bần hàn, giàu có hay nghèo khó, cốt lõi là thái độ đón nhận Lời Chúa như thế nào.
Xin được mượn lời thánh vịnh 130 (131) để thể hiện thái độ đơn sơ, khiêm hạ trước Thiên Chúa Tình Yêu.
Lòng con chẳng dám tự cao
Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi!
Đường cao vọng chẳng đời nào bước,
Việc diệu kì vượt sức chẳng cầu;
Hồn con con vẫn trước sau
Giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình.
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
Trong con hồn lặng lẽ yên vui.
Cậy vào Chúa Israel ơi,
Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm
Bước vào Mùa vọng – mùa của sự trông đợi, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình đơn sơ, khiêm nhu, chân thành để thực sự khao khát, mong chờ Chúa đến bằng tất cả tâm hồn, chứ không phải là một thái độ hờ hững, xem thường biến cố Giáng Sinh  như một sự luân chuyển thường niên của năm phụng vụ. Hãy khiêm nhường tạ ơn Chúa vì hồng ân Đức Tin mà Chúa đã mặc khải cho chúng ta. Hãy Mặc lấy sự khiêm hạ, chân thành để lắng nghe, đón nhận Lời Chúa vì Chúa luôn yên mến những tâm hồn bé nhỏ, đơn sơ và khiêm nhu. A-men.
Phaolô Lê Quốc Bảo SDB


Chúa Nhật II Mùa Vọng, C (Lu-ca 3: 1-6)



          Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng giới thiệu Chúa Giê-su là Con Người sẽ đến xét xử trần gian và sứ điệp của Người kêu gọi ta phải chuẩn bị đón tiếp Người, hôm nay Phụng vụ Lời Chúa trình bày một gương mẫu đáp lại sứ điệp của Chúa:  ông Gio-an Tiền hô.  Ông mời gọi người ta chuẩn bị đón tiếp Chúa.  Nhưng lời mời gọi ấy lại chính là những điều ông đã sống và giờ đây ông đem chia sẻ với mọi người.  Vậy ông Gio-an là ai và sứ điệp của ông là gì?

1)  Thân thế và sứ mệnh của ông Gio-an Tiền hô

          Trước khi viết về sứ mệnh của ông Gio-an Tiền hô, thánh sử Lu-ca đã ghi lại bối cảnh lịch sử xã hội và tôn giáo thời ấy.  Các lãnh tụ đời cũng như đạo đều được nhắc tới. Đây không chỉ là cách viết của một sử gia nói có sách mách có chứng, nhưng hơn thế nữa, thánh Lu-ca còn muốn trình bày một bối cảnh mà ông Gio-an sẽ thi hành sứ mệnh là kêu gọi người ta hối cải, nghĩa là cần phải đổi mới cả hai phương diện xã hội cũng như tôn giáo.
          Thân thế của ông Gio-an đã được nói đến trong Tin Mừng Lu-ca, chương 1.  Cuộc ra đời của em bé Gio-an mang những nét đặc biệt, cho thấy bàn tay Thiên Chúa can thiệp rõ ràng.  Mẹ em có thai trong tuổi già.  Cha em bị câm một thời gian vì hoài nghi lời sứ thần Gáp-ri-en tiên báo.  Mới là một bào thai, em bé đã biết nhảy mừng trong bụng mẹ khi bà đến viếng thăm Mẹ Ma-ri-a.  Ngay việc đặt tên cho em cũng khác thường, không phải bằng cái tên của họ hàng muốn đặt cho, nhưng cái tên Gio-an do thiên sứ truyền cho ông Da-ca-ri-a phải đặt.  Càng lớn lên, tinh thần cậu bé “càng vững mạnh”.  Khi lớn khôn, “cậu sống trong trong hoang địa, cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en”.
Trong hoang địa, Gio-an lãnh nhận sứ mệnh từ Thiên Chúa và ông chọn lựa một địa bàn hoạt động cũng rất khác thường, là “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.  Ta thử tưởng tượng mình sống vào thời ấy để thấy ông Gio-an thi hành sứ mệnh.  Phương tiện giao thông chỉ là đôi chân dày dạn.  Thế mà ông Gio-an đã đi khắp vùng ven sông Gio-an, đến các làng mạc chung quanh để rao giảng về sự sám hối.  Kèm theo lời giảng, ông chọn lựa một nghi thức để giúp người ta biểu lộ tâm tình sám hối, đó là phép rửa.  Mục đích sứ mệnh của ông là làm sao giúp người ta sẵn sàng “để được ơn tha tội”.  Ông ý thức rõ ràng phép rửa của ông chỉ là một nghi thức dùng nước để giúp người ta ý thức tình trạng tội lỗi của họ thôi, vì nước không thể rửa sạch tội lỗi cho ai được.  Chỉ có Đấng đến sau ông là Đức Ki-tô mới “làm phép rửa trong Thánh Thần” (Mc 1:8), nghĩa là chỉ Đức Ki-tô mới có thể tẩy rửa tội lỗi ta trong công trình cứu độ của Người.  Do đó, sứ mệnh của ông Gio-an là làm tiếng hô kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.

