Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Thứ Năm Tuần XXXIV Thường Niên ( 26.11.2015)

Lc 21, 20-28; Đn 6, 12-28


Trước những biến động khôn lường trên thế giới, con người ngày nay hoang mang đặt ra những câu hỏi: Liệu có phải sắp tận thế chăng hoặc những sự kiện này có ý nghĩa gì?... Trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, Tin Mừng Luca ghi lại lời tiên báo, nhắc nhớ cho các môn đệ năm xưa và cho chúng ta hôm nay hãy nhận ra vương quyền và giờ khắc của Người khi xuất hiện những điềm thiêng dấu lạ trên trời, dưới biển. Tuy nhiên, Người cũng trấn an chúng ta: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21,28).

Trong cuộc đời tại thế, Đức Giêsu có lần đã khiển trách người Do Thái nói chung và nhóm Pharisêu nói riêng khi họ chỉ biết nhận xét cảnh sắc đất trời mà không nhận ra sự hiện diện của Nước Trời đang ở giữa họ là chính Ngài. Về phương diện lịch sử, những lời loan báo của Đức Giêsu về sự sụp đổ của thành Giêrusalem đã được ứng nghiệm khi quân La Mã vây hãm và công phá vào năm 70. Giêrusalem đã thực sự sụp đổ “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” (Lc 21, 5-7) và dân Do Thái đã bị phân tán khắp thế giới vì sự cứng tin của họ không nhận ra ngày giờ của Chúa. Còn ngày nay, những sự kiện, biến cố Đức Giêsu đã tiên báo xưa vẫn không ngừng xảy ra trên toàn thế giới theo một nghĩa nào đó trên quy mô rộng lớn: chiến tranh, động đất, sóng thần, bệnh dịch, tai nạn… Ngoài ra, còn phải kể đến biết bao biến cố lớn nhỏ xảy ra trong cuộc đời mỗi người như: bệnh tật, chia ly, cái chết… Tất cả những biến cố này đã làm cả thế giới kinh hoàng, bất lực trước sự tàn phá của thiên tai và cái chết. Vậy đâu là thái độ của người Kitô hữu hôm nay?

Quả thật, Nước Thiên Chúa thực sự đã và đang hiện diện nơi Đức Kitô và qua Giáo Hội của Ngài như chính Người đã tuyên bố với người Do Thái. Đức Giêsu tiên báo về “ngày giờ” của Người với những hình ảnh uy nghiêm, ghê sợ không phải để làm cho chúng ta sợ hãi, nhát đảm nhưng là để chúng ta nhận ra thánh ý của Người và cam đảm thực hiện điều Người muốn. Những dấu chỉ trên đây, không cho phép ta thờ ơ lãnh đạm với cuộc sống đức tin của chính mình và những người xung quanh. Chúng ta cần tỉnh thức và tích cực canh tân đời sống mình để sẵn sàng cho giờ Chúa đến. Có như thế, chúng ta mới có thể mạnh mẽ, vững vàng trước mọi biến động của thế giới như Đanien hiên ngang trước miệng sư tử của vua Đariô trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Hơn thế nữa, sống thái độ sẵn sàng này là chúng ta đang tích cực góp phần làm cho lời cầu nguyện chúng ta dâng lên mỗi ngày “xin cho triều đại Cha mau đến” sớm được thành toàn.

Lạy Chúa, xin mở con mắt đức tin của con để dù sống giữa thế sự phù hoa, con luôn biết nhạy bén trước những dấu chỉ thời đại mà nhận ra thánh ý của Ngài và mau mắn thực hiện. Chúa ơi, quá khứ đời con xin Chúa thương xót! Tương lai đang đến xin Ngài dẫn đưa và đặc biệt giây phút hiện tại này xin Ngài thánh hóa để chúng con tích cực sống trọn vẹn giây phút này trong tình yêu Chúa và tha nhân hầu cho Nước Chúa được thực sự bắt đầu ngay từ giây phút này. Amen.

THỨ NĂM SAU CN 34 TN NĂM B Lc 21,20-28

Theo lời kể của Josephus, một sử gia người Do Thái, thỉ vị tướng Rôma là Titô đã mang 80.000 quân bao vây Giêrusalem suốt 6 tháng trời, khiến người dân trong thành rơi vào cảnh đói khát cùng cực. Ông kể lại rằng một phụ nữ quê ở Pêrêa vì quá đói đã túm lấy đứa con còn thơ dại, giết con và nướng để ăn. Cũng theo sử gia này, quân Rôma đã dùng gươm để giết hơn một triệu người ở Giêrusalem và Giuđê. Còn những người Do Thái bị bắt làm tù binh là gần một trăm ngàn người. Tất cả đã xảy ra đúng như lời tiên báo của Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, lời của Chúa không chỉ ứng nghiệm với thành thánh bị phá hủy vào ngày lễ vượt qua năm 70 đó, mà còn tiên báo về ngày tận cùng của cả thế giới. Khi Ngài đến trong vinh quang để xét xử, có các tai ương làm cho con người lo âu sợ hãi: “Sẽ có những điểm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh tượng biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các tinh tú bầu trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ Con Người sẽ xuất hiện uy nghi trên đám mây . Sau đó Chúa trấn an: “khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên.”
Đứng thẳng để đón Đấng mà họ đã suốt đời thắp đèn chờ đợi. 
Ngẩng đầu để mừng giây phút ơn cứu chuộc đã đến gần. 
Kính thưa…Người ta vẫn hay đoán già đoán non về ngày tận thế. Năm 2000 với biến cố Y 2K qua rồi, đâu thấy tận thế. Cha già Đa Minh Trần Đình Thủ, Ngài là người sáng lập ra Dòng Đức Mẹ Đồng Công, hiện có trụ sở chính tại Thủ Đức. Ngài nói rằng: theo như lời Đức Mẹ tiên báo thì năm 2000 sẽ tận thế, nên Ngài kêu mời các thầy hãy sống thánh thiện và luôn luôn sám hối ăn năn chờ đợi ngày tận thế xảy đến. Năm 2000 tận thế đã không xảy ra trên thế giới nhưng chính năm ấy, Ngài đã đón nhận ngày tận thế của chính đời ngài để vâng nghe tiếng Chúa gọi Ngài về với Chúa, hưởng thọ 104 tuổi. Một vài năm gần đây và nhất là vào những ngày tháng 11 năm 2012, trên các trang mạng, trong nước cũng như quốc tế, người ta đã xôn xao đồn đoán vào ngày 21.12.2012 là ngày tận thế. Vì ngày đó là thời điểm cuối cùng của bộ Lịch người Maya chấm dứt. Một cuộc khảo sát của hãng tin Reuter trong tháng 5. 2012 cho thấy, cứ 10 người thì có 1 người tin như vậy. Nhưng ngày đó cũng đã đi qua rồi mà chưa thấy tận thế.
Những năm cuối thiên niên kỷ thứ hai, rất nhiều thiên tai đã gây ra cho con người. Đặc biệt với cơn siêu bão Hải Yến năm 2013 càn quét đất nước Philippin cướp đi hơn hai ngàn người, phải chăng đó là những dấu hiệu ngày tận thế đang đến gần? Sẽ không có câu trả lời dứt khoát như đinh đóng cột, bởi vì Chúa không muốn cho biết đích xác ngày đó. Ngài chỉ cho biết ngày ấy sẽ tới. ngay cả Chúa Giêsu cũng không biết. Bởi đó thái độ khôn ngoan nhất của chúng ta là luôn luôn sẵn sàng chào đón với thái độ đứng thẳng, và ngẩng đầu lên khi Ngài đến.
Ngày tận thế không biết có xảy ra trong cuộc đời chúng ta hay không. Nhưng ngày chúng ta từ giã cuộc đời giống như Cha Già Đa Minh Trần Đình Thủ, để đi về với Chúa thì chắc chắn có. Mỗi người sẽ phải có ngày tận thế của đời mình. Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết chuẩn bị cho mình một thái độ thích hợp trong ngày Chúa đến.
Lạy Chúa Giêsu, nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng. Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa. 
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào... Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ. Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. amen


