Thứ Ba tuần I Mùa Vọng
1. Thiên Chúa nâng cao những người bé mọn
Một lần nữa Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay khẳng định: Thiên Chúa luôn luôn hướng về và dành cho những người bé mọn một vị trí đặc biệt trong trái tim của Người.
Nhưng ai là « người bé mọn »? Theo Kinh Thánh, người bé mọn thường được đồng hóa với người nghèo hèn, mồ côi, góa bụa, khách ngoại kiều, thậm chí cả những người tội lỗi, phường thu thuế và gái điếm…và rộng hơn là tất cả những ai có lòng khiêm nhường biết nhìn nhận con người thật của mình và không ngừng trông cậy vào tình thương Thiên Chúa.
Tại sao « người bé mọn » lại được Thiên Chúa ưu ái như vậy ? Thiên Chúa yêu thương họ vì Ngài muốn và yêu thương họ là « điều đẹp ý Thiên Chúa Cha » và « Chúa Con muốn » như vậy. Ở đây Chúa Giêsu muốn ám chỉ Nước Thiên Chúa sẽ không được mạc khải cho người kiêu căng, tự phụ, tự cho mình vững mạnh không cần đến ai giúp đỡ, kể cả Thiên Chúa. Những ai không ngừng hoán cải, luôn biết ý thức về những giới hạn của mình và luôn sẵn sàng mở lòng ra với Thiên Chúa và khao khát Người thì sẽ được Người yêu thương mạc khải cho.
2. Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em đang thấy
Bài đọc một trích trong sách ngôn sứ Isaia (11, 1-10) là lời hứa của Thiên Chúa về Đấng Messia và thời đại của Người: với đầy tràn Thần Khí và lòng kính sợ Thiên Chúa, Đấng Messia sẽ đến xét xử muôn dân nước theo lẽ công bình và chăn dắt muôn người bằng lòng yêu thương, thành tín… Đây là lời hứa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Israel. Quan trọng không đơn thuần bởi vì nó hứa hẹn về một tương lai tươi sáng, nhưng còn vì là lời hứa của chính Thiên Chúa về ơn cứu độ cho muôn dân tộc.
Sự xuất hiện của Đức Giêsu cùng với lời rao giảng, việc làm và các phép lạ của Người là một dấu chỉ hùng hồn cho thấy sự hiện hữu của triều đại Thiên Chúa. Nhưng sự thật ta thấy cho đến tận hôm nay, không phải mọi người đều có thể khám phá ra điều này. Họ không nhận ra không phải vì Thiên Chúa không muốn cho họ biết, nhưng bởi lòng chai dạ đá đã ngăn cản không cho họ mở lòng ra đón nhận những điều đang được mạc khải. Hạnh phúc và ơn cứu độ của triều đại Thiên Chúa đã đến, nhưng chỉ những ai biết mở lòng ra đón nhận với lòng khiêm hạ thì mới có được hạnh phúc ấy.
Lạy Chúa, chúng con đang sống trong những ngày đầu tiên của Mùa Vọng. Đây là cơ hội rất tốt Chúa muốn dành để mời gọi mỗi chúng con làm mới lại chính mình, sống bằng xác tín chính ơn gọi của mình là mở lòng ra với Chúa và với tha nhân, hầu có thể lãnh nhận quà tặng ơn cứu độ. Xin đừng bao giờ để con tự khép lòng mình lại trên nhưng luôn biết mở toang cánh cửa trái tim cho Chúa ngự vào. Nhờ thế, tâm hồn con mới có được hạnh phúc vì Chúa mới chính là hạnh phúc và ơn cứu độ cho con. Amen.
-
Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015
Đức Giêsu chạnh lòng thương
Mt 15, 29-37
Hôm nay, bài Tin mừng kể lại việc Đức Giêsu chữa lành nhiều
bệnh nhân và hóa bánh ra nhiều lần thứ hai.
Chúa Giêsu lên núi, dân chúng lũ lượt kéo đến nghe Người giảng và đem theo nhiều kẻ bệnh tật để xin cứu chữa. Chúa đã chữa cho kẻ câm nói được, kẻ què đi được, kẻ mù thấy được nên họ hết sức cảm phục và tôn vinh Chúa.
Sau ba ngày họ luôn ở với Đức Giêsu mà không có gì ăn nên họ tỏ ra rất mệt nhọc (Mt 15,32). Chính vì vậy, Đức Giêsu đã “chạnh lòng thương” và không đành để cho họ nhịn đói, nên đã làm phép lạ cho bảy cái bánh và mấy con cá hóa nhiều cho họ ăn no nê dư dật.
Đức Giêsu đã thể hiện dung mạo của lòng xót thương. Người sẵn lòng yêu thương, chữa lành mọi người đặc biệt là những ai nghèo khổ, bệnh tật về phần hồn phần xác. Tin tưởng vào lòng xót thương của Chúa, chúng ta hãy chạy đến để cầu xin Chúa mỗi khi gặp khó khăn thử thách để cũng được Người ủi an nâng đỡ.
Trong cuộc sống, qua sách báo, tivi, internet chúng ta nhận thấy con người dần dần đang thiếu đi sự quan tâm chia sẻ, nhiều khi còn trở nên vô cảm trước những nỗi đau khổ bất hạnh của người xung quanh. Vì vậy, mỗi chúng ta cũng cần noi gương Chúa biết nhạy cảm mở rộng tấm lòng, mở rộng bàn tay ra để giúp đỡ những người nghè khổ bệnh tật hồn xác bên cạnh chúng ta.
THỨ TƯ SAU CN I VỌNG C - 2015
Trong bài đọc thứ nhất chúng ta vừa nghe đọc, khi mô tả về thời cánh chung,
ngôn sứ Isaia nghĩ đến một bữa tiệc lớn cho mọi dân tộc do Đức Chúa của Ítraen
khoản đãi trên núi thánh. Không phải chỉ đãi thịt béo, rượu ngon, Đức Chúa còn
lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người. Khổ đau không còn nữa, chỉ còn tiếng
reo vui và tiếng cười hạnh phúc.
Còn trong bài TM hôm nay, lời của ngôn sứ Isaia xưa, nay đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Thánh Matthêu mô tả thật rõ nét hình ảnh Chúa Giêsu lên một ngọn núi thuộc miền Thập Tỉnh của dân ngoại. Dân chúng kéo đến cùng với những người bệnh hoạn tật nguyền. Trên ngọn núi ấy, Ngài đã đem đến niềm vui cho bao người. Như kẻ câm nói được, người què đi được, người mù sáng mắt. Ngài không giảng về một Nước Trời xa xôi. Ngài cho thấy một Nước Trời gần gũi khi thân xác được lành mạnh. Vì vậy, Ngài đã quan tâm đến đám đông dân chúng không chỉ với việc rao giảng, hay chữa bệnh, mà Ngài còn biết chạnh lòng thương đám đông trong cái ăn cái mặc, trong sự sống còn của kiếp người. Ngài thấu hiểu đám đông đã theo Ngài, đã ở với Ngài từ ba ngày qua mà không có gì ăn. Ngài hiểu thế nào là cái đói và hậu quả của nó nên Ngài không muốn để họ đi về mà bụng lại rỗng không. Ngài “Sợ rằng họ bị đói sẽ xỉu dọc đường” . Nên đã nghĩ đến việc cho họ ăn như một nhu cầu cấp thiết. Trước vấn đề lương thực cho một đám đông như vậy ở nơi hoang vắng, các môn đệ thấy mình bất lực và bế tắc sau lời đề nghị của Chúa. “Chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no khi chúng con chỉ có bảy cái bánh và ít cá nhỏ” (c. 33).
“Bảy cái bánh và ít cá nhỏ”, đó là tất cả những gì họ có. Chúa đã làm phép lạ cả thể từ bảy chiếc bánh và ít cá nhỏ đó cho nhiều người ăn no nê và còn dư lại 7 thúng. Để nuôi đám đông, các môn đệ phải cộng tác với Đức Giêsu, trao cho Ngài tất cả những gì mình có, để rồi nhận lại tất cả từ Ngài, và đem chia sẻ cho đám đông. Bữa ăn hôm đó ở nơi vắng không phải là một đại tiệc với thịt ngon và bia rượu, nhưng rõ ràng là rất cần thiết, khi Chúa Giêsu đem lại sự no đủ cho dân chúng.
Kính thưa…Thế giới hôm nay còn hơn một tỉ người đói, đa số ở các nước Á châu. Nạn đói tại Sômali và nhiều nơi trên thế giới là một ô nhục cho nhân loại ngày nay. Nhưng không riêng gì tại các nước nghèo, ngay trong các nước giàu, người ta cũng nói đến những hình thức nghèo đói và thiếu ăn mới, đó là nghèo đói tình người: con người có thể có một bộ óc phát triển hơn, một thân thể cường trán hơn, nhưng trái tim thì lại mỗi ngày một nhỏ lại. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, vì Ngài xót thương đám đông đi theo Ngài. Ngài xót thương họ không những vì họ đang đói khát cơm bánh thể xác, mà còn vì nỗi đói khát tinh thần. Phép lạ bánh hóa nhiều không phải là một giải pháp tạm thời xoa dịu cơn đói khát, mà là một lời mời gọi, một khơi dậy về một chiều kích vượt trên những nhu cầu thể lý. Bên kia cơm bánh nuôi thể xác, Chúa Giêsu mời gọi con người hướng về một của ăn không hư nát là sự sống thần linh, sự sống làm cho con người biết yêu thương quảng đại hơn. Giàu tình người, giàu lòng quảng đại, giàu tình liên đới, đó là sự giàu có đích thực, và với sự giàu có ấy, phép lạ của Chúa Giêsu không ngừng được tiếp diễn, và lúc đó, cái đói khát thể xác mới được xóa bỏ và kiếp nghèo mới được hạ giảm. Bữa tiệc cánh chung mà chúng ta đang chờ mong trong suốt Mùa Vọng , phải được chuẩn bị từ những bữa ăn tinh thần cũng như vật chất cho những người nghèo hôm nay. Sống Mùa Vọng là lưu tâm đến bao người thiếu ăn ở quanh ta. Và dù chỉ có mấy cái bánh, ta vẫn tin có thể bẻ ra để nuôi được họ. Amen!
Còn trong bài TM hôm nay, lời của ngôn sứ Isaia xưa, nay đã được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Thánh Matthêu mô tả thật rõ nét hình ảnh Chúa Giêsu lên một ngọn núi thuộc miền Thập Tỉnh của dân ngoại. Dân chúng kéo đến cùng với những người bệnh hoạn tật nguyền. Trên ngọn núi ấy, Ngài đã đem đến niềm vui cho bao người. Như kẻ câm nói được, người què đi được, người mù sáng mắt. Ngài không giảng về một Nước Trời xa xôi. Ngài cho thấy một Nước Trời gần gũi khi thân xác được lành mạnh. Vì vậy, Ngài đã quan tâm đến đám đông dân chúng không chỉ với việc rao giảng, hay chữa bệnh, mà Ngài còn biết chạnh lòng thương đám đông trong cái ăn cái mặc, trong sự sống còn của kiếp người. Ngài thấu hiểu đám đông đã theo Ngài, đã ở với Ngài từ ba ngày qua mà không có gì ăn. Ngài hiểu thế nào là cái đói và hậu quả của nó nên Ngài không muốn để họ đi về mà bụng lại rỗng không. Ngài “Sợ rằng họ bị đói sẽ xỉu dọc đường” . Nên đã nghĩ đến việc cho họ ăn như một nhu cầu cấp thiết. Trước vấn đề lương thực cho một đám đông như vậy ở nơi hoang vắng, các môn đệ thấy mình bất lực và bế tắc sau lời đề nghị của Chúa. “Chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no khi chúng con chỉ có bảy cái bánh và ít cá nhỏ” (c. 33).
“Bảy cái bánh và ít cá nhỏ”, đó là tất cả những gì họ có. Chúa đã làm phép lạ cả thể từ bảy chiếc bánh và ít cá nhỏ đó cho nhiều người ăn no nê và còn dư lại 7 thúng. Để nuôi đám đông, các môn đệ phải cộng tác với Đức Giêsu, trao cho Ngài tất cả những gì mình có, để rồi nhận lại tất cả từ Ngài, và đem chia sẻ cho đám đông. Bữa ăn hôm đó ở nơi vắng không phải là một đại tiệc với thịt ngon và bia rượu, nhưng rõ ràng là rất cần thiết, khi Chúa Giêsu đem lại sự no đủ cho dân chúng.
