Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Thứ Tư tuần 33 mùa Thường niên (Lc 19 11-28)


Bài Tin mừng hôm nay của thánh Luca đặt dụ ngôn nén bạc của Đức Giêsu trong bối cảnh « dân chúng lại cứ tưởng là Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện trong giây lát » (Lc 19,11), có nghĩa là ngày Chúa trở lại thế gian này trong thời cánh chung.
 
Khi Đức Giêsu nói về dụ ngôn này, ai cũng đều hiểu rằng các nén bạc mà Chúa trao cho mỗi người cần được sinh lời: sức khỏe, tài năng, các phương tiện hữu ích mà chúng ta có được là để làm sáng danh Chúa và phục vụ tha nhân. Tuy nhiên, khi dụ ngôn ấy được liên hệ với thời sau hết lại giúp chúng ta ý thức hơn rất nhiều về nén bạc thời gian Chúa ban cho hết thảy mọi người. Tất cả mọi người hiểu được giá trị của thời gian nên chúng ta mới được nhắc nhở : « thời gian là vàng bạc ». Ai ai cũng có 24 giờ một ngày. Điều quan trọng là chúng ta đã sử dụng nén bạc quý giá ấy ra sao trong suốt cuộc đời của mình.
 
Đức Giêsu không ngừng làm việc, vì theo gương của Chúa Cha vốn luôn luôn làm việc để chăm sóc con người, hình ảnh của Ngài. Với thời gian, Đức Giêsu đưa con người bước vào thời kỳ của ơn cứu độ và của triều đại của sự sống đời đời. Ngài không bao giờ hành động cách vội vàng mà luôn luôn theo thì theo buổi, có nghĩa là « giờ của Ngài ».
 
Khi sử dụng cho nên nén bạc này cùng với việc cộng tác với ơn Chúa trong công trình cứu chuộc, chúng ta sẽ được hân hoan vui mừng tiến ra chào đón Người vào lúc giã từ cõi đời. Nếu để thời gian trôi đi một cách vô vị thì chúng ta đã mất đi định hướng sống ; nếu dùng thời gian vào các mục đích bất minh là chúng ta đã phá vỡ tổng thể công trình sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa.
 
Điều cần thiết là chúng ta cần có chương trình sống cho mỗi ngày cũng như các kế hoạch dài hạn, để có phương thức hành động phù hợp ngõ hầu ngày cuộc đời mình sinh được nhiều hoa trái tốt đẹp.
 
Lạy Chúa, « Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan » (Tv 90,12).  

Lễ Chúa Ki-tô Vua


Ý niệm về vương quyền và vương quốc của Chúa Ki-tô không thể hiểu theo những tiêu chuẩn của vua chúa trần gian. Cả ba bài đọc của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày hình ảnh siêu nhiên về Chúa Ki-tô là Con Người, là vị Thủ Lãnh và là Vua của một vương quốc không thuộc về thế gian này. Sứ mệnh của Người là “làm chứng cho sự thật” và triều đại của Người sẽ tồn tại muôn đời. Vương quyền và triều đại ấy sẽ bảo đảm chắc chắn cho số phận tương lai của ta, đồng thời cũng mở ra cho ta một chân trời mới cho cuộc sống hiện tại của một Ki-tô hữu trên trần gian.



1. Chúa Ki-tô là “Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (bài đọc Cựu Ước – Đa-ni-en 7:13-14)



Theo thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người chính là Chúa Ki-tô đã chiến thắng tội lỗi và thần chết. Hai nhân vật trong bài đọc thứ nhất hôm nay là Con Người và Đấng Lão Thành. Thị kiến cho ta thấy khung cảnh đơn sơ nhưng cực kỳ uy nghiêm của một lễ đăng quang trọng đại. Ta có thể hình dung Chúa Ki-tô khải hoàn “đang ngự giá mây trời mà đến và tiến lại gần Đấng Lão Thành” là Thiên Chúa Cha. Khung cảnh này ta đã được nghe Chúa Giê-su nói đến khi Người bị vị thượng tế vặn hỏi Người có phải là Đấng Ki-tô không. “Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mc 14:61-62). Người “được dẫn đưa tới trình diện Đấng Lão Thành” (Đn 7:13). Chúa Ki-tô đã hoàn tất sứ mệnh cứu độ nhân loại. Giờ đây trong ngày phán xét chung, Người được đưa tới trình diện Chúa Cha và được Chúa Cha trao ban “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”. Có lẽ suy niệm về điều này, thánh Phao-lô Tông đồ hoặc Giáo Hội sơ khai đã vẽ lại cảnh đăng quang của Chúa Ki-tô được ngôn sứ Đa-ni-en tiên báo. “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9-11).