THỨ TƯ SAU CN 34 TN B: Lc 21,12-19

Lúc trời còn tối, ngày 16 tháng 11 năm 1989, tại nước El Salvador, một nhóm người có vũ trang đã xâm nhập vào một trường Đại Học ở Trung Mỹ. Chúng đã giết sáu linh mục Dòng Tên và hai mẹ con người giúp việc. Giết xong chúng đã kéo xác ra ngoài vườn và làm những trò man rợ. Các linh mục này đều là những nhà trí thức, có ảnh hưởng trong xã hội. Họ muốn đấu tranh cho xã hội ở Sanvađo không còn bất công xảy ra, người nghèo được tôn trọng, và muốn chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài khiến hơn 70 ngàn người chết. Vì thế, họ đã phải trả giá bằng vụ thảm sát bất ngờ, họ đã chết như những chứng nhân, những vị tử đạo thời mới.
Kính thưa…Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu nói về những cuộc bách hại xảy ra trước khi Ngài trở lại trong ngày chung thẩm, ngày tận thế. Các môn đệ sẽ phải chịu những gì Thầy mình đã chịu. Họ sẽ bị bắt, bị ngược đãi, bị tù đày, bị đem ra tòa đời. Họ sẽ bị nộp bởi chính người thân, bị mọi người thù ghét, và thậm chí bị giết hại. Tất cả những gì các môn đệ phải chịu đều là vì danh Thầy.
Chính tình yêu trung tín đối với Thầy và giáo huấn của Thầy
đã khiến bao Kitô hữu tự nguyện đón nhận khổ đau và cái chết. Không phải chỉ chối Thầy cách công khai mới mang tội bất trung. Không phải chỉ bước qua thập giá mới là phản bội. Bất cứ khi nào chúng ta bước qua những giá trị ngàn đời của Kitô giáo, như sự thật, sự sống, công bằng, bác ái, nhân phẩm, tự do, lương tâm, khi ấy chúng ta cũng đã chối bỏ Đức Kitô Giêsu của chúng ta rồi. Bất cứ khi nào chúng ta dám xả thân để sống cho những giá trị đó, chúng ta đã làm chứng cho Ngài. Gioan Tẩy Giả đã chết vì nói sự thật mất lòng Hêrôđê. Maria Goretti đã chết vì muốn sống trong sạch. Cha Kônbê đã xin chết thay cho người bạn tù vì lòng bác ái. Tất cả đều được Giáo Hội tôn kính như những vị tử đạo, dù họ không chết vì tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu.
Chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu từ khi chúng ta nhận tấm áo trắng ngày Rửa Tội. Theo Chúa Giêsu và thực hiện sứ mạng của Ngài là một việc không dễ dàng và đơn giản của người môn đệ Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng hằng kêu mời các môn đệ Ngài phải kiên trì giữ vững niềm tin. Chúng ta nên nhớ rằng: Cuộc sống chiến đấu của người tin theo Chúa Giêsu không phải là cuộc chiến vô vọng. Trái lại, chúng ta phải trông cậy vào một Thiên Chúa toàn năng. Ngài thấy, Ngài biết chúng ta đang chiến đấu. Có Ngài ở với chúng ta, dù có lúc chúng ta cảm thấy như bị cô đơn tuyệt vọng. Như bị Chúa bỏ rơi. Nhưng Ngài từng chút từng chút Ngài lo cho chúng ta. Mạng sống của chúng ta ở đời này có thể bị mất, nhưng nếu biết kiên trì và trung tín, chúng ta sẽ giữ được nó ở đời sau. 
Có ai đó nói rằng: “Nếu đường đời bằng phẳng, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cuộc đời dường như không bằng phẳng. Cuộc đời luôn có sóng gió, có nghi nan, có những bất trắc xảy ra ngoài dự tính. Kẻ chiến thắng là kẻ kiên nhẫn với lòng dũng cảm vượt qua. Người thất bại là thấy khó bỏ cuộc, thấy khổ lẩn trốn. Chỉ có những ai dám đương đầu với gian nan mới mong có ngày thành công.
Chúa Giê-su Ngài cũng kêu gọi chúng ta hãy kiên nhẫn trong đức tin. Cho dù có phải trả giá bằng những bách hại, bằng những khốn khó, bằng những thua thiệt. Cho dù có phải trả giá vì sự bỏ rơi của cha mẹ, anh em, bạn bè . . . .Nhưng phần thưởng chúng ta thật lớn lao trên quê trời. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngài luôn đỡ nâng và phù giúp chúng ta trước những khó khăn cuộc đời.
Xin Chúa thêm ơn cho chúng ta trước biết bao sóng gió cuộc đời. Xin Ngài luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Amen

Chuyện tình Romeo và Juliet

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã từng coi phim, hay đọc truyện hoặc nghe nói đến chuyện tình Romeo và Juliet. Đây là một chuyện tình rất đẹp, rất dễ thương, nhưng lại có một kết thúc thật bi thương ai oán. Câu chuyện được kể như sau: Romeo và Juliet sinh ra trong hai gia đình thuộc hai dòng họ có thù hận truyền kiếp với nhau. Chính vì thế, tình yêu của họ bị ngăn cấm, bị đe doạ bởi những người đứng đầu của hai dòng họ. Sau bao tranh đấu cho tình yêu không thành, họ đành tìm cái chết bên nhau để minh chứng tình yêu của họ. Những người hữu trách và cố chấp của hai dòng họ sau đó đã nhận ra sự ích kỷ, tính bất nhân và sự thù hận đã dẫn đến cái chết bi thương của đôi trai gái. Khi đã nhận ra và ngỏ lời xin lỗi nhau thì đã quá muộn. Dù vậy, có còn hơn không, và nhờ cái chết của đôi bạn này nên đã mở ra một quan hệ mới giữa hai dòng họ.
Một câu chuyện khác: Cách đây ít năm, trong chương trình tin thế giới thu qua vệ tinh, người dân hai nước Croatia và Serbia cũng như thế giới sững sờ và vui mừng vì cuộc gặp gỡ lần đầu tiên của hai lãnh tụ sau những năm chiến tranh khốc liệt giữa hai phe nhóm. Càng sững sờ hơn khi lãnh tụ Serbia công khai đại diện đất nước ngỏ lời xin lỗi với mọi người và từng người dân Croatia và sau đó, lãnh tụ Croatia cũng ngỏ lời như vậy với người dân Serbia. Một lời xin lỗi muộn màng vì cuộc chiến tranh giữa hai nước đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người dân vô tội. Nhưng dẫu muộn màng vẫn còn hơn là không có. Lời xin lỗi sẽ mở ra một quan hệ mới, một niềm hy vọng mới cho dân tộc hai nước
Và có lẽ người công giáo chúng ta vẫn còn nhớ trong triều đại Giáo Hoàng 26 năm, chính vị tân hiển thánh GH Gioan Phaolô II, trong một lần kia đã công khai đại diện cho toàn thể GH Công giáo xin lỗi mọi người, xin lỗi các tôn giáo bạn vì những lỗi lầm của GH đã gây ra trong lịch sử.
Kính thưa quí OBACE ! Chuyện đi bước trước trong việc xin lỗi công khai người bị ta xúc phạm, chẳng phải là chuyện mới gì. Đó là chuyện xưa như trái đất. Lần giở trong Kinh thánh Cựu Ước, nhất là trong Tân Ước, chính Chúa Giêsu Kitô dạy dỗ “ nếu anh đang dâng của lễ mà nhận thấy có sự bất hoà với anh em, thì hãy để của lễ lại trong đền thờ, quay về làm hoà với anh em rồi hãy đến dâng lễ vật”. Không chỉ dạy dỗ mà chính Ngài là mẫu gương cho ta noi theo.Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và vì thế Ngài vô tội. Ngài không phải xin lỗi ai cả. Người phải xin lỗi là chính nhân loại, là chính mỗi người chúng ta mới đúng.
Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta bằng việc dựng nên chúng ta. Không những thế, Ngài còn dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, trao cho con người quyền làm chủ mọi loài. Vậy mà con người đã đáp lại tình yêu ấy bằng sự bội phản. Lẽ ra chính con người phải xin lỗi Ngài và cầu mong ơn tha thứ. Nhưng độc đáo thay, chính Ngài đi bước trước , ngài không cần chờ đợi con người xin lỗi, Ngài đã đến để yêu thương họ, yêu thương cách cụ thể và tới cùng, yêu thương đến mức chết cho người minh yêu. Thánh Gioan đã viết: “không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước và sai con một đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta”. “Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân, ngay khi chúng ta còn thù địch với Ngài”. Còn gì xúc động và cao cả cho bằng khi tiếng nói cuối cùng của Chúa Giêsu trên thập giá chính là tiếng nói của yêu thương và tha thứ cho những người đã kết án đóng đinh và giết chết mình: “ lạy Cha ! Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. 
Fx. Nguyễn Xuân Hùng và Maria Phạm Khánh Ly hai con thân mến !
Một chút nữa đây qua nghi thức của Bí Tích Hôn Phối chúng con từ hai người khác biệt trong hai gia đình khác nhau sẽ chính thức nên một với nhau. Như chúng con đã biết chính Cha đã giáo huấn chúng con trong lớp học dự bị hôn nhân. Cha đã trình bày cho chúng con biết: ngày thành hôn của chúng con hôm nay qua bí tích hôn phối chỉ là khởi đầu của hành trình nên một của chúng con mà thôi. Và như thế, càng ngày cuộc hành trình nên một càng khó khăn hơn do những khác biệt ngày càng được tỏ rõ nơi mỗi người. Chính vì những khác biệt này, chắc chắn không ít lần chúng con, ngay từ khi mới quen nhau, đã nhiều lần làm mất lòng nhau, gây gổ to tiếng, giận hờn nhau. Chúng con đừng sợ, bởi đây là chuyện thường tình của đời sống hôn nhân. Điều quan trọng chính là chúng con phải có tình yêu chân thành với nhau và với những người thân yêu trong gia đình. Mà muốn có tình yêu chân thành thì chúng con phải không ngừng kín múc từ Thiên Chúa qua Thánh Lễ, qua Lời Chúa, qua cầu nguyện và giờ kinh tối trong gia đình. Hãy chủ động làm hòa với nhau nếu như gia đình chúng ta đang có sự bất hòa và mâu thuẫn. Ai cũng được, hãy chủ động nhận lỗi, và người kia cũng phải có thiện chí cải thiện mối quan hệ sao cho tốt đẹp, sao cho trong ấm ngoài êm. Miễn là sau cơn mưa trời lại trong sáng như chưa bao giờ mưa. Miễn là cho cuộc sống sẽ trở nên vui tươi hơn. 
Để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, xin được gửi tới quý ông bà anh chị em, đặc biệt với hai con Hùng và Ly lời của một ai đó nói về bí quyết để xây dựng gia đình Kitô giáo hạnh phúc: “tình yêu cần được rửa tội mỗi ngày và cưới nhau mỗi sáng”, hay nói cách dễ hiểu : hạnh phúc gia đình không thể thiếu lời xin lỗi và lời cam kết yêu thương nhau trong từng phút từng giây của cuộc sống.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc cho tình yêu của chúng con hôm nay và mãi mãi. Amen.

Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng ngàn Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.

Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm như thế cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
Kính thưa…Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh.
Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái. 
Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

THỨ HAI SAU CN 34 TN B: LC 21,1-4

Vào một mùa đông, tại một đất nước Châu Âu, một em bé 13 tuổi nghe nhà trường thông báo đợt lạc quyên tiền bạc và phẩm vật làm quà Giáng sinh cho các trẻ em nghèo trong vùng. Em này đã dành dụm mọi chi tiêu vốn ít ỏi của em trong suốt 3 tháng. Khi đã được 20 đồng, em quyết định đón xe đò từ làng quê lên phố. Bất ngờ, một trận bão tuyết ập đến dữ dội làm tắc nghẽn mọi hoạt động giao thông. Không chịu bỏ cuộc, em bé xuống xe, co ro lội bộ băng qua cánh đồng ngập tuyết và gió lốc lạnh buốt. Ông hiệu trưởng nghe báo có người đang đợi ở phòng khách muốn gặp ông. Ông vô cùng kinh ngạc sửng sốt khi nhận món tiền chia sẻ từ tay em bé, bởi vì trước mặt ông chính là một trong số những em bé nghèo mà ông và nhà trường đã đưa vào danh sách tặng quà giáng sinh năm đó.
Kính thưa…Tuần lễ cuối cùng của phụng vụ năm B đang dần kết thúc để nhường chỗ cho Phụng vụ Năm C bắt đầu từ CN thứ nhất mùa Vọng vào ngày 29-11 tới đây. Các bản văn lời Chúa trong tuần kết thúc này sẽ nhắc chúng ta về thời đại cánh chung. Khởi đầu từ hôm nay, phụng vụ Lời Chúa dừng lại ở biến cố nhỏ bé, đặc biệt đã xảy ra tại đền thờ Giêrusalem thời Chúa Giêsu. Đó là hai đồng xu nhỏ của người đàn bà góa nghèo. Em bé nghèo trong câu chuyện cũng tương tự như trường hợp của bà góa nghèo trong câu chuyện Tin mừng. Quả thực, xã hội Do thái không có những quy định bảo vệ quyền lợi các góa phụ, cho nên, họ rất bị thiệt thòi : tài sản của chồng thì không được hưởng (con cái họ hưởng hết), gia đình cha mẹ ruột của họ cũng không còn lo lắng cho họ bao nhiêu nữa. Vì thế, trong Thánh Kinh, bà góa, trẻ mồ côi và ngoại kiều là những hạng người xấu số nhất và nghèo nhất. Như thế, trong cuộc sống con người, còn gì hẩm hiu hơn thân phận của một người như thế. Thế nhưng, điều mà Chúa Giêsu đã ca ngợi ở hành động của người đàn bà này, đó là tấm lòng của bà ta dành cho Chúa và đền thờ rất lớn lao, vì nó động chạm đến sự sinh tồn của bà trong cuộ sống: bà đã dâng cho Chúa không phải là của dư thừa mà lại là tất cả cái bà có để sống. Thiên Chúa không hề muốn bóc lột người phụ nữ nghèo, Ngài không nhẫn tâm đòi hỏi bà phải hy sinh đến độ tự giết chết sự sống còn. Nhưng chính lòng yêu mến Thiên Chúa, và sự quí trọng ngôi nhà đền thờ của Thiên Chúa, mà bà ta tự nguyện dâng hiến cho Chúa điều mà bà ta có quyền hưởng. Chỉ vì tình yêu mến Chúa cao cả, bao la, mà bà ta đã có cử chỉ quảng đại như vậy. Bà ta không tiếc gì, và không màng đến bản thân.
Kính thưa…Lời Chúa hôm nay đã mời gọi chúng ta hãy suy nghĩ về sự lựa chọn của chúng ta trong nếp sống hàng ngày của mình. Chúng ta có luôn hướng về Chúa. Chúng ta có sẵn sàng chấp nhận tự nguyện hy sinh bản thân để chúng ta sống cho Chúa, sống vì Chúa, sống nhờ Chúa không ? Và trước mắt Chúa, hai đồng xu nhỏ của người đàn góa nghèo lại hóa ra cao quí hơn tiền của dư thừa dâng cúng cho Chúa của những người giầu có, Hãy sống tinh thần của Bà góa. Đó là điều Chúa muốn nơi chúng ta hôm nay. Amen.

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN

Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng ngàn Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.
Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm như thế cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
Kính thưa…Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh.
Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái. 
Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

Thứ hai tuần XXXIV TN


Chia Sẻ
(Lc 21,1-4)
       Tin Mừng hôm nay, cho chúng ta thấy một hình ảnh sẻ chia những gì có của bà góa nghèo.
       Chúa Giêsu đứng đối diện thùng tiền, quan sát thấy có nhiều thành phần dân chúng giàu có đến bỏ vào thùng tiền. Trong lúc quan sát thì Chúa chợt thấy có một bà góa nghèo đến bỏ vào thùng hai đồng tiền. Sau đó, Chúa mới nói với các môn đệ: Thầy bảo thật anh em, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Đây là bài học ý nghĩa cho cuộc sống con người trong sự chia sẻ với nhau. Đời sống con người luôn ích kỷ, chỉ biết thu tích của cải cho mình và ít chịu chia sẻ cho người khác. Cuộc sống ngày nay, chúng ta thấy mọi thứ tốt đẹp hơn, nhiều người sống sung túc, giàu có, đẹp hơn nhưng con người lại sống thu mình trong vỏ bọc của ích kỷ. Nhưng còn đó, có nhiều người quảng đại chia sẻ những gì mình có cho người nghèo, cho xã hội và cho người dâng hiến đời mình cho Chúa. Sống chia sẻ là nét đẹp cần có của cuộc sống con người và đó là lời mời gọi cần thiết giúp cho những người nghèo khổ. Ngày nay, Chúa không quan sát như kiểu ngồi đối diện để xem ta chia sẻ ra sao, nhưng trong sâu thẳm của lòng ta, Chúa nhìn tấm lòng của mỗi người, sự quảng đại của chúng ta cho tha nhân. Khi chúng ta biết chia sẻ cho người khác thì ta sẽ nhận được niềm vui gấp đôi và còn nhiều hơn thế từ sự sẻ chia của chúng ta.
        Lạy Chúa, xin cho chúng con biết bắt chước như bà góa nghèo để chia sẻ cho người khác như Chúa mời gọi. Xin Chúa thêm ơn cho chúng con, biết vượt qua con người nhỏ nhen ích kỷ của chúng con mà sống chia sẻ với anh chị em đồng loại.