Kính thưa…Thế giới hôm nay còn hơn một tỉ người đói, đa số ở các nước Á châu. Nạn đói tại Sômali và nhiều nơi trên thế giới là một ô nhục cho nhân loại ngày nay. Nhưng không riêng gì tại các nước nghèo, ngay trong các nước giàu, người ta cũng nói đến những hình thức nghèo đói và thiếu ăn mới, đó là nghèo đói tình người: con người có thể có một bộ óc phát triển hơn, một thân thể cường trán hơn, nhưng trái tim thì lại mỗi ngày một nhỏ lại. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ, vì Ngài xót thương đám đông đi theo Ngài. Ngài xót thương họ không những vì họ đang đói khát cơm bánh thể xác, mà còn vì nỗi đói khát tinh thần. Phép lạ bánh hóa nhiều không phải là một giải pháp tạm thời xoa dịu cơn đói khát, mà là một lời mời gọi, một khơi dậy về một chiều kích vượt trên những nhu cầu thể lý. Bên kia cơm bánh nuôi thể xác, Chúa Giêsu mời gọi con người hướng về một của ăn không hư nát là sự sống thần linh, sự sống làm cho con người biết yêu thương quảng đại hơn. Giàu tình người, giàu lòng quảng đại, giàu tình liên đới, đó là sự giàu có đích thực, và với sự giàu có ấy, phép lạ của Chúa Giêsu không ngừng được tiếp diễn, và lúc đó, cái đói khát thể xác mới được xóa bỏ và kiếp nghèo mới được hạ giảm. Bữa tiệc cánh chung mà chúng ta đang chờ mong trong suốt Mùa Vọng , phải được chuẩn bị từ những bữa ăn tinh thần cũng như vật chất cho những người nghèo hôm nay. Sống Mùa Vọng là lưu tâm đến bao người thiếu ăn ở quanh ta. Và dù chỉ có mấy cái bánh, ta vẫn tin có thể bẻ ra để nuôi được họ. Amen!
THỨ BA SAU CN I VỌNG C :Lc 10,21-24
Sau những ngày truyền giáo vất vả cực nhọc, các môn đệ trở về quây quần
bên Chúa. Họ đem theo những thành tích để khoe với Ngài. Họ trình Chúa: “Thưa
Thày, nhân danh thày thì cả ma quỉ cũng phải lụy phục chúng con”. Chúa bảo họ:
“chớ vui mừng vì điều đó, mà hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên
trời”. Sự thành công và niềm vui của 12 môn đệ được ghi tên trên trời làm Chúa
vui theo và hơn bao giờ hết, Ngài rất hãnh diện về đám học trò cưng của mình.
Biểu hiện niềm vui và sự hãnh diện ấy, Ngài đã thốt lên lời tán tụng tạ ơn
Thiên Chúa Cha : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã
giấu kín không cho bậc khôn ngoan biết những điều ấy, nhưng lại mạc khải cho
những kẻ bé mọn” .
Thật vậy, lần giở trong TM chúng ta thấy: Thiên Chúa đã giấu mầu nhiệm nước trời đối với những người tự cho mình khôn ngoan tài trí. Ngài đã không lựa chọn ai trong số công chúa hoàng cung làm mẹ. Thiên Chúa đã không ban quyền cho nhóm biệt phái pharisiêu hay Hêrôdê làm tông đồ, nhưng Ngài đã chọn những kẻ bé mọn. Vậy Kẻ bé mọn đó là ai ?
Trước hết, kẻ bé mọn là những người có một tấm lòng ngay lành, không thay đổi, không bất trung bội nghĩa. Người có lòng ngay được gọi là thiên tử, là con Thiên Chúa (Mt 5,9), được ở với Thiên Chúa, được thấy dung nhan Chúa. Người có lòng ngay là người phản ảnh Thiên Chúa là Đấng chân thật. Người có lòng ngay là người có đời sống trong sạch, biết dứt khoát từ bỏ tội lỗi, sống thành thực không lừa dối anh em.
Tiếp đến, kẻ bé mọn được hiểu là những ai có tinh thần trẻ thơ. Chúa nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, vì nước trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14). Nên giống như trẻ thơ vì trẻ thơ có sự ngây thơ trong trắng như thiên thần. Trẻ thơ như tờ giấy trắng, muốn viết gì lên đó cũng được. Trẻ thơ dễ dàng chấp nhận bất cứ điều gì cha mẹ răn bảo. Bảo sai chúng biết sai, bảo đúng chúng cho đúng. Trẻ thơ có gì cũng khoe và đem gửi cha mẹ như là một nơi vững chắc nhất. Trẻ thơ biết mình yếu đuối và thiếu thốn. Chúng không thể có gì tự vệ ngoài cha mẹ. Tuổi thơ lo học hành không đua đòi nhác nhớn.
Nhưng trong thực tế cuộc sống ngày hôm nay: cha phải nói một cách rất thật lòng với thiếu nhi chúng con rằng: thiếu nhi chúng con hiện tại không còn giống như trẻ thơ Do Thái mà Chúa sánh ví trong TM nữa rồi. Bởi vì, TN chúng con hôm nay ít còn có tâm hồn đơn sơ trong trắng ngay thẳng, thật thà. Nhiều bạn trong chúng con đang tập tành làm người lớn. Hay nói cách khác, hôm nay chúng con đã tự đánh mất tuổi thơ của chúng con.
Chúng con yêu quý! Chúa rất thích những tấm lòng nhỏ bé đơn sơ, cho nên, trong mùa Vọng năm nay, chúng con hãy quyết tâm cố gắng để tìm lại chính chúng con, tìm lại tuổi thơ hồn nhiên dễ thương ngày nào, để được người lớn và chính Chúa chúc lành và yêu thương.
Và kính thưa quý ông bà anh chị em!Mùa Vọng năm nay, xin cho mỗi người chúng ta biết sống khiêm tốn, sống cậy trông và phó thác cho Chúa, Đấng mà chúng ta đang trông chờ đến để giải thoát chúng ta khỏi ách của Satan và sự dữ. Chính vì thế mà lời cầu nguyện thích hợp nhất của mùa Vọng là "Lạy Chúa Xin hãy đến".
Lạy Chúa Giê-su ! Chúng con tin Chúa là Chúa tể vũ trụ. Chúng con tin Chúa là Đấng Emanuel đã đến trần gian để ở cùng chúng con. Chúa đã đến mạc khải Nước trời cho những kẻ bé mọn. Chúa đã chấp nhận mục nát đời mình trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người. Chúng con xin tạ ơn và chúc tụng Chúa. Xin ban cho chúng con quả tim đơn sơ như trẻ nhỏ, sẵn sàng đón nhận những gì Chúa ban tặng cho chúng con, và xin cho chúng con can đảm phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng con xin được nép mình bên Chúa như trẻ thơ nép mình trong vòng tay của mẹ. Amen.
Thật vậy, lần giở trong TM chúng ta thấy: Thiên Chúa đã giấu mầu nhiệm nước trời đối với những người tự cho mình khôn ngoan tài trí. Ngài đã không lựa chọn ai trong số công chúa hoàng cung làm mẹ. Thiên Chúa đã không ban quyền cho nhóm biệt phái pharisiêu hay Hêrôdê làm tông đồ, nhưng Ngài đã chọn những kẻ bé mọn. Vậy Kẻ bé mọn đó là ai ?
Trước hết, kẻ bé mọn là những người có một tấm lòng ngay lành, không thay đổi, không bất trung bội nghĩa. Người có lòng ngay được gọi là thiên tử, là con Thiên Chúa (Mt 5,9), được ở với Thiên Chúa, được thấy dung nhan Chúa. Người có lòng ngay là người phản ảnh Thiên Chúa là Đấng chân thật. Người có lòng ngay là người có đời sống trong sạch, biết dứt khoát từ bỏ tội lỗi, sống thành thực không lừa dối anh em.
Tiếp đến, kẻ bé mọn được hiểu là những ai có tinh thần trẻ thơ. Chúa nói: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, vì nước trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14). Nên giống như trẻ thơ vì trẻ thơ có sự ngây thơ trong trắng như thiên thần. Trẻ thơ như tờ giấy trắng, muốn viết gì lên đó cũng được. Trẻ thơ dễ dàng chấp nhận bất cứ điều gì cha mẹ răn bảo. Bảo sai chúng biết sai, bảo đúng chúng cho đúng. Trẻ thơ có gì cũng khoe và đem gửi cha mẹ như là một nơi vững chắc nhất. Trẻ thơ biết mình yếu đuối và thiếu thốn. Chúng không thể có gì tự vệ ngoài cha mẹ. Tuổi thơ lo học hành không đua đòi nhác nhớn.
Nhưng trong thực tế cuộc sống ngày hôm nay: cha phải nói một cách rất thật lòng với thiếu nhi chúng con rằng: thiếu nhi chúng con hiện tại không còn giống như trẻ thơ Do Thái mà Chúa sánh ví trong TM nữa rồi. Bởi vì, TN chúng con hôm nay ít còn có tâm hồn đơn sơ trong trắng ngay thẳng, thật thà. Nhiều bạn trong chúng con đang tập tành làm người lớn. Hay nói cách khác, hôm nay chúng con đã tự đánh mất tuổi thơ của chúng con.
Chúng con yêu quý! Chúa rất thích những tấm lòng nhỏ bé đơn sơ, cho nên, trong mùa Vọng năm nay, chúng con hãy quyết tâm cố gắng để tìm lại chính chúng con, tìm lại tuổi thơ hồn nhiên dễ thương ngày nào, để được người lớn và chính Chúa chúc lành và yêu thương.
Và kính thưa quý ông bà anh chị em!Mùa Vọng năm nay, xin cho mỗi người chúng ta biết sống khiêm tốn, sống cậy trông và phó thác cho Chúa, Đấng mà chúng ta đang trông chờ đến để giải thoát chúng ta khỏi ách của Satan và sự dữ. Chính vì thế mà lời cầu nguyện thích hợp nhất của mùa Vọng là "Lạy Chúa Xin hãy đến".
Lạy Chúa Giê-su ! Chúng con tin Chúa là Chúa tể vũ trụ. Chúng con tin Chúa là Đấng Emanuel đã đến trần gian để ở cùng chúng con. Chúa đã đến mạc khải Nước trời cho những kẻ bé mọn. Chúa đã chấp nhận mục nát đời mình trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người. Chúng con xin tạ ơn và chúc tụng Chúa. Xin ban cho chúng con quả tim đơn sơ như trẻ nhỏ, sẵn sàng đón nhận những gì Chúa ban tặng cho chúng con, và xin cho chúng con can đảm phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng con xin được nép mình bên Chúa như trẻ thơ nép mình trong vòng tay của mẹ. Amen.
Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015
THỨ BA TUẦN 1 MÙA VỌNG B( 01.12.2015)
Lc
10, 21-24
Khi
ấy, được Thánh Thần tác động, Ðức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là
Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn
ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé
mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã giao phó mọi sự cho
tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết
Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Rồi Ðức
Giêsu quay lại với các môn đệ và bảo riêng: “Phúc thay mắt nào được thấy điều
anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa
đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em
đang nghe, mà không được nghe.”
Suy
niệm:
Chuyện
kể rằng: Ở một vùng đất nọ có một nhà hiền triết nổi tiếng là khôn ngoan và
thánh thiện, người dân trong vùng ai có vấn đề gì chưa thông hiểu hay không
giải quyết được đều đến thỉnh ý của nhà hiền triết và khi ra về lòng họ luôn
vui mừng hân hoan vì nhận được những chỉ dẫn, những lời khuyên bổ ích. Tiếng
tăm về nhà hiền triết tài đức ngày một lan rộng nên có nhiều người đến tìm gặp
ngài.
Nghe
biết sự tình như thế, một giáo sư trong vùng mới đâm nghĩ bụng: ta phải đến
thỉnh giáo người mà thiên hạ đồn đại là khôn ngoan để xem sự thật thế nào.