2)  Sứ điệp sám hối

          Dọn đường cho Đức Chúa đến, lối cho Người đi vào tâm hồn ta là mục tiêu của sứ điệp Gio-an.  Nhưng nếu đường đã bị cắt, lối đã bị ngăn thì làm sao Chúa đến với ta được. Chúa không độc đoán dùng quyền năng của Người bắt ta phải để cho Người đến với ta, trái lại Người muốn có một cuộc gặp gỡ đồng tình, do ý muốn của đôi bên.  Nếu Người đã xếp bỏ thời gian và không gian vô biên của Thiên Chúa lại để chấp nhận chịu hạn hẹp trong thời gian và không gian của loài người qua Đức Ki-tô mà đến với ta, thì Người cũng mong ta hãy phá bỏ đi những giới hạn tâm hồn của ta để mở lòng cho Người tới.  Ngôn sứ I-sai-a đã dùng những hình ảnh thật quen thuộc để mô tả những giới hạn tâm hồn ấy.  Đó là thung lũng, núi đồi, quanh co, lồi lõm.  Đối với kỹ thuật và cơ giới hiện nay, thực hiện một con đường tại nơi gặp những trở ngại như trên không còn là vấn đề khó khăn.  Máy móc tối tân có thể giúp người ta xây một xa lộ trong thời gian thật ngắn.  Nhưng người ta lại bó tay không thể làm một con đường dẫn Chúa vào tâm hồn một người không muốn có sự thay đổi nào.
          Ông Gio-an chỉ lập lại sứ điệp của ngôn sứ I-sai-a thôi.  Sứ mệnh của ông quả đơn giản, là kêu gọi mỗi người hãy tự mình dọn đường lối cho Chúa đến.  Đúng vậy, ngoài Chúa ra, ai có thể biết rõ được tâm hồn người khác.  Mà giả như người khác có biết được những thung lũng, núi đồi, quanh co và lồi lõm của tâm hồn ta, thì họ cũng chẳng có thể làm gì hơn ngoài việc nhắc nhở ta sửa đổi.  Ông Gio-an đã đem cả cuộc đời để làm công việc đơn giản là nhắc nhở kêu gọi người ta. Tiếng hô của ông trong hoang địa đã vượt biên tới tận kinh thành Giê-ru-sa-lem.  Mọi người mọi giới đạo đời đã đến xin ông cho biết họ phải làm gì.  Có nhiều người làm theo lời chỉ dạy.  Nhưng cũng có nhiều người chẳng những không muốn nghe mà còn muốn dập tắt tiếng hô của ông.  Ông chấp nhận mọi thử thách và cả cái chết đau thương để chu toàn sứ mệnh nhắc nhở ấy.

3)  Những Gio-an Tiền hô hôm nay

          Khi đem sứ điệp sám hối đến cho dân chúng, bản thân ông Gio-an đã sống sứ điệp ấy.  Ông từ bỏ đời sống dễ dãi tiện nghi của thành phố và những tham vọng để chọn lối sống trong hoang địa, giống như lấp đầy đi cái thung lũng tham sân si của ông.  Ông bạt phẳng núi đồi kiêu căng ganh tị ngấm ngầm trong lòng, để xác tín chỗ đứng của ông sau Chúa Giê-su:  “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người”.  Ông cũng không quanh co đánh lận con đen, vỗ ngực nói với dân chúng đang ngưỡng mộ ông:  Tôi chính là Đấng Mê-si-a đây! (xem Lc 3:15).
          Mẫu người Gio-an đã lấy đời mình làm sứ điệp, làm tiếng hô sám hối.  Ki-tô hữu hôm nay cũng ý thức sứ mệnh làm sứ điệp sám hối.  Ta sống tinh thần sám hối, thay đổi và phá bỏ đi những trở ngại tâm hồn, để từ đó ta sẽ trở thành một tiếng hô cho gia đình, xã hội và thế giới.  Kinh nghiệm cho ta biết rất nhiều bậc cha mẹ không thể bảo ban dạy dỗ con cái được, là vì “tiếng hô” của họ rỗng tuyếch, không có cơ sở bởi đời sống gương mẫu.
          Trong viễn tượng truyền giáo, ta không thể mời gọi anh chị em chưa được biết Chúa đón nghe Tin Mừng nếu chính đời sống của ta không phản ảnh những giá trị Tin Mừng. Ta không thể nói với họ về bác ái, yêu thương, nếu chính ta thiếu lòng bác ái yêu thương.  Ta không thể loan báo cho người khác biết Chúa đến cứu độ ta, nếu ta chưa cho họ thấy con đường Chúa đến với ta đã được chuẩn bị sẵn sàng.

4)  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Tất cả cuộc sống Ki-tô hữu là một hành trình sám hối không ngừng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô.  Vậy tôi đang trên hành trình ấy hay vẫn giậm chân tại chỗ? Tôi có ý thức sứ điệp Tin Mừng của Chúa Ki-tô cũng bắt đầu bằng việc kêu gọi sám hối không?  Tôi đọc Mác-cô 1:15 hoặc Mát-thêu 4:17 và trả lời Chúa.
          Những điểm xấu và tiêu cực nào trong tâm hồn tôi được ví như thung lũng, đồi núi, quanh co, lồi lõm?  Tôi có một vài phương thức cụ thể nào để thay đổi chúng, đặc biệt trong mùa Vọng này?

Cầu nguyện

          “Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đến.
          Xin đừng mỉm cười mà nói rằng
          Chúa đã ở bên chúng con rồi.
          Có cả triệu người chưa biết Chúa.
          Nhưng biết Chúa thì được cái gì?
          Chúa đến để làm gì
          nếu đời sống con cái của Chúa cứ tiếp tục y như cũ?
          Xin hoán cải chúng con.
          Xin lay chuyển chúng con.
          Ước gì sứ điệp của Chúa
          trở nên máu thịt của chúng con,
          trở nên lẽ sống của cuọâc đời chúng con.
          Ước gì sứ điệp đó
          lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự tại,
          và đòi buộc chúng con,
          làm chúng con không yên.
          Bởi lẽ chỉ như thế,
          sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con
          bình an sâu xa,
          thứ bình an khác hẳn,
          đó là Bình An của Chúa.”
-          Helder Camara
(Trích RABBONI, lời nguyện 11)


Lm. Đaminh Trần Đình Nhi