Phêrô Huỳnh Văn Tha, MF

Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ

Vua Sự Thật
(Đn 7,13-14; kh 1,5-8; Ga 18,33-37)
Trong xã hội hôm nay, 'thật', 'giả' lẫn lộn làm cho con người khó phân định được đâu là giá trị của sự thật. Dẫu thế, vẫn có những người thiện chí, họ ước ao được biết sự thật, nhưng bị vây quanh bởi những giả dối của thế gian: 'đồ giả, vàng giả, người giả, thầy giả, sư giả',… Con người mong muốn được đối xử chân tình, nhưng lòng người lắm nẻo quanh co; hứa cũng nhiều và rồi thất hứa cũng lắm. Lòng tham và những lợi nhuận vật chất làm con người thay đổi quá nhanh. Vậy, làm thế nào để biết sự thật và cảm nhận được tình yêu chân thành?
1. Nguồn gốc sự thật
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay chỉ đường cho biết đâu là nguồn gốc của sự thật: Con người không thể tìm đâu khác ngoài Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Ở bài đọc thứ nhất, tiên tri Đaniel thuật lại thị kiến một 'Con Người' lãnh quyền vương đế đầy vinh quang, và thống trị vĩnh cửu muôn đời từ Thiên Chúa. Tất cả mọi người và mọi sự trên vũ trụ sẽ phải tuân phục quyền bính của 'Người Con' này. Người Con này là tiên trưng về Chúa Giêsu. Trong sách Khải Huyền, tác giả xác tín Đức Kitô là Vua muôn thuở và muôn đời; ngay cả lúc Ngài hy sinh chịu chết vì loài người. Cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và quan Philatô trong Tin Mừng, thánh Gioan nêu bật sự khác biệt giữa vua thế gian và vua Nước Trời. Philatô hiểu Chúa Giêsu muốn làm vua kiểu của thế gian; trong khi Chúa Giêsu mặc khải Ngài là Vua của Nước Trời, Vua Sự Thật. Tất cả những ai biết lắng nghe và sống theo sự thật là con dân của Nước Trời, dưới quyền cai trị của Chúa Kitô.
2. Vương Quốc của Chúa Giêsu
Chúa Cha đặt Ngài làm Vua cai trị muôn đời: Muôn người thuộc mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Đức Kitô  là Chúa tể trên tất cả mọi tạo vật của Thiên Chúa. Vương quyền và vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời. "Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; và vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong".  (Đn 7,14)
Chúa Kitô là nguồn mạch của mọi ân sủng và bình an: Thứ nhất, Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành. Tất cả những gì Ngài nói đều ứng nghiệm và Ngài đã làm chứng sự trung thành với Thiên Chúa bằng cách chấp nhận ngay cả cái chết để chuộc tội cho con người; thứ đến, Ngài là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy. Trước Ngài, chưa có một ai sống lại từ cõi chết và không bao giờ chết nữa. Ngài đã chết, đã sống lại, và sống muôn đời và thứ ba, Ngài là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, tất cả các vương quốc trần gian đều thuộc quyền của Ngài. Thánh Phaolô khẳng định; 'chính vì sự vâng lời Thiên Chúa và chấp nhận cái chết trên Thập Giá mà khi nghe danh hiệu Giêsu, mọi loài trên trời, dưới đất, và trong nơi âm phủ, phải bái quì và tuyên nhận "Đức Kitô là Chúa". (x. Pl 2,11)
3. Vua Sự Thật
Qua cuộc đối thoại, Chúa Giêsu giải thích cho quan Philatô về Vương Quốc và Quyền Cai Trị của Ngài, Vương Quốc của Ngài không thuộc về thế gian này: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái; nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này". (Ga 18,36)
Khi Philatô hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giêsu  khẳng định: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi" (Ga 18,37).  Lần này, Chúa Giêsu xác nhận với Philatô: 'Ngài là Vua, không phải là vương quốc trần gian; nhưng Ngài là Vua của Nước Trời, là Vua của Chân Lý, Vua Sự Thật. Chúa Giêsu không dùng quyền bính mà cai trị thần dân của Ngài mà Ngài dùng tình thương để chinh phục muôn tâm hồn. Ngài không dùng quân đội để củng cố ngai vàng mà dùng các môn đệ, dùng ơn thánh từ dòng máu tuôn đổ trên cây Thập giá. Vì thế, Vương Quốc Ngài, tồn tại mãi mãi.
Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, Giáo hội mời chúng ta chiêm ngắm, suy tôn về Vương Quyền của Chúa Giêsu, đồng thời phụng vụ cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, chúng ta phải can đảm làm chứng cho sự thật, can đảm tuyên xưng Đức tin, đồng thời chúng ta cần nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của sự thật, của bình an, của nhân ái, ở trong đó: đầy ắp tình Chúa tình người. Khi cố gắng sống Lời Chúa là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến. Lạy Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ, chỉ có Chúa là Đường, chỉ có Chúa là Sự thật, chỉ có Chúa là Sự sống, xin làm Vua cai trị lòng trí chúng con, xin cho chúng con khi sống với những thực tại trần gian, luôn biết quy hướng tâm hồn về Nước của Chúa, Nước của Công lý, của Sự thật và của Bình an. Amen.
                                                                                                                  Giuse Nguyễn Văn Từ, MF


Thứ Hai tuần 34 TN (Lc 21, 1-4)


Trong bài hát “Để gió cuốn đi”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ghi nhận và khen ngợi tấm lòng quảng đại của bà góa nghèo.

Con người có tính xã hội, không ai sống một mình trên đời nhưng sống cùng và sống với, sống liên đới với nhau, giúp đỡ chia sẻ cho nhau vật chất cũng như tinh thần. Con người không thể sống nếu không nhận được sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời con người không thể sống vui vẻ, hạnh phúc, sống có ý nghĩa, nếu không quảng đại với tha nhân. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều lời bào chữa cho tính ích kỷ hẹp hòi để tránh giúp đỡ người khác. Quả thực, cuộc sống con người chỉ có ý nghĩa khi biết cho đi, biết san sẻ. Việc cho đi, trao hiến càng nhiều thì càng thấy mình sống có ý nghĩa. Và việc trao tặng chỉ đạt được ý nghĩa khi người ta không cho đi cái dư thừa mà cho đi tất cả những gì cho mình.

Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay đã dâng hiến cho đền thờ tất cả những gì bà có, những gì bà để sống. Mặc dù, số tiền dâng cúng của bà ít ỏi so với những người giàu có, nhưng tấm lòng của bà thật lớn lao. Bà đã dâng cho Chúa tất cả, tín thác hoàn toàn vào Chúa, và sống hết mình cho cho Chúa.

Kitô hữu có bổn phận thực thi bác ái với tha nhân và có bổn phận với nhà Chúa. Sự dâng hiến không dừng lại ở tiền bạc mà còn cả thời gian, sức khỏe, cuộc sống. Thời nào cũng vậy, Giáo hội vẫn có các ân nhân, giáo lý viên, quý viên chức trong giáo xứ, các linh mục và nam nữ tu sỹ. Họ là những người đang dấn thân phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ mọi người ở khắp nơi. Họ đã trở nên trống rỗng để Thiên Chúa đổ đầy tình yêu, bình an và ân sủng của Ngài vào trong tâm hồn trong cuộc đời.

Lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô vang lên lúc này thật ý nghĩa: “Chính lúc hiến thân là khi lãnh nhận, khi biết quên mình là khi tìm thấy, và khi chết cho mình là khi được sống muôn đời”. 
Vua Sự Thật
(Đn 7,13-14; kh 1,5-8; Ga 18,33-37)
Trong xã hội hôm nay, 'thật', 'giả' lẫn lộn làm cho con người khó phân định được đâu là giá trị của sự thật. Dẫu thế, vẫn có những người thiện chí, họ ước ao được biết sự thật, nhưng bị vây quanh bởi những giả dối của thế gian: 'đồ giả, vàng giả, người giả, thầy giả, sư giả',… Con người mong muốn được đối xử chân tình, nhưng lòng người lắm nẻo quanh co; hứa cũng nhiều và rồi thất hứa cũng lắm. Lòng tham và những lợi nhuận vật chất làm con người thay đổi quá nhanh. Vậy, làm thế nào để biết sự thật và cảm nhận được tình yêu chân thành?
1. Nguồn gốc sự thật
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay chỉ đường cho biết đâu là nguồn gốc của sự thật: Con người không thể tìm đâu khác ngoài Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Ở bài đọc thứ nhất, tiên tri Đaniel thuật lại thị kiến một 'Con Người' lãnh quyền vương đế đầy vinh quang, và thống trị vĩnh cửu muôn đời từ Thiên Chúa. Tất cả mọi người và mọi sự trên vũ trụ sẽ phải tuân phục quyền bính của 'Người Con' này. Người Con này là tiên trưng về Chúa Giêsu. Trong sách Khải Huyền, tác giả xác tín Đức Kitô là Vua muôn thuở và muôn đời; ngay cả lúc Ngài hy sinh chịu chết vì loài người. Cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và quan Philatô trong Tin Mừng, thánh Gioan nêu bật sự khác biệt giữa vua thế gian và vua Nước Trời. Philatô hiểu Chúa Giêsu muốn làm vua kiểu của thế gian; trong khi Chúa Giêsu mặc khải Ngài là Vua của Nước Trời, Vua Sự Thật. Tất cả những ai biết lắng nghe và sống theo sự thật là con dân của Nước Trời, dưới quyền cai trị của Chúa Kitô.
2. Vương Quốc của Chúa Giêsu
Chúa Cha đặt Ngài làm Vua cai trị muôn đời: Muôn người thuộc mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Đức Kitô  là Chúa tể trên tất cả mọi tạo vật của Thiên Chúa. Vương quyền và vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời. "Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; và vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong".  (Đn 7,14)
Chúa Kitô là nguồn mạch của mọi ân sủng và bình an: Thứ nhất, Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành. Tất cả những gì Ngài nói đều ứng nghiệm và Ngài đã làm chứng sự trung thành với Thiên Chúa bằng cách chấp nhận ngay cả cái chết để chuộc tội cho con người; thứ đến, Ngài là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy. Trước Ngài, chưa có một ai sống lại từ cõi chết và không bao giờ chết nữa. Ngài đã chết, đã sống lại, và sống muôn đời và thứ ba, Ngài là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, tất cả các vương quốc trần gian đều thuộc quyền của Ngài. Thánh Phaolô khẳng định; 'chính vì sự vâng lời Thiên Chúa và chấp nhận cái chết trên Thập Giá mà khi nghe danh hiệu Giêsu, mọi loài trên trời, dưới đất, và trong nơi âm phủ, phải bái quì và tuyên nhận "Đức Kitô là Chúa". (x. Pl 2,11)
3. Vua Sự Thật
Qua cuộc đối thoại, Chúa Giêsu giải thích cho quan Philatô về Vương Quốc và Quyền Cai Trị của Ngài, Vương Quốc của Ngài không thuộc về thế gian này: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái; nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này". (Ga 18,36)
Khi Philatô hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giêsu  khẳng định: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi" (Ga 18,37).  Lần này, Chúa Giêsu xác nhận với Philatô: 'Ngài là Vua, không phải là vương quốc trần gian; nhưng Ngài là Vua của Nước Trời, là Vua của Chân Lý, Vua Sự Thật. Chúa Giêsu không dùng quyền bính mà cai trị thần dân của Ngài mà Ngài dùng tình thương để chinh phục muôn tâm hồn. Ngài không dùng quân đội để củng cố ngai vàng mà dùng các môn đệ, dùng ơn thánh từ dòng máu tuôn đổ trên cây Thập giá. Vì thế, Vương Quốc Ngài, tồn tại mãi mãi.
Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, Giáo hội mời chúng ta chiêm ngắm, suy tôn về Vương Quyền của Chúa Giêsu, đồng thời phụng vụ cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, chúng ta phải can đảm làm chứng cho sự thật, can đảm tuyên xưng Đức tin, đồng thời chúng ta cần nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của sự thật, của bình an, của nhân ái, ở trong đó: đầy ắp tình Chúa tình người. Khi cố gắng sống Lời Chúa là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến. Lạy Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ, chỉ có Chúa là Đường, chỉ có Chúa là Sự thật, chỉ có Chúa là Sự sống, xin làm Vua cai trị lòng trí chúng con, xin cho chúng con khi sống với những thực tại trần gian, luôn biết quy hướng tâm hồn về Nước của Chúa, Nước của Công lý, của Sự thật và của Bình an. Amen.
                                                                                                                  Giuse Nguyễn Văn Từ, MF


LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 
ngày 24/11/2015
*Bài đọc 1 ( 2Mcb6,18-31):Bài Sách Macabê tường thuật cái chết vì đạo rất cảm kích và cao thượng của một vị kinh sư tên là Ê-la-da-rô: Ông lấy lề luật Chúa làm lẽ sống cho mình. Và chỉ sợ Chúa chứ không sợ bất cứ thế lực nào, dù cả sự chết. Ông thà chọn cái chết có Chúa, còn hơn sống mất Chúa! Ông quả là một gương sáng, đáng cho các thế hệ hậu sinh, cả già và trẻ, noi theo.! 
Bạn và tôi, ngày hôm nay chúng ta phải sốâng thế nào, hầu lưu truyền gương sống Đức tin và chứng nhân Tình yêu Thiên Chúa cho các thế hệ con cháu mai sau ???
**Bài đọc 2 (Kh7,9-17): Sách Khải Huyền của Thánh Gioan kể lại thị kiến về một đoàn người đông không đếm được. Đó chính các thánh tử đạo mà chúng ta mừng kính hôm nay. Các ngài đã từng trải qua bao thử thách lớn lao và đã thắng vượt được tất cả. Các Ngài đã giặt áo trong máu con chiên, nghĩa là các Ngài đã phải đổ chính máu mình ra hòa với Máu Con Chiên, để tuyên xưng Niềm Tin yêu của mình. Các ngài đã cùng chịu đau khổ, cùng uống chén đắng với Đức Kitô, nên ngày nay mới được vinh quang với Chúa trên trời.
***Tin Mừng (Ga 17,11b-19) Xin cho họ nên một.
Chúa Giêsu cầu xin cho các môn đệ hiệp nhất với nhau như Chúa Cha và Chúa Con. Thật là một lời nguyện xin quan trọng nhất và cần thiết nhất cho Hội thánh. Đối với chúng ta ngày nay sự hiệp nhất này càng cần thiết hơn nữa. Hiệp nhất như Chúa Cha và Chúa Con, nghĩa là hiệp nhất trong Thiên Chúa bền bỉ đến nỗi không gì ngoài Thiên Chúa có thể chia rẽ được, thậm chí sự chết ! Sự hiệp nhất này là Hiệp nhất vì Chúa và tron Chúa. Nghĩa là chỉ những ai phục vụ vì Chúa, chỉ vì Chúa mà thôi, mới biết quên mình, hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả, đểå cộng tác với các anh chị em mà phục vụ Chúa Kitô trong Hội thánh của Người.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan
Ga17,11b-19
11bKhi ấy, Đức Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giư,õ và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14Con đã truyềân lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. lời cha là sự thật. 18Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. 
Đó là Lời Chúa.
Suy Niệm :
Chúng ta cần được Thánh Hiến Trong Sự Thật.
1-“Con xin thánh hiến chính mình con” Thánh hiến là tách biệt ra khỏi trần tục, để dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa, như các tu sĩ ; hoặc tách biệt ra để trao phó cho một sứ mạng, ban cho đức tính và quyền năng để thi hành sứ mạng đó, như các Linh mục ! Đúng hơn, như chính Chúa Giêsu đã được Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian (10,36), để thực hiện sứ mạng cứu thế. Trên thánh giá, Chúa Giêsu thánh hiến chính mình, với tư cách vừa là Linh mục hiến dâng, vừa là lễ vật hy sinh, để cứu rỗi loài người, hoặc như người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (10,11), như người bạn hy sinh cho bạn hữu (15,12).
2-“Để nhờ Sự Thật, họ cũng được Thánh Hiến.” Sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu chỉ được thực hiện trong hy lễ thập giá đồi Gôn-gô-tha, nhờ đó các môn đệ cũng được thánh hiến trong Sự Thật là chính Chúa Giêsu, và cũng làø Lời Chúa Cha (14,6+17,17)). Sau khi lãnh nhận Lời Chúa, các môn đệ đã được thánh hiến, được thuộc vềâ Thiên Chúa, cũng được lãnh nhận sứ mạng cứu độ, và họ nên một với Đức Kitô của lễ hy sinh. Theo chân Đức Kitô và các môn đệ của Người, Các thánh tử đạo cũng được thánh hiến trong hy lễ đổ máu như thế đó.”
3-CHUYỆN KỂ RẰNG : Trong số các thánh tử đạo Việt Nam, có một Vị bị bị đóng dấu nung đỏ lên hai bên má bằng bốn chữ “Gia tô tả đạo”. Nhưng vị này không chịu để người ta chế nhạo đạo Chúa Kitô là tả đạo, nên đã dũng cảm nhờ một bạn tù lấy dao rạch xoá hai chữ tả đạo đi, chỉ để lại hai chữ Gia tô, để tuyên xưng Danh Thánh Chúa Kitô. Khi quan biết chuyện, đã ra lệnh cho lính đánh Người đến chết !
Buổi chiều Chúa Nhật, 22/6/1980, tiếp kiến các giám mục Việt Nam, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã noi : “Giáo Hội Việt Nam đã trổ sinh nhiều nhân chứng đức tin, đặc biệt là các vị tử đạo. Lời tiền nhân nói thật chí lý: Máu tử đạo là hạt giống sinh ra các ki-tô hữu.” (Tertuliano)

Từ dòng Máu Tử Đạo Vinh Quang ấy, mà chúng ta được sinh ra trong đức tin tông truyền. Ta hãy Sống Đức Tin sao cho xứng danh nòi giống Anh Hùng Tử Đạo, để cũng được Thánh Hiến, không phải bằng máu đào, thì ít là cũng bằng Tình Yêu trong Đức Kitô !
Thứ Hai tuần 34 TN (Lc 21, 1-4)
 
Trong bài hát “Để gió cuốn đi”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ghi nhận và khen ngợi tấm lòng quảng đại của bà góa nghèo.

Con người có tính xã hội, không ai sống một mình trên đời nhưng sống cùng và sống với, sống liên đới với nhau, giúp đỡ chia sẻ cho nhau vật chất cũng như tinh thần. Con người không thể sống nếu không nhận được sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời con người không thể sống vui vẻ, hạnh phúc, sống có ý nghĩa, nếu không quảng đại với tha nhân. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều lời bào chữa cho tính ích kỷ hẹp hòi để tránh giúp đỡ người khác. Quả thực, cuộc sống con người chỉ có ý nghĩa khi biết cho đi, biết san sẻ. Việc cho đi, trao hiến càng nhiều thì càng thấy mình sống có ý nghĩa. Và việc trao tặng chỉ đạt được ý nghĩa khi người ta không cho đi cái dư thừa mà cho đi tất cả những gì cho mình.

Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay đã dâng hiến cho đền thờ tất cả những gì bà có, những gì bà để sống. Mặc dù, số tiền dâng cúng của bà ít ỏi so với những người giàu có, nhưng tấm lòng của bà thật lớn lao. Bà đã dâng cho Chúa tất cả, tín thác hoàn toàn vào Chúa, và sống hết mình cho cho Chúa.

Kitô hữu có bổn phận thực thi bác ái với tha nhân và có bổn phận với nhà Chúa. Sự dâng hiến không dừng lại ở tiền bạc mà còn cả thời gian, sức khỏe, cuộc sống. Thời nào cũng vậy, Giáo hội vẫn có các ân nhân, giáo lý viên, quý viên chức trong giáo xứ, các linh mục và nam nữ tu sỹ. Họ là những người đang dấn thân phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ mọi người ở khắp nơi. Họ đã trở nên trống rỗng để Thiên Chúa đổ đầy tình yêu, bình an và ân sủng của Ngài vào trong tâm hồn trong cuộc đời.

Lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô vang lên lúc này thật ý nghĩa: “Chính lúc hiến thân là khi lãnh nhận, khi biết quên mình là khi tìm thấy, và khi chết cho mình là khi được sống muôn đời”. 