Điểm đặc biệt nhất mà Đa-ni-en thấy ở đây là tính cách vĩnh cửu của vương quyền và vương quốc Chúa Ki-tô (Đn 7:14b). Vĩnh cửu vì đó không phải là vị vua và vương quốc đời này, mà là Đức Ki-tô, Đấng được Thiên Chúa đặt lên và trao quyền thống trị Triều Đại của Người. Các quốc gia trên thế giới này khi tồn, khi vong, cũng như những người cai trị chúng. Ngay cả các đế quốc cũng vậy. Tất cả đều lệ thuộc vào thời gian. Còn vương quốc của Chúa Ki-tô thì trường tồn muôn đời, vì thời gian là của Người và Người là Chúa của quá khứ, hiện tại lẫn tương lai (Nghi thức làm phép nến Phục Sinh). Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô khiến ta nghĩ tới A-đam. Sau khi tạo dựng A-đam, Thiên Chúa đã ban quyền cho A-đam được thống trị muôn loài trên mặt đất. Tuy nhiên tội bất tuân phục của ông đã tước đoạt đi quyền thống trị ấy, để cho chính ông và con cháu lâm vào tình cảnh yếu đuối và phải “đổ mồ hôi mới kiếm được miếng ăn”. Chúa Ki-tô là A-đam Mới, nay đã chiến thắng tội lỗi nên được Thiên Chúa phục hồi cho quyền thống trị. Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô đã đặt nền tảng cho tương lai vĩnh cửu của ta, vì nếu quyền thống trị của Người không trường tồn thì ta sẽ chẳng được chia sẻ phần gia nghiệp muôn đời với Người.



2. Chúa Giê-su là vị Thủ Lãnh khai mạc vương quốc vĩnh cửu (bài đọc Tân Ước – Khải Huyền 1:5-8)



Đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an Tông đồ tiếp tục khai triển việc thiết lập vương quốc vĩnh cửu của Chúa Ki-tô. Tiến trình thiết lập ấy được gồm tóm trong ba danh hiệu quy về Chúa Ki-tô: Chứng Nhân trung thành, Trưởng Tử của những người từ cõi chết trỗi dậy, và Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Cách Gio-an xếp thứ tự ba danh hiệu này đã cho thấy vương quốc của Chúa Ki-tô được thiết lập như thế nào rồi. 

Trước hết, Chúa Ki-tô được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để làm Chứng Nhân. Người làm chứng rằng Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến mức độ nào. Người cũng làm chứng rằng con người có thể đáp lại tình yêu ấy ra sao. Để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa, Chúa Ki-tô “đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1:5-6). Người đã làm chứng cho việc trung thành phụng sự Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Cái chết của Người không kết thúc sứ mệnh trên trần gian, nhưng chỉ là ngưỡng cửa để Người bước qua, sống lại và là người đầu tiên trỗi dậy từ cõi chết. Người được tuyên dương là Trưởng Tử của Nhân loại Mới, tức Con Đầu Lòng giữa những người con sẽ được sống lại để hưởng phúc trường sinh với Người. Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Ki-tô nắm giữ vai trò Thủ Lãnh. Người đến trần gian làm Thủ Lãnh, nhưng không phải để được phục vụ như các thủ lãnh của thế gian, mà là để phục vụ và chết cho mọi người (Mc 10:45). Người làm Thủ Lãnh để quy tụ muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa Cha, như Đầu của Nhiệm Thể đem mọi chi thể trở về cùng Thiên Chúa là nguồn cội của chúng.