Tiếp
vị giáo sư trong một ngôi nhà ấm cúng, sau một vài câu hỏi chào thăm, nhà hiền
triết mới mời vị giáo sư dùng trà. Khi rót trà, nhà hiền triết cứ rót mặc cho
ly nước đã đầy để nước chảy tràn ra ngoài. Vị giáo sư mới thầm nghĩ rằng:
“người mà thiên hạ cho là bậc khôn ngoan hoá ra chỉ là một ông già lẩn
thẩn, đãng trí”. Không thể chịu nỗi vị giáo sư mới thốt lên: “ Thưa ông, ly
nước đã đầy, sao ông có thể rót thêm được nữa”. Lúc này, nhà hiền triết mới
dừng lại và bình thản nói: đúng thế, ly trà đã đầy sao có thể rót thêm được.
Giống như ly trà, Ông đến với tôi khi lòng chất đầy thành kiến và kêu ngạo thì
làm sao tôi có thể nói với ông về những triết thuyết của tôi”.
Câu
chuyện kể trên không mấy khó để mỗi người chúng ta rút ra cho mình bài học nhân
bản là cần lắm sự chân thành, khiêm nhu, đơn sơ trước người khác và trước cuộc
sống. Lẽ đời vốn dĩ luôn quý chuộng những con người mặc lấy cho mình tâm tình
như thế và ngược lại, thói kêu căng tự phụ cho dẫu là ai đi chăng nữa đều đáng
khinh chê, lên án.
Tin
Mừng ngày hôm nay cũng đã nói lên điều đó, khi Đức Giê-su lòng đầy hoan hỷ
trong Thánh Thần đã thốt lên: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi
khen cha vì cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những
mầu nhiệm nước trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mon. Vâng, lạy Cha,
vì đó là điều đẹp ý Cha".
Trước
tiên, người bé mọn Chúa Giê-su muốn nói đến là ai? Một câu trả lời dễ dàng khi
soi dọi vào bối cảnh của đoạn Tin Mừng hôm nay đó là các môn đệ nói
riêng và những người mặc lấy thái độ khiêm nhường, biết lắng nghe lời Chúa nói
chung. Đoạn Tin Mừng tường thuật lại việc các ông trở về lòng đầy hân hoan vì
nhân danh Đức Giêsu mà họ chữa được các bệnh tật, trừ được quỷ. Niềm tin nhưng
không mà Thiên Chúa mặc khải cho các ông cần lắm thái độ khiêm nhường, tín
thác, đơn sơ vì họ xác tín rằng chính quyền năng Thiên Chúa đã làm những việc
ấy và họ chỉ là những khí cụ để Thiên Chua thi thố tình thương của Nnười mà
thôi.
Cũng
thế, những bậc khôn ngoan thông thái mà Chúa ám chỉ không ai khác chính là
những kinh sư, những Pharisêu, những nhà thông luật cho rằng mình thông minh,
thuộc luật Môsê và đã đủ khôn ngoan để cầm nắm chìa khoá của sự trường cửu. Đó
là những nhà thông thái chỉ gói gọn trong bối cảnh Tin Mừng nhưng sâu xa hơn,
đó có thể còn có tôi và có bạn khi chúng ta với một chút kiến thức cỏn con đã
huyênh hoang, kêu ngạo cho mình là nhất , đã thấu hiểu lẽ đời, muốn làm thầy
thiên hạ, xem người khác bằng nữa con mắt... thái độ ấy chẳng phải như vị giáo
sư ở câu chuyện trên ư, chẳng phải chính chúng ta cũng thấm nhiễm men Pharisêu,
men kinh sư biệt phái ư. Thái độ ấy, chưa xét đến giá trị Tin Mừng, chỉ xét đến
đạo đức luân thường xã hội thôi cũng đáng bị lên án.
Thánh
Phaolô trong thư gửi đến giáo đoàn Cô-rin-tô cũng nhắn nhủ những tâm tình ấy
khi ngài nói: "Những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã
chọn để hạ gục những kẻ khôn ngoan và những gì thế gian cho là yếu kém, thì
Thiên Chúa đã chọn để hạ gục những kẻ hùng mạnh, những gì thế gian cho là hèn
mạt không đáng kể, là không có thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì đã
có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người" (1Cr 1, 27 -
29).
Dừng
lại giây lát để suy xét một vấn đề là chúng ta không thể đem thước đo giá
trị của con người để mặc định cho Thiên Chúa trong việc nhận định tốt xấu đúng
sai, nhưng thiết nghĩ, Thiên Chúa luôn yêu quý những tâm hồn đơn sơ, chân thành
lắng nghe lời Chúa hơn là những người tự coi mình là thầy dạy của thiên hạ.
Điều này được minh chứng khá rõ khi Chúa tỏ mình ra cho Ba Vua, khi gọi Lêvi-
người thu thuế, khi ghé nhà GiaKêu- một người giàu có, khi trò chuyện cùng
Nicôđêmô - một kinh sư lỗi lạc trong dân Do Thái. Cần phải minh định điều cốt
lõi ở đây là, không phải Thiên Chúa là đấng thiên tư tây vị, chỉ yêu chuộng
những người nghèo khổ, đơn sơ, bần hàn, mà lại “ngó lơ” những người khôn ngoan,
thông thái, giàu có mà chính xác là Chúa yêu chuộng những tâm hồn đơn sơ, chân
thành và khiêm nhường dẫu cho họ là người thông thái hay không thông thái, cao
sang hay bần hàn, giàu có hay nghèo khó, cốt lõi là thái độ đón nhận Lời Chúa
như thế nào.
Xin
được mượn lời thánh vịnh 130 (131) để thể hiện thái độ đơn sơ, khiêm hạ trước
Thiên Chúa Tình Yêu.
Lòng
con chẳng dám tự cao
Mắt
con chẳng dám tự hào Chúa ơi!
Đường
cao vọng chẳng đời nào bước,
Việc
diệu kì vượt sức chẳng cầu;
Hồn
con con vẫn trước sau
Giữ
cho thinh lặng giữ sao thanh bình.
Như
trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
Trong
con hồn lặng lẽ yên vui.
Cậy
vào Chúa Israel
ơi,
Từ
nay đến mãi muôn đời muôn năm
Bước
vào Mùa vọng – mùa của sự trông đợi, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình đơn sơ,
khiêm nhu, chân thành để thực sự khao khát, mong chờ Chúa đến bằng tất cả tâm
hồn, chứ không phải là một thái độ hờ hững, xem thường biến cố Giáng Sinh
như một sự luân chuyển thường niên của năm phụng vụ. Hãy khiêm nhường tạ ơn
Chúa vì hồng ân Đức Tin mà Chúa đã mặc khải cho chúng ta. Hãy Mặc lấy sự khiêm
hạ, chân thành để lắng nghe, đón nhận Lời Chúa vì Chúa luôn yên mến những tâm
hồn bé nhỏ, đơn sơ và khiêm nhu. A-men.
Phaolô
Lê Quốc Bảo SDB
Chúa Nhật II Mùa Vọng, C (Lu-ca 3: 1-6)
Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa
Vọng giới thiệu Chúa Giê-su là Con Người sẽ đến xét xử trần gian và sứ điệp của
Người kêu gọi ta phải chuẩn bị đón tiếp Người, hôm nay Phụng vụ Lời Chúa trình
bày một gương mẫu đáp lại sứ điệp của Chúa: ông Gio-an Tiền hô. Ông mời gọi người ta chuẩn bị đón tiếp
Chúa. Nhưng lời mời gọi ấy
lại chính là những điều ông đã sống và giờ đây ông đem chia sẻ với mọi người. Vậy ông Gio-an là ai và sứ điệp của
ông là gì?
1) Thân
thế và sứ mệnh của ông Gio-an Tiền hô
Trước khi viết về sứ mệnh của ông
Gio-an Tiền hô, thánh sử Lu-ca đã ghi lại bối cảnh lịch sử xã hội và tôn giáo
thời ấy. Các lãnh tụ đời
cũng như đạo đều được nhắc tới. Đây không chỉ là cách viết của một sử gia
nói có sách mách có chứng, nhưng hơn thế nữa, thánh Lu-ca còn muốn trình bày
một bối cảnh mà ông Gio-an sẽ thi hành sứ mệnh là kêu gọi người ta hối cải,
nghĩa là cần phải đổi mới cả hai phương diện xã hội cũng như tôn giáo.
Thân thế của ông Gio-an đã được nói
đến trong Tin Mừng Lu-ca, chương 1. Cuộc
ra đời của em bé Gio-an mang những nét đặc biệt, cho thấy bàn tay Thiên Chúa
can thiệp rõ ràng. Mẹ em có
thai trong tuổi già. Cha em
bị câm một thời gian vì hoài nghi lời sứ thần Gáp-ri-en tiên báo. Mới là một bào thai, em bé đã biết
nhảy mừng trong bụng mẹ khi bà đến viếng thăm Mẹ Ma-ri-a. Ngay việc đặt tên cho em cũng khác
thường, không phải bằng cái tên của họ hàng muốn đặt cho, nhưng cái tên Gio-an
do thiên sứ truyền cho ông Da-ca-ri-a phải đặt. Càng lớn lên, tinh thần cậu bé “càng
vững mạnh”. Khi lớn khôn,
“cậu sống trong trong hoang địa, cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en”.
Trong hoang địa, Gio-an lãnh nhận sứ mệnh
từ Thiên Chúa và ông chọn lựa một địa bàn hoạt động cũng rất khác thường, là
“đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ
lòng sám hối để được ơn tha tội”. Ta
thử tưởng tượng mình sống vào thời ấy để thấy ông Gio-an thi hành sứ mệnh. Phương tiện giao thông chỉ là đôi chân
dày dạn. Thế mà ông Gio-an
đã đi khắp vùng ven sông Gio-an, đến các làng mạc chung quanh để rao giảng về
sự sám hối. Kèm theo lời
giảng, ông chọn lựa một nghi thức để giúp người ta biểu lộ tâm tình sám hối, đó
là phép rửa. Mục đích sứ
mệnh của ông là làm sao giúp người ta sẵn sàng “để được ơn tha tội”. Ông ý thức rõ ràng phép rửa của ông
chỉ là một nghi thức dùng nước để giúp người ta ý thức tình trạng tội lỗi của
họ thôi, vì nước không thể rửa sạch tội lỗi cho ai được. Chỉ có Đấng đến sau ông là Đức Ki-tô
mới “làm phép rửa trong Thánh Thần” (Mc 1:8), nghĩa là chỉ Đức Ki-tô mới có thể
tẩy rửa tội lỗi ta trong công trình cứu độ của Người. Do đó, sứ mệnh của ông Gio-an là làm
tiếng hô kêu gọi người ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ, “dọn sẵn con
đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.
2) Sứ
điệp sám hối
Dọn đường cho Đức Chúa đến, lối cho
Người đi vào tâm hồn ta là mục tiêu của sứ điệp Gio-an. Nhưng nếu đường đã bị cắt, lối đã bị
ngăn thì làm sao Chúa đến với ta được. Chúa không độc đoán dùng quyền năng
của Người bắt ta phải để cho Người đến với ta, trái lại Người muốn có một cuộc
gặp gỡ đồng tình, do ý muốn của đôi bên. Nếu Người đã xếp bỏ thời gian và không
gian vô biên của Thiên Chúa lại để chấp nhận chịu hạn hẹp trong thời gian và
không gian của loài người qua Đức Ki-tô mà đến với ta, thì Người cũng mong ta
hãy phá bỏ đi những giới hạn tâm hồn của ta để mở lòng cho Người tới. Ngôn sứ I-sai-a đã dùng những hình ảnh
thật quen thuộc để mô tả những giới hạn tâm hồn ấy. Đó là thung lũng, núi đồi, quanh co,
lồi lõm. Đối với kỹ thuật
và cơ giới hiện nay, thực hiện một con đường tại nơi gặp những trở ngại như
trên không còn là vấn đề khó khăn. Máy
móc tối tân có thể giúp người ta xây một xa lộ trong thời gian thật ngắn. Nhưng người ta lại bó tay không thể
làm một con đường dẫn Chúa vào tâm hồn một người không muốn có sự thay đổi nào.