- See more at: http://gpbuichu.org/news/Suy-niem-moi-ngay/Tam-long-quang-dai-cua-ba-goa-ngheo-2136.html#sthash.cS3UAHeO.dpuf

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

GIÊ-SU KI-TÔ – VUA






“ Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” ( Gio 18 , 36b)Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ - 2015 ...Phụng Vụ kết thúc năm với Thánh Lễ tôn vinh Đức Giê-su Ki-tô - Vua ...Sẽ còn rất nhiều những Thánh Lễ mừng Chúa Giê-su Ki-tô - Vua theo lịch Phụng Vụ năm ... cho đến ngày Chúa trở lại ...Nhưng năm 2015 ... thì đã qua ... và không trở lại ...Nghĩa là lễ lạy nhằm nhắc nhở cho con người bao lâu con người còn bước chân trên mặt đất ... Còn vương triều của Vua Giê-su Ki-tô thì thuộc thế giới của Vĩnh Hằng ... Bước chân trên mặt đất là để đi đến thế giới ấy ... Bước chân trên mặt đất là để đi vào vương triều ấy ...Cho nên Chúa nói với Phi-la-tô : “ Thật ra Nước Tôi không thuộc chốn này “ là vì vậy ...Bởi vì “ không thuộc chốn này” nên cái cách xưng vương của Vua Giê-su Ki-tô nó cũng khác thường :- ở Phụng Vụ năm B hôm nay là việc xưng vương trong một cuộc hỏi cung mà Giê-su Ki-tô – Vua là người bị thẩm vấn ,- ở Phụng Vụ năm C là bản án viết “ Đây là vua người Do Thái” treo lủng lẳng trên trên đầu mà hôm nay , ở mọi tượng chuộc tội , bản án ấy vẫn rành rành ra đó ,- ở Phụng Vụ năm A thì là chuyện phân tách người lành , kẻ dữ ở giây phút chung cuộc mà vua chúa trần gian cũng bó tay chung phận ...“ Không thuộc chốn này” là vì vậy ...“ Chốn này” là chốn nào ?Có người bảo rằng “ thế giới phẳng “ của con người hôm nay lại chằng chịt những hàng rào ... và người ta tính cho đến năm 2013 thì có khoảng trên 50 hàng rào ngăn chia các biên giới với tổng chiều dài hơn 29.000 km , nghĩa là bằng 2/3 chu vi trái đất ( thống kê của Đại Học Quebec – Canada) ... Cái “ mặt phẳng” mà các sáng chế hiện đại trong lãnh vực thông tin đã làm cho thế giới con người thấy hí hửng vì quá gần gũi với nhau ... chẳng bao lâu lại là cái cớ để những hàng rào được dựng nên ...Vậy thì “ chốn này” chắc chắn không là mặt đất trần gian đầy biến động mà biến cố ở Paris hôm 13 / 11 vừa qua vẫn còn để lại nơi mỗi con người nỗi buồn tê tái ...Nói vậy cũng hơi oan uổng cho “ mặt đất trần gian” bởi vì đấy vẫn là tuyệt tác phẩm của Thiên Chúa Tạo Hóa trao tặng con người đồng thời cũng nài xin con người cộng tác vào để mà làm cho nó trở nên một nơi chốn dễ thương và dễ chịu ...Thế nhưng ...Vậy thì “ chốn này” thật sự là chốn nào ?“ Chốn này” chắc chắn không là chốn tà ba hỗn độn những tốt / xấu , những thiện / ác , những vui / buồn , nhưng thật ra bất hạnh nhiều hơn là nỗi niềm hạnh phúc ...“ Chốn này” vì thế - dù muốn hay không – người ta cũng phải vượt ra khỏi thế giới của khả giác để lục tìm nó trong tâm hồn mình ...Đã từ lâu lắm rồi , bài học của lịch sử con người vẫn được suy đi gẫm lại nơi những con người còn có chút đỉnh cái tâm để mà truy tầm ...Chợt thấy sự đồng cảm ấy trong cái nhìn – cũ rất cũ – nhưng luôn luôn là bài học đầy ý nghĩa và cũng luôn luôn nhắc nhở : ấy là cái nhìn hôm nay vào thân phận của khối di dân khổng lồ từ Trung Cận Đông dắt dìu nhau lang thang , lếch thếch đổ vào châu Âu ... mà thấm thía cái thân phận người và sự mong manh của trần gian ...Đâu rồi những nền văn minh lớn của đế quốc Babylon , vùng Lưỡng Hà Địa , đế quốc Syria ...Chốn xưa xe ngựa hồn thu thảoNền cũ lâu đài bóng tịch dương( Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)Cũng có người trích nỗi da diết của nhà thơ lưu vong người Macedonia Ante Popovski để minh họa cho cái cõi tà ba tội nghiệp của kiếp nhân sinh :Khi con thuyền cập bến thế giới mới ...Người ta hỏi anh mang theo cái gi ?Anh ta mở bọc quần áo và giơ ra một nắm đất ...Người ta giằng lấy nó và hòn đất vỡ tan tành ...Anh ta khóc ...Đó là tổ quốc tôi , anh ta nói .Và suốt đêm , anh ta nhặt nhạnh từng mảnh vụn , từng hạt !Còn cồ gắng lê lết để nhặt lấy từng mảnh vụn , từng hạt đất của quê hương , của tổ quốc mình ... thì cũng là điều quý hiếm và đáng trân trọng lắm rồi vì nó minh chứng con người còn có trái tim, còn có tâm hồn , nghĩa là còn tìm ra “ chốn này” mà Thượng Đế đã phải trả với một cái giá vô cùng đắt : cái chết trần truồng của Vị Thiên Chúa – Làm – Người trên cây gỗ thập tự với tấm bảng treo lủng lẳng – INRI ...Lm Ngô Mạnh Điệp



Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

21/11: Người nhà của Chúa

Ngày 21/11: Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ (Mt 12,46-50)


“Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50).
 
Trước khi nói với dân chúng trong đám đông điều này, Đức Giêsu đã để lại mẫu gương về việc thực thi thánh ý Chúa Cha. Chính Ngài coi việc thi hành mệnh lệnh của Cha mình như là lương thực bồi bổ (x. Ga 4, 34). Hơn thế nữa, Đức Giêsu với tư cách Con Một của Chúa Cha đã sống trong vâng phục Cha Ngài cách tuyệt đối và vâng phục cho đến cùng (x. Mt 26, 39; Pl 2, 8).
 
Trong bối cảnh ngày lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ thêm một lần nữa lời của Đức Giêsu về việc thi hành thánh ý Thiên Chúa được minh định một cách vững chắc. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì không những Mẹ đã cưu mang và sinh hạ Ngôi Hai Thiên Chúa, mà còn là người biết lắng nghe Lời Chúa, đồng thời suy đi ngẫm lại Lời ấy trong lòng trước khi đem ra thực hành (x. Lc 2, 19). Cả cuộc đời Mẹ được tóm gọn bằng tiếng xin vâng một cách vô điều kiện (x. Lc 1, 38).  
 
Ngày nay chúng ta đang phải đối diện với nhiều khó khăn trong xã hội do trào lưu đề cao chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khoái lạc duy vật chất và chủ nghĩa thế tục thực dụng. Đây chính là triệu chứng của căn bệnh thời đại làm nảy sinh tính ích kỷ và thói dửng dưng vô cảm. Những điều này ít nhiều đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến chính đời sống kitô hữu đối với việc lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Và khi đó, chúng ta thật khó để có thể trở thành “người nhà của Đức Giêsu”, điều mà Tin Mừng ngày hôm nay chính Đức Giêsu nói đến.
 
Lạy Chúa! Xin cho chúng con biết năng suy niệm Lời Chúa, qua đó chúng con có thể nhận ra thánh ý và sứ điệp mà Chúa nói với mỗi người chúng con và xin thêm sức cho chúng con để dám từ bỏ ý riêng của mình và chỉ biết sống và hành ý Chúa trong cuộc đời. Amen. 

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

21/11. Thứ Bảy. 1Mcb 6,1-13; Lc 20,27-40
Bài Ðọc I - 1Mcb 6,1-13
Trong những ngày ấy, vua Antiôcô rảo khắp các tỉnh miền bắc. Vua nghe nói tại Ba-tư có thành Êlymai nổi tiếng là giàu có và lắm vàng bạc; trong thành lại có một ngôi đền thờ lắm bảo vật, đầy những binh giáp bằng vàng, chiến bào, khiên mộc di sản của Alexanđrô, con Philipphê, vua xứ Macêđônia, là vua tiên khởi cai trị dân Hy-lạp. Vậy ông đến tìm cách chiếm lấy thành để cướp của. Nhưng ông không thành công, vì dân thành đã biết trước ý định của ông, nên đã vùng lên chống lại. Ông bỏ chạy và buồn bực lui quân trở về Babylon.
Lúc vua còn ở Ba-tư, có người đến đem tin cho vua hay toán quân của ông ở Giuđa đã bị đánh bại chạy tán loạn, và Lysia, vị tướng chỉ huy một đoàn quân hùng hậu, cũng đã phải tháo lui chạy trốn quân Do-thái; quân Do-thái lại càng mạnh thêm nhờ ở khí giới, lương thực và chiến lợi phẩm rất nhiều đã lấy được của các đoàn quân họ đánh bại. Họ đã hạ tượng thần vua đã đặt trên bàn thờ ở Giêrusalem; họ cũng đã xây thành đắp luỹ cao như trước chung quanh Ðền thờ và chung quanh thành Bethsura.
Nghe tin ấy, nhà vua khiếp đảm và rất xúc động. Vua vật mình xuống giường và buồn đến lâm bệnh, (bởi vì) sự việc đã không xảy ra như vua ước muốn. Vua liệt giường nhiều ngày, càng ngày càng buồn. Và tưởng mình sắp chết, vua liền triệu tập tất cả bạn hữu lại mà nói với họ rằng: "Trẫm không còn chớp mắt được nữa và lòng trẫm tan nát vì ưu tư. Trẫm tự nghĩ: trước kia khi trẫm còn quyền thế, trẫm vui sướng và được người ta quý mến, mà giờ đây trẫm lâm cảnh buồn sầu và đau khổ biết bao! Bây giờ trẫm hồi tưởng lại các tai hoạ trẫm đã gây cho Giêrusalem: trẫm đã chiếm đoạt các chén bằng vàng bạc tại đó, và đã ra lệnh tiêu diệt dân Giuđêa cách vô cớ. Trẫm nhìn nhận là vì các việc ấy mà phải khốn khổ như thế này, mà giờ đây trẫm phải buồn bực mà chết nơi đất khách quê người".
Tin mừng - Lc 20,27-40
Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ đó để anh mình có kẻ nối dòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ, rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào. Sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy, vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ?"
Chúa Giêsu trả lời rằng: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng; họ sẽ không thể chết nữa, vì họ giống như thiên thần, họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa".
Bấy giờ có mấy luật sĩ lên tiếng thưa Người rằng: "Lạy thầy, Thầy dậy đúng lắm". Và họ không dám hỏi Người điều gì nữa.
Suy niệm
Vua Antiôcô ham thích những báu vật trong thành Êlymai, ông có ý định xâm chiếm. Dân trong thành đã đồng lòng đứng lên bảo vệ tài sản của mình, khiến nhà vua thất thế chạy về nước. Hơn thế nữa, dân Do Thái đã nổi dậy để đánh đuổi quân đội của nhà vua, họ đã chiếm lại thành Giêrusalem, nhất là đã đem được “đồ ghê tởm” ra khỏi đền thờ của họ. Cuộc chiến này thực sự ra là cuộc chiến của niềm tin.
Thấy được những thất bại của mình, vua Antiôcô buồn và lâm trọng bệnh. Trong cơn đau, nhà vua hồi tưởng lại những việc mình làm, và ông nhận ra : “Chính vì những hành vi tàn bạo tôi đã làm ở Giêrusalem mà tôi phải chịu buồn phiền vô hạn”. Chính nhà vua cũng đã nhận thấy hậu quả của sự xúc phạm đến Đền Thờ, đến Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay là cuộc đối đầu giữa Chúa Giêsu với nhóm Xa đốc, là nhóm không tin có sự sống lại. Họ đặt ra câu chuyện hoàn toàn giả tưởng về việc một người phụ nữ lần lượt lấy bảy anh em trong gia đình, mà không có con để nối dõi. Vậy nếu có sự sống đời sau, thì người phụ nữ này sẽ là vợ của ai?
Để trả lời, Chúa Giêsu đã dựa vào Thánh Kinh để nói về sự sống mai sau, sự sống đó chỉ được dành cho những con người xứng đáng, và trong sự sống đó, bận tâm duy nhất của người ta là việc phụng sự và ngợi khen Chúa như các thiên thần, chứ không phải là mối bận tâm theo kiểu phàm tục.
Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến cho một người trong nhóm kinh sư lên tiếng khen: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm”.
Vấn đền chính yếu ở đây là cuộc chiến của niềm tin, mà hậu quả của những kẻ không tin, còn xúc phạm đến Thiên Chúa là phải khốn khổ giống như vua Antiôcô.
Lạy Chúa, xin cho con đừng cứng lòng, xúc phạm đến Chúa, nhưng cho con biết tìm cách để ngợi khen và phụng sự Chúa trong suốt cả cuộc đời. Sống như vậy là con đang sống tương lại hạnh phúc trong chính giây phút hiện tại này.

LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH TRONG ĐỀN THỜ


 BÀI ĐỌC I: Dcr 2, 14-17
Chúa phán: “Hỡi thiếu nữ Sion hãy ca tụng và hân hoan: vì này đây Ta đến ngự giữa ngươi. Trong ngày ấy, sẽ có nhiều dân tộc quy phục Chúa, họ sẽ là dân Ta và Ta sẽ ngự giữa ngươi. Ngươi sẽ biết rằng Chúa các đạo binh đã sai Ta đến cùng ngươi”. Thiên Chúa sẽ chiếm lấy Giuđa làm sản nghiệp của Người trong thánh địa, và sẽ còn tuyển chọn Giêrusalem. Mọi xác phàm hãy thinh lặng trước nhan thánh Chúa, vì Người đã chỗi dậy trong thành thánh của Người.

ĐÁP CA: 1 Sm 2, 1.4-5.6-7.8
Đáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Đấng Cứu độ tôi (c. 1a).
1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi.
2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn.
3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao.
4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

ALLELUIA: Lc 1,28 - All. All. - Kính chào Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ; trinh Nữ được chúc phúc giữa các người phụ nữ. - All.

PHÚC ÂM: Mt 12, 46-50
Khi ấy, Chúa Giêsu còn đang nói với dân chúng, thì mẹ Người và anh em Người đứng ngoài tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa rằng: "Kìa, mẹ Ngài và anh em Ngài đang đứng tìm Ngài ngoài kia". Nhưng Người trả lời kẻ ấy rằng: "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?" Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: "Đây là mẹ Ta và là anh em Ta, vì hễ ai làm theo ý Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy".

Suy niệm
“Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.
Cuộc đời Đức Mẹ là một cuộc hành trình trong yêu thương. Hành trình đó được khởi đi từ sự ý thức về một Thiên Chúa yêu thương, để rồi qua đó, Mẹ cũng ý thức sống trọn vẹn cho tình yêu Thiên Chúa qua việc dâng mình thuộc trọn về Chúa. Và chính khi sống trong tình yêu thương đó, Mẹ đã sẵn sàng đáp lời “Xin vâng”, cũng như sẵn sàng chịu bao đau khổ, bao khó khăn trong trọn cuộc sống Mẹ. Nhìn vào cuộc đời Mẹ, mấy ai có thể nghĩ rằng một thiếu nữ mỏng dòn yếu đuối lại có thể vượt qua tất cả những điều đau khổ trong cuộc đời. Thế nhưng, chính khi Mẹ sống trong tình yêu của Thiên Chúa thì tất cả những đau khổ, những khó khăn trong cuộc đời chẳng có thể làm cho Mẹ suy sụp, chẳng thể làm cho Mẹ nản chí hay từ bỏ.
Khi sống trong ân sủng và tình yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ đã biết sống theo những điều Thiên Chúa muốn, bởi vì điều đó không chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa nhưng còn mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho Mẹ nữa. Chính vì thế mà đoạn Tin Mừng hôm nay tưởng chừng như một lời nói vô tình của Chúa Giêsu đối với Mẹ, nhưng thật ra đó lại là một lời khen ngợi, một dấu chỉ của sự yêu thương mà Chúa Giê su đã dành cho Mẹ mình. Bởi Ngài biết rằng, Mẹ Maria không chỉ là một người mẹ của tình mẫu tử thông thường, nhưng vượt trên tất cả, Mẹ còn là một người mẹ sống trọn vẹn theo thánh ý Thiên Chúa, đó mới thực sự là điều quan trọng và là điều thiết yêu hơn cả. Cuộc đời Mẹ cho dù phải trải qua những bước thăng trầm sóng gió, nhưng Mẹ vẫn không hề chùn bước, vì Mẹ đã luôn “ghi nhớ và suy niệm trong lòng” nhằm vâng theo thánh ý Chúa và sống trọn vẹn thánh ý Chúa.
Ý thức về tình yêu Thiên Chúa là ý thức về những hồng ân cao cả của Ngài. Điều đó đã giúp Mẹ có đủ tình yêu thương để đồng hành với Chúa Giêsu trên đường khổ giá, có đủ sức mạnh để tha thứ cho những kẻ làm hại Con mình, có đủ nghị lực để vượt qua tất cả những sóng gió và có đủ can trường để yêu thương tất cả mọi người. Mẹ đã không dừng lại nơi một tình mẫu tử máu thịt, nhưng đã vượt lên trên tất cả để sống trọn vẹn tình mẫu tử thiêng liêng, tình mẫu tử gắn liền với thánh ý của Thiên Chúa. Chỉ có như thế, Mẹ mới có thể thấu hiểu được và sống cùng với những trái ý những thách đố trong cuộc đời Mẹ. Để rồi, khi về trời, Mẹ vẫn hiểu được con cái của Mẹ dưới trần này, và Mẹ vẫn mãi đồng hành với đoàn con trong bất kỳ hoàn cảnh trái ngang nào của cuộc sống.
Lạy Mẹ Maria, trong giây phút đầu tiên khi Mẹ dâng mình trong đền thờ, Mẹ đã ý thức và sống trong tình yêu thương của Thiên Chúa, để rồi suốt cuộc đời Mẹ là một bài ca tình yêu trong cả niềm vui lẫn khổ đau. Xin cho mỗi người chúng con, nhờ sự trợ giúp của Mẹ, biết sống trọn vẹn theo thánh ý của Thiên Chúa để qua đó chúng con được cảm nếm và sống thân tình trong tình yêu Thiên Chúa mỗi ngày. Amen.
Phêrô Dương Hải Văn SDB


Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

20/11. Thứ Sáu. 1Mcb 4, 36-37.52-59; Lc 19,45-48
Bài Ðọc I - 1Mcb 4, 36-37.52-59
Trong những ngày ấy, Giuđa và anh em ông nói rằng: "Quân thù chúng ta đã bị tiêu diệt, nay chúng ta hãy đi thanh tẩy và cung hiến Ðền thánh lại".
Toàn thể quân đội được triệu tập, rồi cùng lên núi Sion.
Ngày hai mươi lăm tháng chín (tức là tháng Kislêu) năm một trăm bốn mươi tám, họ dậy sớm, dâng lễ tế như Luật dạy trên bàn thờ dùng để dâng lễ toàn thiêu mà họ vừa mới thiết lập. Bàn thờ đã được cung hiến lại giữa những tiếng ca, tiếng đàn lục huyền cầm, phong cầm cùng tiếng não bạt, đúng mùa, đúng ngày trước kia dân ngoại đã xúc phạm đến bàn thờ. Toàn dân sấp mình thờ lạy và ca tụng Ðấng ngự trên trời đã ban chiến thắng cho họ.
Họ làm lễ cung hiến bàn thờ suốt tám ngày, hân hoan dâng lễ toàn thiêu, lễ đền tội và lễ tạ ơn. Họ trang hoàng mặt tiền Ðền thờ với những triều thiên vàng và bảng chương, sửa lại các cửa ra vào và các phòng, đặt cánh cửa lại. Dân chúng nô nức vui mừng vì đã rửa sạch được nỗi tủi nhục do dân ngoại gây nên. Giuđa cùng với anh em ông và cộng đoàn Israel quyết định rằng: Hằng năm, từ ngày hai mươi lăm tháng Kislêu, lễ cung hiến bàn thờ sẽ được cử hành trong vui mừng hân hoan suốt tám ngày.
Tin mừng - Lc 19,45-48
Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.
Suy niệm
Bài đọc thứ nhất là niềm vui của những con người trung thành với Thiên Chúa, đứng đầu là ông Giuđa, vì sau một thời gian chiến đấu với kẻ thù, họ đã chiến thắng. Hôm nay ông mời gọi anh em của mình: “Kẻ thù của chúng ta đã bị đập tan, chúng ta hãy lên thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh”. Thế là “Họ cử hành lễ cung hiến bàn thờ và hoan hỷ dâng lễ toàn thiêu”.
Còn bài Tin Mừng hôm nay nói về việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem. Ngài muốn trả lại cho nơi thờ phượng Thiên Chúa sự trang nghiêm thánh thiện đúng với ý nghĩa của Đền Thờ. Vì vậy Ngài không ngần ngại “đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ”.
Phụng vụ lời Chúa hôm nay muốn gởi đến chúng sứ điệp về sự bảo vệ Đền Thờ. Ông Giuđa và anh em ông đã phải chiến đấu để bảo vệ Đền Thờ. Chúa Giêsu cũng vì lòng nhiệt thành mà Chúa mà phải thiệt thân.
Mỗi người chúng ta là ngôi Đền Thờ để Chúa ngự. Chúng ta có bổn phận gìn giữ cho sạch đẹp. Chúng ta phải can trường chiến đấu với thế lực kẻ thù muốn chiếm lấy Đền Thờ chúng ta. Chúng ta phải mạnh mẽ để đánh đuổi những kẻ làm chuyện ô uế, phàm tục ra khỏi Đền Thờ này.
Chúng ta gìn giữ Đền Thờ này bằng hàng rào vững chắc của đức tin. Chúng ta đánh đuổi kẻ thù ra khỏi Đền Thờ này bằng vũ khí sắc bén của lòng trông cậy. Chúng ta bảo vệ Đền Thờ này bằng vật liệu kiên cố của lòng mến.

Lạy Chúa, hằng ngày xin cho con gặp Chúa trong các giờ cầu nguyện, thánh lễ và lãnh nhận các bí tích để Chúa thanh tẩy tâm hồn con sạch mọi vết nhơ; đồng thời tăng thêm sức mạnh để con mạnh mẽ loại trừ những sự phàm tục, bất xứng ra khỏi Đền Thờ tâm hồn con.

THỨ SÁU TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN

BÀI ĐỌC I: 1 Mcb 4, 36-37, 52-59

PHÚC ÂM: Lc 19, 45-48
Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.

Suy niệm
“Nhà Ta là sẽ nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp”.
Với mỗi người Kitô hữu, thì ngôi nhà thờ chính là nơi thánh thiêng nhất và cũng là nơi thân thương nhất. Bởi chưng đức tin của mỗi người được gắn liền với ngôi nhà thờ, nơi mà đời sống đức tin được lớn lên theo năm tháng qua việc rửa tội, qua việc học giáo lý, qua thánh lễ và qua các bí tích được lãnh nhận. Không chỉ thế, nhà thờ còn là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa và gặp gỡ nhau trong việc tôn thờ và chia sẻ đời sống đức tin cho nhau. Bởi vì nhà thờ là nơi giúp cho đức tin được khai mở và được triển nở theo năm tháng của một đời người.
Lời Chúa hôm nay không cho tôi có những cảm nghiệm về sự xúc phạm đến ngôi nhà thờ thân thương, nơi mà tôi thường hay cầu nguyện và tham dự thánh lễ. Bởi vì tôi chưa thấy một ngôi nhà thờ nào bị xúc phạm như thế cho đến bây giờ. Thế nhưng Lời Chúa lại như xoáy sâu vào con tim tôi, đi vào chính cuộc đời tôi để rồi đánh thức tâm hồn tôi qua chính ngôi nhà thờ đã được xây nên trong tâm hồn của tôi. Từ khi được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, tôi và tất cả mọi người kitô hữu được Chúa ban tặng cho một ngôi thánh đường thật đẹp trong tâm hồn, trong đời sống đức tin của mình. Nơi ngôi nhà thờ nội tâm này, tôi được gặp gỡ Thiên Chúa, được chia sẻ với Ngài mọi nỗi buồn vui trong cuộc sống. Và cũng từng ngày tôi cố gắng để làm đẹp cho ngôi nhà thờ tâm hồn của tôi. Tôi muốn cho ngôi nhà thờ tâm hồn, nơi mà Chúa ngự trong cuộc đời mình được tỏa hương bởi những nhân đức tốt lành, được trang hoàng bởi vẻ đẹp của những việc lành trong mỗi ngày sống của tôi. Thế nhưng, niềm vui mừng khi có được ngôi nhà thờ mới, niềm vui được gặp gỡ Chúa nơi đây, niềm vui khi cố gắng để làm đẹp ngôi nhà thờ ngày càng phai nhạt dần trong tôi. Để rồi có những lúc tôi đã biến ngôi nhà thờ tâm hồn của mình trở thành sào huyệt của bọn cướp, hay sào huyệt của chính tên cướp là bản thân tôi. Tôi đã không tôn thờ Chúa, đã không yêu mến Chúa nơi ngôi nhà thờ tâm hồn mình, nhưng tôi lại yêu mến tôi nhiều hơn qua lối sống ích kỷ, qua những tính toán lợi danh. Có những khi tôi đã không tôn thờ Chúa mà lại tôn thờ cho tiền bạc, cho những dục vọng của bản thân. Phải, tôi đã biến nhà thờ tâm hồn tôi trở thành nơi bẩn thỉu khi tôi không dám sống cho chân lý. Tôi sợ bị liên lụy, sợ bị người khác hiểu lầm, sợ ảnh hưởng đến đời sống của mình; những lúc đó tôi lại chẳng thấy sợ Chúa, sợ làm Chúa đau khổ, sợ lại đóng đinh Chúa thêm một lần nữa. Những điều đó vô hình chung đã biến ngôi nhà thờ tâm hồn tôi trở thành sào huyệt của tội lỗi, của sợ hãi và cũng một cách nào đó đã biến tôi thành ông chủ, thành chúa tể của ngôi nhà thờ tâm hồn tôi.
Lạy Chúa, mỗi lần con xúc phạm đến Chúa và tha nhân là mỗi lần con lại làm cho ngôi nhà thờ tâm hồn con trở nên sào huyệt của bọn cướp, là mỗi lần con cộng tác và là thành viên trong nhóm cướp đó. Và cứ như thế, con đã đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời con, khỏi ngôi nhà thờ mà chính Chúa đã ban tặng cho con. Lạy Chúa, xin cho mỗi người kitô hữu chúng con luôn ý thức về ngôi nhà thờ tâm hồn mình, để nơi đó luôn luôn là nơi đẹp nhất, là nơi thánh thiêng nhất và là nơi mà Chúa ở với chúng con trong từng giây phút của cuộc đời mình. Amen.

Phêrô Dương Hải Văn SDB