Ông Gio-an chỉ lập lại sứ điệp của
ngôn sứ I-sai-a thôi. Sứ
mệnh của ông quả đơn giản, là kêu gọi mỗi người hãy tự mình dọn đường lối cho
Chúa đến. Đúng vậy, ngoài
Chúa ra, ai có thể biết rõ được tâm hồn người khác. Mà giả như người khác có biết được
những thung lũng, núi đồi, quanh co và lồi lõm của tâm hồn ta, thì họ cũng
chẳng có thể làm gì hơn ngoài việc nhắc nhở ta sửa đổi. Ông Gio-an đã đem cả cuộc đời để làm
công việc đơn giản là nhắc nhở kêu gọi người ta. Tiếng hô của ông trong hoang
địa đã vượt biên tới tận kinh thành Giê-ru-sa-lem. Mọi người mọi giới đạo đời đã đến xin
ông cho biết họ phải làm gì. Có
nhiều người làm theo lời chỉ dạy. Nhưng
cũng có nhiều người chẳng những không muốn nghe mà còn muốn dập tắt tiếng hô
của ông. Ông chấp nhận mọi
thử thách và cả cái chết đau thương để chu toàn sứ mệnh nhắc nhở ấy.
3) Những
Gio-an Tiền hô hôm nay
Khi đem sứ điệp sám hối đến cho dân
chúng, bản thân ông Gio-an đã sống sứ điệp ấy. Ông từ bỏ đời sống dễ dãi tiện nghi
của thành phố và những tham vọng để chọn lối sống trong hoang địa, giống như
lấp đầy đi cái thung lũng tham sân si của ông. Ông bạt phẳng núi đồi kiêu căng ganh
tị ngấm ngầm trong lòng, để xác tín chỗ đứng của ông sau Chúa Giê-su: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến,
tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Ông
cũng không quanh co đánh lận con đen, vỗ ngực nói với dân chúng đang ngưỡng mộ
ông: Tôi chính là Đấng
Mê-si-a đây! (xem Lc 3:15).
Mẫu người Gio-an đã lấy đời mình làm
sứ điệp, làm tiếng hô sám hối. Ki-tô
hữu hôm nay cũng ý thức sứ mệnh làm sứ điệp sám hối. Ta sống tinh thần sám hối, thay đổi và
phá bỏ đi những trở ngại tâm hồn, để từ đó ta sẽ trở thành một tiếng hô cho gia
đình, xã hội và thế giới. Kinh
nghiệm cho ta biết rất nhiều bậc cha mẹ không thể bảo ban dạy dỗ con cái được,
là vì “tiếng hô” của họ rỗng tuyếch, không có cơ sở bởi đời sống gương mẫu.
Trong viễn tượng truyền giáo, ta không
thể mời gọi anh chị em chưa được biết Chúa đón nghe Tin Mừng nếu chính đời sống
của ta không phản ảnh những giá trị Tin Mừng. Ta không thể nói với họ về
bác ái, yêu thương, nếu chính ta thiếu lòng bác ái yêu thương. Ta không thể loan báo cho người khác
biết Chúa đến cứu độ ta, nếu ta chưa cho họ thấy con đường Chúa đến với ta đã
được chuẩn bị sẵn sàng.
4) Suy
nghĩ và cầu nguyện
Tất cả cuộc sống Ki-tô hữu là một hành
trình sám hối không ngừng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô. Vậy tôi đang trên hành trình ấy hay
vẫn giậm chân tại chỗ? Tôi có ý thức sứ điệp Tin Mừng của Chúa Ki-tô cũng
bắt đầu bằng việc kêu gọi sám hối không? Tôi đọc Mác-cô 1:15 hoặc Mát-thêu 4:17
và trả lời Chúa.
Những điểm xấu và tiêu cực nào trong
tâm hồn tôi được ví như thung lũng, đồi núi, quanh co, lồi lõm? Tôi có một vài phương thức cụ thể nào
để thay đổi chúng, đặc biệt trong mùa Vọng này?
Cầu nguyện
“Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đến.
Xin đừng mỉm cười mà nói rằng
Chúa đã ở bên chúng con rồi.
Có cả triệu người chưa biết Chúa.
Nhưng biết Chúa thì được cái gì?
Chúa đến để làm gì
nếu đời sống con cái của Chúa cứ tiếp
tục y như cũ?
Xin hoán cải chúng con.
Xin lay chuyển chúng con.
Ước gì sứ điệp của Chúa
trở nên máu thịt của chúng con,
trở nên lẽ sống của cuọâc đời chúng
con.
Ước gì sứ điệp đó
lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự
tại,
và đòi buộc chúng con,
làm chúng con không yên.
Bởi lẽ chỉ như thế,
sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con
bình an sâu xa,
thứ bình an khác hẳn,
đó là Bình An của Chúa.”
- Helder Camara
(Trích RABBONI,
lời nguyện 11)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
Thứ Hai sau Chúa Nhật I Mùa Vọng – Năm C
Lời Chúa: Mt 4, 18-22
“Người bảo các ông: “Các anh hãy
theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức
hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người” (Mt 4, 19 -20).
Thánh Matthêu thuật lại việc Chúa
Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên. Trình thuật này gợi lên hai yếu tố căn
bản của tất cả các ơn gọi. Một đàng, việc Chúa cất tiếng gọi “Hãy theo
Thầy” nói lên sự chủ động và ưu ái của Chúa đối với những người được gọi. Đàng
khác, sự đáp trả lập tức của môn đệ Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gioan nói lên
thái độ quảng đại và sự từ bỏ cần có nơi môn đệ của Đức Giêsu. Họ cần
từ bỏ tất cả để Chúa huấn luyện họ trở thành “kẻ chài lưới người” chuyên
nghiệp cho Ngài. Khi nhận ra mình được Chúa Giêsu yêu thương và chọn gọi, các
môn đệ đã đáp lại cách trọn vẹn, không phải một lần nhưng là trải dài suốt
mọi biến cố trong cuộc đời. Đỉnh cao của lời đáp trả này là việc các
ngài đã chọn cách chết như Thầy, chết cho người khác được sống đời đời.
Nếu xưa Chúa đã đi dọc theo biển
hồ Ga-li-lê để kêu gọi các môn đệ thì nay Chúa cũng đang đi dọc theo biển đời
để mời gọi con người tiếp nối việc rao giảng Tin Mừng. Xưa Chúa đã hiện diện
cách thể lý và gọi đích danh người được chọn thì nay Chúa vẫn đang hiện diện
nơi Giáo Hội qua các vị đại diện của Ngài và cất tiếng gọi đối với
những người Chúa muốn. Giữa một thế giới nhiều tiếng vẫy gọi như ngày hôm
nay, tiếng Chúa gọi dường như xa lạ với nhiều người. Số bạn trẻ nghe và đáp lại
tiếng Chúa đang ít dần. Chúa muốn mỗi người chúng ta đáp lại lời Ngài cách dứt
khoát và trọn vẹn, không phải một ngày nhưng là mọi ngày trong đời ơn gọi của
ta. Chúa muốn ta chu toàn ơn gọi của mình qua từng công việc và từng biến cố
trong mỗi ngày sống. Nếu ta ví ơn gọi của ta như một đường thẳng thì những ngày
sống vâng theo thánh ý Chúa nơi ta sẽ là những dấu chấm liên tục tạo nên
đường thẳng đó. Dấu chấm đậm thì đường thẳng rõ, dấu chấm nhạt thì đường thẳng
mờ. Khi có một đường thẳng rõ thì ta dễ dẫn mọi người đến với Chúa hơn.
Lạy Chúa Giêsu, Giáo Hội của Chúa
luôn cần những vị tông đồ thiện toàn để mở rộng Nước Chúa. Xin cho chúng con và
nhiều bạn trẻ hôm nay biết noi gương các môn đệ của Chúa biết quảng đại đáp lại
tiếng Chúa gọi cách dứt khoát và trọn vẹn. Xin cho chúng con dám buông mình cho
Chúa đào luyện để mai này trở thành những môn đệ như lòng Chúa ước mong.
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015
THỨ HAI 30.11 - THÁNH ANRÊ TÔNG ĐỒ, Lễ kính
Rm 10:9-18; Mt 4:18-22
Lời
Chúa: Mt 4, 18-22
Khi
ấy, Đức Giêsu đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là
Simon, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển,
vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ
làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” lập tức hai ông bỏ chài
lưới mà đi theo Người. Ði một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông
Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này đang cùng với cha
là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ
thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
TRỞ
NÊN NGƯỜI MÔN ĐỆ
Thánh
Anrê xuất thân từ Bếtsaiđa và là ngư phủ. Theo Tin mừng Gioan, đầu tiên ngài là
môn đệ của Gioan Tẩy Giả; sau khi nghe lời giới thiệu của thầy về “Chiên Thiên
Chúa”, ngài theo Đức Giêsu, trở thành môn đệ và thuộc vào nhóm Mười Hai.
Thánh
sử Mátthêu thuật lại niềm tin và sự đáp trả của tông đồ Anrê khi được Đức Giêsu
gọi đi theo Người làm môn đệ. Từ đấy cuộc đời của Anrê thay đổi hoàn toàn. Anrê
đã dành trọn cuộc đời cho ơn gọi theo Chúa. Từ một ngư phủ trở thành người
nhiệt tâm rao giảng Tin mừng cho muôn dân.
Thánh
Anrê minh chứng lòng trung thành với sứ mạng ấy bằng giá máu của mình, nhờ đó
Tin mừng cứu độ được đến với muôn dân muôn nước. Noi gương thánh Anrê, chúng ta
có sẵn sàng loan báo Tin mừng cứu độ cho anh chị em bằng đời sống chứng tá của
người môn đệ Đức Kitô?
Lạy
Chúa, xin nhận lời thánh Anrê cầu thay nguyện giúp mà củng cố niềm tin của
chúng con, để chúng con cũng chia sẻ niềm tin của mình cho những người chúng
con gặp gỡ.
Gr 33:14-16; 1 Tx 3:12 – 4,2; Lc 21:25-28.34-36
Lời
Chúa: Lc 21, 25-28.34-36
Ðức
Giêsu nói về ngày Quang lâm của Người rằng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời,
mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh
biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng
xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ
thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những
biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em
sắp được cứu chuộc. Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì
chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp
xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh
em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến
và đứng vững trước mặt Con Người.”
NGÀY
CON NGƯỜI ĐẾN
Vừa
đưa bàn tay mặt nắm chặt lấy tay trái, thánh Hialariô (+371) vừa khẩn thiết kêu
xin Chúa và tuyên xưng vào cuộc sống mai sau. Ngài là một thầy dòng khổ tu tại
Palestin chuyên cầu nguyện và hy sinh khổ hạnh. Nhưng đến giờ phút cuối cùng,
trước khi nhắm mắt, giờ Chúa gọi, ngài đã phải đương đầu với một chước cám dỗ
nặng nề dường như ngã lòng trông cậy, khiếp sợ tòa phán xét nên đã phải cầu
nguyện tha thiết. Về phần mình, chúng ta có luôn sẵn sàng đón chờ Chúa đến
trong từng giây phút của cuộc đời?
Bài
Tin mừng hôm nay là một trong những diễn từ cánh chung của Đức Giêsu và được
viết theo lối văn khải huyền. Người đến để tiêu diệt tử thần và giải cứu con
người thoát khỏi bóng tối của sự chết. Vì thế, giáo huấn của Người mời gọi các
tín hữu phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn để tránh xa mọi thói hư tật xấu, cám
dỗ của thế gian.
Danh
hiệu Con Người được Đức Giêsu chọn để ám chỉ bản thân Người, nhằm biểu lộ sứ
mệnh thiên sai của Người. Tước hiệu Con Người có hai ý nghĩa khác nhau: Một là
muốn nói đến “Người Tôi trung của Thiên Chúa” sẽ phải chịu đau khổ để đền tội
thay cho nhân loại; hai là Chúa Con sẽ được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha,
và sẽ quang lâm vào ngày sau hết trong cương vị Thẩm Phán tối cao mà xét xử thế
gian và “thiết lập một vương quyền vĩnh cửu”.
Cụm
từ “Ngự trong đám mây mà đến” cho biết Đức Giêsu sẽ ngự đến trong uy quyền và
vinh quang của Thiên Chúa. Thế nên, “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” là thái độ
sẵn sàng, hân hoan, tràn đầy niềm hy vọng của các tín hữu vì sắp nhận được ơn
cứu độ.
Lạy
Chúa, xin cho chúng con biết “tìm gặp Chúa” trong mọi ơn lành Chúa ban, trong
các bí tích, trong các việc lành và trong mỗi anh chị em, để vào ngày Chúa
viếng thăm, chúng con sẽ được gặp Chúa.
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô Theo Thánh Luca. (Lc 21, 25-28.34-36)
25 "Sẽ
có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ
lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.26 Người ta sợ đến hồn
xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên
trời sẽ bị lay chuyển.27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng
và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy
ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc." 34 "Vậy
anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng
sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em,35 vì
Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất.36Vậy anh em hãy tỉnh thức và
cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước
mặt Con Người."
SUY
NIỆM
Quyền
lực của sự dữ làm cho con người khom lưng, đi bằng đầu gối, cúi rạp người, sấp
mặt, sợ hãi và rồi tuân phục và làm theo những gì nó sai khiến. Lời tiên báo
của Chúa Giêsu làm cho chúng ta hình dung nên cảnh sợ hãi và hỗn loạn trong
ngày cánh chung. Nhiều người sẽ hồn siêu phách lạc và không dám mở mắt lên xem.
Lời tiên báo của của Chúa Giêsu làm chúng ta liên tưởng đến sự cưỡng bức bằng
quyền lực thống trị, đến sự cường quyền và bạo lực gây ra sợ hãi trong nhân
loại suốt chiều dài lịch sử hiện diện của con người chúng ta. Nhiều người vì
cường quyền mà chấp nhận làm tay sai, nhiều người vì ham danh hám lợi mà đánh
mất nhân cách và nhân phẩm, nhiều người vì ma lực của đồng tiền mà cúi gầm mặt
và chấp nhận đánh mất lương tri. Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy đầy dẫy những
trò lố như thế và chúng ta chê cười. Những người đã sa vào trận đồ của quyền
lực tối tăm ma quỷ ấy rõ là không thể ngẩng mặt lên với đời và mãi mãi cúi sấp
mặt với lịch sử. Nó như một bài học để răn dạy hậu thế. Sống là phải cao
thượng, sống phải vì chính danh và sống trên hết phải lương thiện. Chúa Giêsu
bảo: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng
đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. Đứng thẳng và ngẩng đầu là tư thế của
người công chính, không vì cường quyền mà sợ hãi, không vì áp bực mà trở nên xu
nịnh, không vì ma lực của tiền bạc mà đánh mất lương tri, cúi rạp mình để bạo
quyền và tư lợi làm chủ.
Người
công chính thì chọn Chúa làm cùng đích và họ không sợ gì ngoài Chúa. Người bất
chính thì bán mình cho quyền lực sự dữ và chấp nhận nô lệ cho những vinh hoa
của nó mang lại.
Lạy
Chúa, nhiều cám dỗ biết bao giữa cuộc đời, nhưng xin cho chúng con chọn Chúa
làm lẽ sống của con. Amen.
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô Theo Thánh Luca. (Lc 21, 25-28.34-36)
25 "Sẽ
có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ
lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.26 Người ta sợ đến hồn
xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên
trời sẽ bị lay chuyển.27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng
và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy
ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc." 34 "Vậy
anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng
sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em,35 vì
Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất.36Vậy anh em hãy tỉnh thức và
cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước
mặt Con Người."
SUY
NIỆM
Quyền
lực của sự dữ làm cho con người khom lưng, đi bằng đầu gối, cúi rạp người, sấp
mặt, sợ hãi và rồi tuân phục và làm theo những gì nó sai khiến. Lời tiên báo
của Chúa Giêsu làm cho chúng ta hình dung nên cảnh sợ hãi và hỗn loạn trong
ngày cánh chung. Nhiều người sẽ hồn siêu phách lạc và không dám mở mắt lên xem.
Lời tiên báo của của Chúa Giêsu làm chúng ta liên tưởng đến sự cưỡng bức bằng
quyền lực thống trị, đến sự cường quyền và bạo lực gây ra sợ hãi trong nhân
loại suốt chiều dài lịch sử hiện diện của con người chúng ta. Nhiều người vì
cường quyền mà chấp nhận làm tay sai, nhiều người vì ham danh hám lợi mà đánh
mất nhân cách và nhân phẩm, nhiều người vì ma lực của đồng tiền mà cúi gầm mặt
và chấp nhận đánh mất lương tri. Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy đầy dẫy những
trò lố như thế và chúng ta chê cười. Những người đã sa vào trận đồ của quyền
lực tối tăm ma quỷ ấy rõ là không thể ngẩng mặt lên với đời và mãi mãi cúi sấp
mặt với lịch sử. Nó như một bài học để răn dạy hậu thế. Sống là phải cao
thượng, sống phải vì chính danh và sống trên hết phải lương thiện. Chúa Giêsu
bảo: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng
đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. Đứng thẳng và ngẩng đầu là tư thế của
người công chính, không vì cường quyền mà sợ hãi, không vì áp bực mà trở nên xu
nịnh, không vì ma lực của tiền bạc mà đánh mất lương tri, cúi rạp mình để bạo
quyền và tư lợi làm chủ.
Người
công chính thì chọn Chúa làm cùng đích và họ không sợ gì ngoài Chúa. Người bất
chính thì bán mình cho quyền lực sự dữ và chấp nhận nô lệ cho những vinh hoa
của nó mang lại.
Lạy
Chúa, nhiều cám dỗ biết bao giữa cuộc đời, nhưng xin cho chúng con chọn Chúa
làm lẽ sống của con. Amen.
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015
Trong đời, có rất nhiều dịp để bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với cha mẹ, anh em, bạn bè và những người xung quanh. Hơn thế nữa, ta còn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa của mình. Vâng, đó là một biểu lộ đẹp của con người với nhau, là một nghĩa cử quý báu của tạo vật đối với Đấng Tạo Hoá.
Tạ ơn là một bổn phận
Thật là phải đạo khi tạ ơn cha mẹ về công lao sinh thành dưỡng dục. Các ngài đã chịu đủ mọi vất vả lo toan, không thiếu điều cay đắng tủi nhục, dư đầy những khó nhọc gian nan. Công lao của cha mẹ lớn lắm. Ta có thể xây nhà, cho tiền, tạo mọi điều kiện cho cha mẹ. Nhưng nói đến việc báo hiếu thì không thể nào có dấu chấm hết.
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Thật là hợp lý khi tạ ơn người thân, lối xóm làng giềng, bạn bè và những người xung quanh. Tất cả đều cộng tác vào việc đào tạo, hỗ trợ cuộc sống của ta. Quả không sai khi nói : mọi người đều là ân nhân của nhau. Nhờ Giáo hội, xã hội mà các khả năng của ta được phát triển, đường tiến thân và hiến thân của ta được phát huy. Và ta trở thành người có giá trị, hữu ích cho mọi người.
Thật là chính đáng khi tạ ơn Thiên Chúa, Đấng chẳng để ta không không mãi ngàn đời, nhưng vui lòng chia sẻ sự sống, tác tạo nên ta theo hình ảnh Ngài. Rồi còn đưa vào Giáo hội để ta sống trong đức tin và ân nghĩa Chúa. Trong ân nghĩa ta mới có thể biểu lộ niềm tin và trong đức tin ta mới có thể hiểu được thế nào là ân sủng.
Tạ ơn là một trách nhiệm
Con người không hiện hữu một mình, nhưng là sống với, sống cùng. Vì vậy, con người không đơn giản chỉ thực hiện việc cám ơn cha mẹ, biết ơn nhau, tạ ơn Chúa một mình. Mà mỗi người, mỗi ơn gọi đều có trách nhiệm tạ ơn trong cộng đoàn liên hệ là : gia đình, học đường, dòng tu, cộng đoàn mình sống. Vì tất cả đều là anh em con cùng một Cha trên trời. Vì tất cả đều đã được nhận ơn từ trời. Vì thế, tất cả đều có trách nhiệm phải giúp nhau tạ ơn. Ta không nên thánh một mình nhưng là cùng nhau nên thánh.
Tạ ơn là một ân sủng
Thật trân trọng khi con người biết tạ ơn nhau, nhưng xét cho cùng cũng chỉ ở bình diện nhân loại. Còn khi tạ ơn Thiên Chúa mới thật sự vinh phúc, vì ta không tạ ơn người phàm, mà tạ ơn thần linh - Đấng đã tạo dựng muôn loài muôn vật. Tạ ơn chỉ có lợi cho con người mà thôi. Và Thiên Chúa cũng “chẳng cần chúng ta ca tụng, nhưng việc chúng ta cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban, vì những lời ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng ta ơn cứu độ” (kinh tiền tụng IV).
Khi tạ ơn, con người được thoát ra khỏi cái hạn hữu bé nhỏ của mình để hoà nhập vào vinh quang Thiên Chúa, Đấng đã ban cho ta ơn có thể mở miệng, mở lòng mà tạ ơn. Ta hãy hãnh diện vì vì ân sủng này. Càng tạ ơn, ta càng nhận thấy nhiều điều lớn lao kỳ diệu của Thiên Chúa. Ta càng nhìn thấy Thiên Chúa thật và con người thật của mình. Ta sẽ thành chúa, chúa trong Chúa. Ta và Ngài là một. Nói khác đi : “Tôi sống nhưng không còn là tôi, mà là chính Chúa sống trong tôi” (Gl 2,20)
Hai tiếng tạ ơn thật cũ kỹ nhưng ý nghĩa thì luôn chuyển động. Vì mỗi giây phút qua đi, tạ ơn lại là một hành động mới, một ý nghĩa mới. Giá trị cao đẹp nhất của đời người là biết tạ ơn Chúa, cám ơn người, biết ơn nhau.
Thứ 6 tuần 34: Tồn tại qua muôn đổi thay
Lc 21, 29-33
Nhân loại đã và đang bước đi trên đại lộ của thế kỷ được coi là ánh sáng trong một thế giới khoa học tân tiến và tự do. Khung trời ấy tạo ra cho con người những khả năng mới với những thuận lợi mới mà nhiều khi con người không bao giờ nghĩ tới. Tuy nhiên, sự chuyển mình với não trạng duy khoa học của nhân loại nhiều khi lại khai tử đời sống đạo đức, ‘‘thu hẹp’’ Thiên Chúa vào trong một chấm nhỏ của lịch sử. Trước sự “thay da đổi thịt” của lối sống tân thời, điều gì sẽ còn và mãi tồn tại qua thời gian? Nơi Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã hướng con người đến điều mãi luôn hiện diện dẫu có muôn vàn đổi thay “Trời đất này sẽ qua đi nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21,33).
“Trời đất này sẽ qua đi” (Lc 21,33a). Đây là lời khẳng định của Chúa Giêsu về tương lai của vũ trụ vật chất. Cái hữu hạn sẽ tan biến qua vòng luân chuyển của thời gian. Cái hữu hạn ở đây là chính sự giới hạn mong manh của kiếp nhân sinh, là những gì mỗi người đang nắm giữ. Kinh nghiệm và Kinh Thánh cho thấy mỗi người sẽ không ở địa cầu mãi mãi vì mọi sự sẽ qua đi. Những giới hạn của thực tại hữu hạn ấy gợi lên nơi tâm thức mỗi người những suy nghĩ về chính cuộc đời với ý nghĩa của nó “Tôi là ai? Tôi đến từ đâu và sẽ đi về đâu? Đâu là nơi an toàn vững chắc để tôi có thể thả neo cuộc đời?”
“Những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21,33b). Lời xác quyết của Chúa Giêsu gọi về sự hiện diện thường hằng của Người giữa nhân gian. Không những hiện diện trong Lời (Logos) được lưu truyền qua muôn thế hệ mà Ngài còn có mặt mọi nơi, mọi lúc qua các biến chuyển của thời đại. Hơn nữa, Ngài còn hiện diện trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời mỗi người. Sự hiện diện đầy yêu thương đó khơi lên niềm hy vọng của con người về một viễn tượng mới nơi Công Lý ngự trị. Đắm mình trong sự hiện diện của Thiên Chúa giúp mỗi người xác tín hơn ý định và tình yêu quan phòng của Đấng là Chủ dòng thời gian trong những bước thăng trầm của lịch sử nhân loại nói chung và cách riêng với những biến cố của mỗi nhân vị.
Lạy Thiên Chúa là Cha Hằng Hữu, là Đấng luôn hiện diện và quan phòng nhân thế. Xin cho chúng con mãi luôn ý thức và nhận ra sự hiện diện trường tồn của Ngài trong mọi biến cố ngõ hầu mỗi người chúng con luôn biết từ bỏ những gì phù vân mà gắn mình với thực tại hằng hữu là chính Chúa.
Thứ 7 tuần 34: Hành trình cuối cùng
Thứ Bảy tuần 34 ( Lc 21, 34
- 36)
Nếu con người có ngày sinh ắt sẽ có ngày tử. Nghe có vẻ rất tiêu cực, nhưng đó lại là một sự thật không ai chối cãi được. Cũng vì nó là một sự thật, một sự thật đau lòng nên người ta tìm cách tránh né nói đến nó, và thay vào đó là tìm cách để cho mình được sống, càng lâu càng tốt. Nhưng khổ nỗi, cái chết lại như hình với bóng đeo đuổi con người suốt hành trình dương thế này. Vì không tìm được lối thoát nên nhiều người đã thất vọng khi phải đối diện với cái chết. Với người Ki-tô hữu, cái chết không phải là kết thúc nhưng là mở ra một viễn tượng mới. Đó là ngày họ được trở về với Đấng mà suốt cả cuộc đời tin tưởng cậy trông và khao khát đạt tới. Phải chăng tất cả mọi Ki-tô hữu đều được hạnh phúc vào ngày Chúa quang lâm hay còn phải chuẩn bị những gì cho ngày đó?
Không phải cứ là Ki-tô hữu là nắm chắc phần phúc đời sau. Đức tin chúng ta lãnh nhận ngày chịu Bí tích Rửa tội mới là khởi đầu, còn phải làm cho đức tin ấy sinh hoa kết quả nữa. Sống đức tin trong cuộc sống dương thế này là một cơ hội tốt để rèn luyện đức tin của chúng ta. Với một cuộc sống bình thường hằng ngày chúng ta đã thấy biết bao nhiêu khó khăn thử thách, đôi lúc còn làm cho chúng ta lo lắng bất an về sự lựa chọn tin theo Chúa của mình. Vậy mà ngày Chúa đến còn khủng khiếp biết là chừng nào? (x. Lc 21, 23-27). Hiểu thấu được sự lo lắng bất an đó, Chúa Giê-su đã căn dặn các môn đệ cũng như chúng ta hôm nay là hãy đề phòng: cách tiêu cực là “chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời” (Lc 21,34); cách tích cực là “phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn” (Lc 21.36).
“Tỉnh thức và cầu nguyện” là những việc chúng ta cần chuẩn bị cha ngày mà Chúa đến viếng thăm. Tỉnh thức là gắn bó với Đấng mình trông đợi. Một sự tỉnh thức như vậy không thể tách rời việc cầu nguyện, vì cầu nguyện giúp ta hướng lòng lên Chúa. Chỉ có tỉnh thức và cầu nguyện mới giúp cho người Ki-tô hữu có đủ sức và đứng vững trong cuộc chiến đấu quyết liệt của những ngày cuối cùng. Tỉnh thức cũng có nghĩa là chu toàn nhiệm vụ được giao phó (Lc 12,42-44), là luôn mang một thao thức muốn sống phù hợp với những giá trị Tin mừng. Một cuộc sống biết tỉnh thức và cầu nguyện như thế sẽ giúp cho cuộc sống Ki-tô hữu của chúng ta ở đời này luôn đượm màu sắc của hy vọng, hy vọng về một trời mới đất mới nơi công lý ngự trị. Luôn biết chuẩn bị sẵn sàng như vậy, thì ngày Chúa quang lâm sẽ không còn gì là bất ngờ nữa, nhưng sẽ là ngày mà mọi ước mong của chúng ta được thành toàn.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn biết sống tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu chuẩn bị những gì tốt nhất cho ngày Chúa đến viếng thăm. Để khi Chúa đến chúng con đã sẵn sàng không còn phải hoang mang lo lắng nữa, vì được ở bên Chúa mãi mãi.
Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015
Thứ sáu Tuần 34 Thường niên
Lời Chúa: Lc 21, 29-33
Khi ấy, Ðức Giêsu kể cho các môn đệ nghe một dụ ngôn: “Anh em hãy xem cây vả cũng như tất cả những cây khác. Khi cây đâm chồi, anh em nhìn thì đủ biết là mùa hè đã đến gần. Anh em cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, thì hãy biết là Triều Ðại Chúa đã đến gần. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.”
Khi ấy, Ðức Giêsu kể cho các môn đệ nghe một dụ ngôn: “Anh em hãy xem cây vả cũng như tất cả những cây khác. Khi cây đâm chồi, anh em nhìn thì đủ biết là mùa hè đã đến gần. Anh em cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, thì hãy biết là Triều Ðại Chúa đã đến gần. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.”
Trong
những ngày cuối năm phụng vụ, Lời Chúa dẫn đưa chúng ta tới viễn cảnh cánh
chung, tới tình trạng con người được sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa. Hôm
nay, Chúa Giêsu khẳng định: “Trời đất qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua
đâu” (Lc 21, 33). Thật vậy, thực tại trần thế này chỉ như ngôi nhà tạm bợ, mọi
sự rồi sẽ qua đi, Lời Chúa thì tồn tại qua muốn thế hệ, đó là Lời sáng tạo, Lời
thông ban sự sống và Lời Cứu Độ toàn thể nhân loại. Đây là điều mà Thánh sử
Gioan đã xác quyết trong những trang đầu của Tin Mừng: “Từ nguyên thuỷ đã có
Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,
1).
Mỗi
người tín hữu kitô được mời gọi lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Quả thật Lời
Chúa không chỉ được nghe bằng đôi tai nhưng hơn cả cần được nghe bởi con tim.
Một con tim biết rung lên những nhịp đập của tình yêu thương, lòng cảm thông,
tâm hồn chia sẻ… sẽ lắng nghe được Lời Chúa và tiếng tha nhân, để từ đó sẽ có
những lựa chọn, quyết định và hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.
Lạy
Chúa,“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv
119, 105). Nguyện Chúa giúp cho chúng con nhận ra được giá trị của Lời Chúa để
biết mở rộng tâm hồn đón nhận ánh sáng và sức sống Lời Chúa. Ngõ hầu, chúng con
được gắn bó với Chúa, được chính sức mạnh của Lời Chúa đổi mới, hướng dẫn, nâng
đỡ, ủi an khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Amen.
Thứ Năm Tuần XXXIV Thường Niên ( 26.11.2015)
Lời Chúa: Lc 21,20-28
(20) "Khi anh em thấy thành Giêrusalem bị các đạo binh vây hãm, bấy giờ anh em hãy biết rằng đã gần đến ngày khốc hại của thành. (21) Bấy giờ, ai ở miền Giuđê, hãy trốn lên núi; ai ở trong thành, hãy bỏ đi nơi khác; ai ở vùng quê, thì chớ vào thành. (22) Thật vậy, đó sẽ là những ngày báo oán, ngày mà tất cả những gì đã chép trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm.(23) Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó!
"Vì sẽ có cơn khốn khổ cùng cực trên đất này, và cơn thịnh nộ giáng xuống dân này. (24) Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giêrusalem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại.
(25) "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. (26) Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. (27) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (28) Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc".
(20) "Khi anh em thấy thành Giêrusalem bị các đạo binh vây hãm, bấy giờ anh em hãy biết rằng đã gần đến ngày khốc hại của thành. (21) Bấy giờ, ai ở miền Giuđê, hãy trốn lên núi; ai ở trong thành, hãy bỏ đi nơi khác; ai ở vùng quê, thì chớ vào thành. (22) Thật vậy, đó sẽ là những ngày báo oán, ngày mà tất cả những gì đã chép trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm.(23) Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó!
"Vì sẽ có cơn khốn khổ cùng cực trên đất này, và cơn thịnh nộ giáng xuống dân này. (24) Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giêrusalem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại.
(25) "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. (26) Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. (27) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (28) Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc".
Đền thờ Giêrusalem nguy nga
tráng lệ, biểu trưng cho niềm tin tôn giáo và tự hào của người Do Thái, đã vĩnh
viễn “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” dưới gót giầy của người Roma dày
xéo, như lời Đức Giêsu tiên báo. Nếu như người Do Thái khóc thương cho một quê
hương hoang tàn khói lửa, thì các tín hữu tiên khởi lại hân hoan ra đi mang Tin
Mừng hy vọng đến khắp cùng bờ cõi trái đất; sự sụp đổ của thành thánh
Giêrusalem trở thành “cơ hội” để Nước Thiên Chúa được hiển trị giữa lòng đời và
lòng người.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng
ta nhìn vào các biến cố cuộc sống với một nhãn quan và tâm thức hy vọng như các
tín hữu tiên khởi đã cảm nghiệm nơi biến cố Giêrusalem năm 70. Sự đổ vỡ và mất
mát nào cũng mang lại sự buồn phiền đau đớn, nhưng chúng ta cần vượt trên bình
diện sự kiện để khám phá thánh ý Chúa và sống niềm hy vọng trước các biến cố
cuộc đời. Thiên Chúa không khuất mặt trước những khổ đau của con người. Trái
lại, Ngài luôn hiện diện, nâng đỡ và mang lại tia sáng hy vọng từ trong những
thất vọng họ đang nếm trải. Một niềm tin đích thực là niềm tin luôn nhận biết
sự hiện diện của Chúa trong những éo le cuộc đời. Vì thế, như Lời Chúa soi rọi,
đừng chán nản, thất vọng, buông xuôi mà “hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên vì giờ
cứu rỗi đã gần đến”.
Lạy Chúa, trong mọi nơi và mọi
lúc, xin cho chúng con luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Xin Chúa giúp chúng
con luôn sống lạc quan và tin tưởng trong tình yêu quan phòng của Chúa khi phải
đối diện và trải qua những đau thương của cuộc đời. Amen.
26/11. Thứ Năm. Ðn 6,11-27; Lc 21,20-28
Bài Ðọc I - Ðn 6,11-27
Trong những ngày ấy, có những người tọc
mạch dò xét, họ bắt gặp Ðaniel đang cầu nguyện kêu xin cùng Chúa mình. Họ liền
đến tâu vua về điều lệ rằng: "Tâu đức vua, chớ thì đức vua đã chẳng quy
định rằng: trong ba mươi ngày, hễ ai cầu xin cùng thần minh nào hay người nào
ngoài đức vua, thì, lạy đức vua, nó sẽ bị ném vào hang sư tử đó sao?" Vua
trả lời rằng: "Ðúng, cứ như sắc chỉ Mêđia và Batư, thì không được sai
lỗi". Bấy giờ họ lại tâu vua rằng: "Ðaniel thuộc con cái Giuđa phải
lưu đày, đã chẳng xem sao lề luật và chiếu chỉ vua đã quy định: mỗi ngày nó đọc
kinh cầu nguyện ba lần". Khi nghe biết điều đó, nhà vua rất đỗi buồn rầu.
Vua quyết tâm cứu chữa Ðaniel, và cố gắng cứu người cho đến khi mặt trời lặn.
Những người ấy hiểu ý vua, liền tâu vua rằng: "Tâu đức vua, xin đức vua
biết cho rằng dân Mêđia và Batư có lề luật này là bất cứ sắc chỉ nào đức vua
ra, thì không được thay đổi". Bấy giờ vua truyền dẫn Ðaniel ra, và họ ném
người xuống hang sư tử. Vua bảo Ðaniel rằng: "Xin Thiên Chúa ngươi hằng
thờ lạy sẽ cứu thoát ngươi". Người ta liền lấy hòn đá chận cửa hang, vua
lấy nhẫn mình và nhẫn các quan triều thần mà đóng ấn niêm phong, để bảo đảm vụ
Ðaniel.
Vua trở về hoàng cung liền đi ngủ, không
chịu ăn uống lương thực dâng trước mặt vua, nhưng vua không sao ngủ được. Trời
vừa rạng đông, vua liền chỗi dậy, vội vã chạy ra hang sư tử. Khi đến gần cửa
hang, vua liền lớn tiếng khóc thương Ðaniel rằng: "Hỡi Ðaniel tôi tớ Thiên
Chúa hằng sống, không biết Thiên Chúa ngươi hằng thờ lạy có cứu chữa được ngươi
thoát khỏi sư tử chăng?" Ðaniel trả lời rằng: "Tâu đức vua muôn tuổi,
Thiên Chúa của thần đã sai thiên sứ đến bịt miệng sư tử lại, nên chúng không
làm hại được thần; vì trước mặt Thiên Chúa, thần là người công chính; vả lại
tâu đức vua, trước mặt đức vua, thần cũng chẳng làm điều gì sai lỗi. Bấy giờ
vua mừng rỡ, truyền kéo Ðaniel ra khỏi hang. Khi Ðaniel ra khỏi hang, người ta
thấy người không bị hề hấn gì, vì người đã tin cậy vào Thiên Chúa của người.
Vua liền truyền đem các người tố cáo Ðaniel, cùng vợ con của chúng, ném vào
hang sư tử, chúng chưa kịp rơi xuống tới đáy hang, thì đã bị sư tử cắn xé nát
thịt tan xương.
Bấy giờ vua Ðariô ra chiếu chỉ cho toàn
dân, các chi họ, các thổ ngữ, những người đang cư ngụ trong toàn quốc rằng:
"Nguyện cho các ngươi được thêm sự bình an. Ta đã ra chiếu chỉ cho các địa
phương trong nước ta, ai nấy đều phải kính sợ Thiên Chúa của Ðaniel. Vì chính
Người mới là Thiên Chúa hằng sống, và hằng có đời đời; nước Người không hề tan
rã, và quyền bính Người tồn tại đến muôn đời. Chính Người là Ðấng Giải thoát và
Cứu độ, Người làm những dấu lạ và những việc kỳ diệu trên trời dưới đất: Người
đã cứu chữa Ðaniel khỏi hang sư tử".
Tin Mừng - Lc 21,20-28
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ
rằng: "Khi các con thấy Giêrusalem bị các đạo binh bao vây, các con hãy
biết rằng đã gần đến lúc thành ấy bị tàn phá. Bấy giờ những ai ở trong đất
Giuđa, hãy chạy trốn lên núi, những ai ở trong thành, hãy rời xa, và những ai ở
vùng quê, chớ có vào thành; vì những ngày ấy là những ngày báo oán, để ứng
nghiệm mọi lời đã ghi chép.
"Khốn cho những đàn bà đang mang
thai và nuôi con thơ trong những ngày ấy: vì chưng sẽ có sự khốn cực cả thể
trong xứ và cơn thịnh nộ trút xuống dân này. Chúng sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm,
sẽ phải bắt đi làm tôi trong các dân, và Giêrusalem sẽ bị các dân ngoại chà
đạp, cho đến thời kỳ dành cho dân ngoại chấm dứt.
"Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời,
mặt trăng và các ngôi sao; dưới đất, các dân tộc buồn sầu lo lắng, vì biển gầm
sóng vỗ. Người ta sợ hãi kinh hồn, chờ đợi những gì sẽ xảy đến trong vũ trụ, vì
các tầng trời sẽ rung chuyển. Lúc đó, người ta sẽ thấy trên đám mây, Con Người
hiện đến đầy quyền năng và uy nghi cao cả. Khi những điều đó bắt đầu xảy đến,
các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến".
Suy niệm
Câu chuyện trong bài đọc một cho chúng
ta thấy sự can thiệp của Thiên Chúa để cứu độ dân Người. Người giải thoát họ
khỏi đau khổ bởi bàn tay kẻ dữ và làm cho danh Nguời thêm rạng sáng: “Các địa
phương trong nước ta, ai nấy đều phải kính sợ Thiên Chúa của Ðaniel; Chính
Người là Ðấng Giải thoát và Cứu độ, Người làm những dấu lạ và những việc kỳ
diệu trên trời dưới đất”.
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu liệt kê
ra một loạt những đau khổ sẽ xảy đến trong “ngày của Chúa”: những hiện tượng kỳ
lạ, rùng rợn, ghê sợ…nhưng sau tất cả những thứ đó “Con Người hiện đến đầy
quyền năng và uy nghi cao cả. Khi những điều đó bắt đầu xảy đến, các con hãy
đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến".
Như thế, điều mà chúng ta có thể làm là
kiên nhẫn tin tưởng vào Chúa, với niềm hy vọng qua đau khổ sẽ được Chúa cứu độ
đưa vào ánh vinh quang.
Lạy Chúa, Chúa sẽ đến cứu chúng con
nhưng trước đó chúng con phải chịu thử thách để rèn luyện đức tin của mình. Xin
Chúa tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn được mạnh mẽ trong những
cơn nguy biến. Amen.
Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015
Thứ Năm Tuần XXXIV Thường Niên ( 26.11.2015)
Lc
21, 20-28; Đn 6, 12-28
Trước những biến động khôn lường trên thế giới, con người ngày nay hoang mang đặt ra những câu hỏi: Liệu có phải sắp tận thế chăng hoặc những sự kiện này có ý nghĩa gì?... Trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, Tin Mừng Luca ghi lại lời tiên báo, nhắc nhớ cho các môn đệ năm xưa và cho chúng ta hôm nay hãy nhận ra vương quyền và giờ khắc của Người khi xuất hiện những điềm thiêng dấu lạ trên trời, dưới biển. Tuy nhiên, Người cũng trấn an chúng ta: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21,28).
Trong cuộc đời tại thế, Đức Giêsu có lần đã khiển trách người Do Thái nói chung và nhóm Pharisêu nói riêng khi họ chỉ biết nhận xét cảnh sắc đất trời mà không nhận ra sự hiện diện của Nước Trời đang ở giữa họ là chính Ngài. Về phương diện lịch sử, những lời loan báo của Đức Giêsu về sự sụp đổ của thành Giêrusalem đã được ứng nghiệm khi quân La Mã vây hãm và công phá vào năm 70. Giêrusalem đã thực sự sụp đổ “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” (Lc 21, 5-7) và dân Do Thái đã bị phân tán khắp thế giới vì sự cứng tin của họ không nhận ra ngày giờ của Chúa. Còn ngày nay, những sự kiện, biến cố Đức Giêsu đã tiên báo xưa vẫn không ngừng xảy ra trên toàn thế giới theo một nghĩa nào đó trên quy mô rộng lớn: chiến tranh, động đất, sóng thần, bệnh dịch, tai nạn… Ngoài ra, còn phải kể đến biết bao biến cố lớn nhỏ xảy ra trong cuộc đời mỗi người như: bệnh tật, chia ly, cái chết… Tất cả những biến cố này đã làm cả thế giới kinh hoàng, bất lực trước sự tàn phá của thiên tai và cái chết. Vậy đâu là thái độ của người Kitô hữu hôm nay?
Quả thật, Nước Thiên Chúa thực sự đã và đang hiện diện nơi Đức Kitô và qua Giáo Hội của Ngài như chính Người đã tuyên bố với người Do Thái. Đức Giêsu tiên báo về “ngày giờ” của Người với những hình ảnh uy nghiêm, ghê sợ không phải để làm cho chúng ta sợ hãi, nhát đảm nhưng là để chúng ta nhận ra thánh ý của Người và cam đảm thực hiện điều Người muốn. Những dấu chỉ trên đây, không cho phép ta thờ ơ lãnh đạm với cuộc sống đức tin của chính mình và những người xung quanh. Chúng ta cần tỉnh thức và tích cực canh tân đời sống mình để sẵn sàng cho giờ Chúa đến. Có như thế, chúng ta mới có thể mạnh mẽ, vững vàng trước mọi biến động của thế giới như Đanien hiên ngang trước miệng sư tử của vua Đariô trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Hơn thế nữa, sống thái độ sẵn sàng này là chúng ta đang tích cực góp phần làm cho lời cầu nguyện chúng ta dâng lên mỗi ngày “xin cho triều đại Cha mau đến” sớm được thành toàn.
Lạy Chúa, xin mở con mắt đức tin của con để dù sống giữa thế sự phù hoa, con luôn biết nhạy bén trước những dấu chỉ thời đại mà nhận ra thánh ý của Ngài và mau mắn thực hiện. Chúa ơi, quá khứ đời con xin Chúa thương xót! Tương lai đang đến xin Ngài dẫn đưa và đặc biệt giây phút hiện tại này xin Ngài thánh hóa để chúng con tích cực sống trọn vẹn giây phút này trong tình yêu Chúa và tha nhân hầu cho Nước Chúa được thực sự bắt đầu ngay từ giây phút này. Amen.
THỨ NĂM SAU CN 34 TN NĂM B Lc 21,20-28
Theo lời kể của Josephus, một sử gia người Do Thái, thỉ vị tướng Rôma là Titô
đã mang 80.000 quân bao vây Giêrusalem suốt 6 tháng trời, khiến người dân trong
thành rơi vào cảnh đói khát cùng cực. Ông kể lại rằng một phụ nữ quê ở Pêrêa vì
quá đói đã túm lấy đứa con còn thơ dại, giết con và nướng để ăn. Cũng theo sử
gia này, quân Rôma đã dùng gươm để giết hơn một triệu người ở Giêrusalem và
Giuđê. Còn những người Do Thái bị bắt làm tù binh là gần một trăm ngàn người. Tất
cả đã xảy ra đúng như lời tiên báo của Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, lời của Chúa không chỉ ứng nghiệm với thành thánh bị phá hủy vào ngày lễ vượt qua năm 70 đó, mà còn tiên báo về ngày tận cùng của cả thế giới. Khi Ngài đến trong vinh quang để xét xử, có các tai ương làm cho con người lo âu sợ hãi: “Sẽ có những điểm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh tượng biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các tinh tú bầu trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ Con Người sẽ xuất hiện uy nghi trên đám mây . Sau đó Chúa trấn an: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên.”
Đứng thẳng để đón Đấng mà họ đã suốt đời thắp đèn chờ đợi.
Ngẩng đầu để mừng giây phút ơn cứu chuộc đã đến gần.
Kính thưa…Người ta vẫn hay đoán già đoán non về ngày tận thế. Năm 2000 với biến cố Y 2K qua rồi, đâu thấy tận thế. Cha già Đa Minh Trần Đình Thủ, Ngài là người sáng lập ra Dòng Đức Mẹ Đồng Công, hiện có trụ sở chính tại Thủ Đức. Ngài nói rằng: theo như lời Đức Mẹ tiên báo thì năm 2000 sẽ tận thế, nên Ngài kêu mời các thầy hãy sống thánh thiện và luôn luôn sám hối ăn năn chờ đợi ngày tận thế xảy đến. Năm 2000 tận thế đã không xảy ra trên thế giới nhưng chính năm ấy, Ngài đã đón nhận ngày tận thế của chính đời ngài để vâng nghe tiếng Chúa gọi Ngài về với Chúa, hưởng thọ 104 tuổi. Một vài năm gần đây và nhất là vào những ngày tháng 11 năm 2012, trên các trang mạng, trong nước cũng như quốc tế, người ta đã xôn xao đồn đoán vào ngày 21.12.2012 là ngày tận thế. Vì ngày đó là thời điểm cuối cùng của bộ Lịch người Maya chấm dứt. Một cuộc khảo sát của hãng tin Reuter trong tháng 5. 2012 cho thấy, cứ 10 người thì có 1 người tin như vậy. Nhưng ngày đó cũng đã đi qua rồi mà chưa thấy tận thế.
Những năm cuối thiên niên kỷ thứ hai, rất nhiều thiên tai đã gây ra cho con người. Đặc biệt với cơn siêu bão Hải Yến năm 2013 càn quét đất nước Philippin cướp đi hơn hai ngàn người, phải chăng đó là những dấu hiệu ngày tận thế đang đến gần? Sẽ không có câu trả lời dứt khoát như đinh đóng cột, bởi vì Chúa không muốn cho biết đích xác ngày đó. Ngài chỉ cho biết ngày ấy sẽ tới. ngay cả Chúa Giêsu cũng không biết. Bởi đó thái độ khôn ngoan nhất của chúng ta là luôn luôn sẵn sàng chào đón với thái độ đứng thẳng, và ngẩng đầu lên khi Ngài đến.
Ngày tận thế không biết có xảy ra trong cuộc đời chúng ta hay không. Nhưng ngày chúng ta từ giã cuộc đời giống như Cha Già Đa Minh Trần Đình Thủ, để đi về với Chúa thì chắc chắn có. Mỗi người sẽ phải có ngày tận thế của đời mình. Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết chuẩn bị cho mình một thái độ thích hợp trong ngày Chúa đến.
Tuy nhiên, lời của Chúa không chỉ ứng nghiệm với thành thánh bị phá hủy vào ngày lễ vượt qua năm 70 đó, mà còn tiên báo về ngày tận cùng của cả thế giới. Khi Ngài đến trong vinh quang để xét xử, có các tai ương làm cho con người lo âu sợ hãi: “Sẽ có những điểm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh tượng biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các tinh tú bầu trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ Con Người sẽ xuất hiện uy nghi trên đám mây . Sau đó Chúa trấn an: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên.”
Đứng thẳng để đón Đấng mà họ đã suốt đời thắp đèn chờ đợi.
Ngẩng đầu để mừng giây phút ơn cứu chuộc đã đến gần.
Kính thưa…Người ta vẫn hay đoán già đoán non về ngày tận thế. Năm 2000 với biến cố Y 2K qua rồi, đâu thấy tận thế. Cha già Đa Minh Trần Đình Thủ, Ngài là người sáng lập ra Dòng Đức Mẹ Đồng Công, hiện có trụ sở chính tại Thủ Đức. Ngài nói rằng: theo như lời Đức Mẹ tiên báo thì năm 2000 sẽ tận thế, nên Ngài kêu mời các thầy hãy sống thánh thiện và luôn luôn sám hối ăn năn chờ đợi ngày tận thế xảy đến. Năm 2000 tận thế đã không xảy ra trên thế giới nhưng chính năm ấy, Ngài đã đón nhận ngày tận thế của chính đời ngài để vâng nghe tiếng Chúa gọi Ngài về với Chúa, hưởng thọ 104 tuổi. Một vài năm gần đây và nhất là vào những ngày tháng 11 năm 2012, trên các trang mạng, trong nước cũng như quốc tế, người ta đã xôn xao đồn đoán vào ngày 21.12.2012 là ngày tận thế. Vì ngày đó là thời điểm cuối cùng của bộ Lịch người Maya chấm dứt. Một cuộc khảo sát của hãng tin Reuter trong tháng 5. 2012 cho thấy, cứ 10 người thì có 1 người tin như vậy. Nhưng ngày đó cũng đã đi qua rồi mà chưa thấy tận thế.
Những năm cuối thiên niên kỷ thứ hai, rất nhiều thiên tai đã gây ra cho con người. Đặc biệt với cơn siêu bão Hải Yến năm 2013 càn quét đất nước Philippin cướp đi hơn hai ngàn người, phải chăng đó là những dấu hiệu ngày tận thế đang đến gần? Sẽ không có câu trả lời dứt khoát như đinh đóng cột, bởi vì Chúa không muốn cho biết đích xác ngày đó. Ngài chỉ cho biết ngày ấy sẽ tới. ngay cả Chúa Giêsu cũng không biết. Bởi đó thái độ khôn ngoan nhất của chúng ta là luôn luôn sẵn sàng chào đón với thái độ đứng thẳng, và ngẩng đầu lên khi Ngài đến.
Ngày tận thế không biết có xảy ra trong cuộc đời chúng ta hay không. Nhưng ngày chúng ta từ giã cuộc đời giống như Cha Già Đa Minh Trần Đình Thủ, để đi về với Chúa thì chắc chắn có. Mỗi người sẽ phải có ngày tận thế của đời mình. Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết chuẩn bị cho mình một thái độ thích hợp trong ngày Chúa đến.
Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng. Thế giới này
còn bao điều khiếm khuyết, dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào... Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ. Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. amen
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào... Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ. Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. amen
THỨ TƯ SAU CN 34 TN B: Lc 21,12-19
Lúc trời còn tối, ngày 16 tháng 11 năm 1989, tại
nước El Salvador, một nhóm người có vũ trang đã xâm nhập vào một trường Đại Học
ở Trung Mỹ. Chúng đã giết sáu linh mục Dòng Tên và hai mẹ con người giúp việc.
Giết xong chúng đã kéo xác ra ngoài vườn và làm những trò man rợ. Các linh mục
này đều là những nhà trí thức, có ảnh hưởng trong xã hội. Họ muốn đấu tranh cho
xã hội ở Sanvađo không còn bất công xảy ra, người nghèo được tôn trọng, và muốn
chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài khiến hơn 70 ngàn người chết. Vì thế, họ đã
phải trả giá bằng vụ thảm sát bất ngờ, họ đã chết như những chứng nhân, những
vị tử đạo thời mới.
Kính thưa…Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu nói về những cuộc bách hại xảy ra trước khi Ngài trở lại trong ngày chung thẩm, ngày tận thế. Các môn đệ sẽ phải chịu những gì Thầy mình đã chịu. Họ sẽ bị bắt, bị ngược đãi, bị tù đày, bị đem ra tòa đời. Họ sẽ bị nộp bởi chính người thân, bị mọi người thù ghét, và thậm chí bị giết hại. Tất cả những gì các môn đệ phải chịu đều là vì danh Thầy.
Chính tình yêu trung tín đối với Thầy và giáo huấn của Thầy
đã khiến bao Kitô hữu tự nguyện đón nhận khổ đau và cái chết. Không phải chỉ chối Thầy cách công khai mới mang tội bất trung. Không phải chỉ bước qua thập giá mới là phản bội. Bất cứ khi nào chúng ta bước qua những giá trị ngàn đời của Kitô giáo, như sự thật, sự sống, công bằng, bác ái, nhân phẩm, tự do, lương tâm, khi ấy chúng ta cũng đã chối bỏ Đức Kitô Giêsu của chúng ta rồi. Bất cứ khi nào chúng ta dám xả thân để sống cho những giá trị đó, chúng ta đã làm chứng cho Ngài. Gioan Tẩy Giả đã chết vì nói sự thật mất lòng Hêrôđê. Maria Goretti đã chết vì muốn sống trong sạch. Cha Kônbê đã xin chết thay cho người bạn tù vì lòng bác ái. Tất cả đều được Giáo Hội tôn kính như những vị tử đạo, dù họ không chết vì tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu.
Chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu từ khi chúng ta nhận tấm áo trắng ngày Rửa Tội. Theo Chúa Giêsu và thực hiện sứ mạng của Ngài là một việc không dễ dàng và đơn giản của người môn đệ Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng hằng kêu mời các môn đệ Ngài phải kiên trì giữ vững niềm tin. Chúng ta nên nhớ rằng: Cuộc sống chiến đấu của người tin theo Chúa Giêsu không phải là cuộc chiến vô vọng. Trái lại, chúng ta phải trông cậy vào một Thiên Chúa toàn năng. Ngài thấy, Ngài biết chúng ta đang chiến đấu. Có Ngài ở với chúng ta, dù có lúc chúng ta cảm thấy như bị cô đơn tuyệt vọng. Như bị Chúa bỏ rơi. Nhưng Ngài từng chút từng chút Ngài lo cho chúng ta. Mạng sống của chúng ta ở đời này có thể bị mất, nhưng nếu biết kiên trì và trung tín, chúng ta sẽ giữ được nó ở đời sau.
Có ai đó nói rằng: “Nếu đường đời bằng phẳng, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cuộc đời dường như không bằng phẳng. Cuộc đời luôn có sóng gió, có nghi nan, có những bất trắc xảy ra ngoài dự tính. Kẻ chiến thắng là kẻ kiên nhẫn với lòng dũng cảm vượt qua. Người thất bại là thấy khó bỏ cuộc, thấy khổ lẩn trốn. Chỉ có những ai dám đương đầu với gian nan mới mong có ngày thành công.
Chúa Giê-su Ngài cũng kêu gọi chúng ta hãy kiên nhẫn trong đức tin. Cho dù có phải trả giá bằng những bách hại, bằng những khốn khó, bằng những thua thiệt. Cho dù có phải trả giá vì sự bỏ rơi của cha mẹ, anh em, bạn bè . . . .Nhưng phần thưởng chúng ta thật lớn lao trên quê trời. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngài luôn đỡ nâng và phù giúp chúng ta trước những khó khăn cuộc đời.
Xin Chúa thêm ơn cho chúng ta trước biết bao sóng gió cuộc đời. Xin Ngài luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Amen
Kính thưa…Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu nói về những cuộc bách hại xảy ra trước khi Ngài trở lại trong ngày chung thẩm, ngày tận thế. Các môn đệ sẽ phải chịu những gì Thầy mình đã chịu. Họ sẽ bị bắt, bị ngược đãi, bị tù đày, bị đem ra tòa đời. Họ sẽ bị nộp bởi chính người thân, bị mọi người thù ghét, và thậm chí bị giết hại. Tất cả những gì các môn đệ phải chịu đều là vì danh Thầy.
Chính tình yêu trung tín đối với Thầy và giáo huấn của Thầy
đã khiến bao Kitô hữu tự nguyện đón nhận khổ đau và cái chết. Không phải chỉ chối Thầy cách công khai mới mang tội bất trung. Không phải chỉ bước qua thập giá mới là phản bội. Bất cứ khi nào chúng ta bước qua những giá trị ngàn đời của Kitô giáo, như sự thật, sự sống, công bằng, bác ái, nhân phẩm, tự do, lương tâm, khi ấy chúng ta cũng đã chối bỏ Đức Kitô Giêsu của chúng ta rồi. Bất cứ khi nào chúng ta dám xả thân để sống cho những giá trị đó, chúng ta đã làm chứng cho Ngài. Gioan Tẩy Giả đã chết vì nói sự thật mất lòng Hêrôđê. Maria Goretti đã chết vì muốn sống trong sạch. Cha Kônbê đã xin chết thay cho người bạn tù vì lòng bác ái. Tất cả đều được Giáo Hội tôn kính như những vị tử đạo, dù họ không chết vì tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu.
Chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu từ khi chúng ta nhận tấm áo trắng ngày Rửa Tội. Theo Chúa Giêsu và thực hiện sứ mạng của Ngài là một việc không dễ dàng và đơn giản của người môn đệ Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng hằng kêu mời các môn đệ Ngài phải kiên trì giữ vững niềm tin. Chúng ta nên nhớ rằng: Cuộc sống chiến đấu của người tin theo Chúa Giêsu không phải là cuộc chiến vô vọng. Trái lại, chúng ta phải trông cậy vào một Thiên Chúa toàn năng. Ngài thấy, Ngài biết chúng ta đang chiến đấu. Có Ngài ở với chúng ta, dù có lúc chúng ta cảm thấy như bị cô đơn tuyệt vọng. Như bị Chúa bỏ rơi. Nhưng Ngài từng chút từng chút Ngài lo cho chúng ta. Mạng sống của chúng ta ở đời này có thể bị mất, nhưng nếu biết kiên trì và trung tín, chúng ta sẽ giữ được nó ở đời sau.
Có ai đó nói rằng: “Nếu đường đời bằng phẳng, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cuộc đời dường như không bằng phẳng. Cuộc đời luôn có sóng gió, có nghi nan, có những bất trắc xảy ra ngoài dự tính. Kẻ chiến thắng là kẻ kiên nhẫn với lòng dũng cảm vượt qua. Người thất bại là thấy khó bỏ cuộc, thấy khổ lẩn trốn. Chỉ có những ai dám đương đầu với gian nan mới mong có ngày thành công.
Chúa Giê-su Ngài cũng kêu gọi chúng ta hãy kiên nhẫn trong đức tin. Cho dù có phải trả giá bằng những bách hại, bằng những khốn khó, bằng những thua thiệt. Cho dù có phải trả giá vì sự bỏ rơi của cha mẹ, anh em, bạn bè . . . .Nhưng phần thưởng chúng ta thật lớn lao trên quê trời. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngài luôn đỡ nâng và phù giúp chúng ta trước những khó khăn cuộc đời.
Xin Chúa thêm ơn cho chúng ta trước biết bao sóng gió cuộc đời. Xin Ngài luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Amen
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)