Như thế, Chúa Ki-tô đã thiết lập vương quốc Người không phải nhờ một quyền lực nào khác ngoài quyền lực của Thiên Chúa. Sức mạnh của Người không dựa vào khí giới súng đạn, nhưng là tình yêu, yêu Thiên Chúa và yêu nhân loại. Từ A tới Z chỉ có tình yêu. Hoặc nói theo ngôn ngữ khải huyền của Gio-an: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, là Thiên Chúa và chỉ có Tình yêu thống trị mà thôi.



3. Vương quốc của Chúa Ki-tô là vương quốc của sự thật (bài Tin Mừng – Gio-an 18:33b-37)



Chúa Giê-su đến để thiết lập vương quốc tình yêu, như ta đã thấy qua đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an. Tuy nhiên bài Tin Mừng còn cho thấy một khía cạnh khác của vương quốc ấy, đó là vương quốc của sự thật, điều mà Chúa Giê-su đã trả lời cho Phi-la-tô khi Người bị ông ta cật vấn.

Đầu óc của Phi-la-tô không thể vượt qua khỏi ý niệm thông thường về ông vua như thượng tế và dân chúng đã tố cáo Chúa Giê-su. Trả lời cho câu hỏi của tổng trấn, Chúa Giê-su khẳng định rõ ràng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật” (Ga 18:36a.37c). Làm chứng cho sự thật là sứ mệnh vị Vua của vương quốc ấy phải thi hành. Chính Phi-la-tô cũng không hiểu được điều Chúa Giê-su đã nói. Với ông, trên đời này làm gì có thứ vương quốc của sự thật, mà chỉ có vương quốc đầy bạo lực, quyền hành, bóc lột, chiến tranh… Cho nên ông ta hỏi Chúa: “Sự thật là gì?” và cũng chẳng cần có câu trả lời, nhưng vội lảng tránh và tìm cách chạy tội hèn nhát không dám bênh vực sự thật. Sự thật là vương quốc của Chúa Ki-tô không nhắm những mục tiêu chính trị hay những phương tiện trần gian như vũ lực và bạo quyền. Do đó, Chúa Giê-su muốn nói rằng Người không phải là đấng mê-si-a đến để giải phóng Ít-ra-en như dân chúng mong đợi, nhưng là Đấng Mê-si-a đến để giải phóng nhân loại khỏi ách tội lỗi. Còn đối với thần dân của vương quốc sự thật ấy, “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Người”. Người lên tiếng kêu gọi người ta hãy nhận biết tình yêu của Thiên Chúa, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, hãy sống yêu thương theo luật pháp mến Chúa yêu người của vương quốc ấy. “Đứng về phía sự thật” có nghĩa là đáp lời mời gọi của Chúa Ki-tô mà bước vào Triều Đại Thiên Chúa hoặc Nước Thiên Chúa. Ở trong đó mọi người là anh chị em con cùng một Cha trên trời, sống những giá trị Tin Mừng qua lối cư xử với bản thân, với người khác và trọn đạo làm con cái Chúa. Sự thật ở đây là chính Đức Ki-tô, là đạo lý của Thiên Chúa để nhân loại sống theo (Ga 14:6). Sự thật ấy sẽ giải phóng ta khỏi tội lỗi nếu ta hết lòng tin (Ga 8:32). Quả thực, Thiên Chúa đã ban cho nhân loại Sự Thật, nhờ đó con người biết Thiên Chúa là Đấng nào và biết thân phận làm con của họ để sống sao cho đúng với sự thật. Tóm lại, vương quốc sự thật là kế hoạch Thiên Chúa thiết lập để tỏ ra tình yêu vô điều kiện và cứu độ của Người. Người thiết lập nó và đặt Đức Ki-tô làm Vua. Và đây là lời hiệu triệu của Vua nước sự thật: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Chẳng lẽ ta muốn làm con dân của vương quốc sự thật mà lại có thể làm ngơ trước lời hiệu triệu đó hay sao?



4. Sống Lời Chúa



Kết thúc năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi ta lần cuối cùng hãy nhìn nhận con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su Ki-tô. Người đến thiết lập Triều Đại Thiên Chúa ngay tại trần gian này và đã chết để chuộc tội cho ta. Người đưa ra một lối sống mới cho những ai muốn thực sự sám hối và tin vào Tin Mừng, kiến tạo một nhân loại mới. Ngày cánh chung, Người sẽ ngự đến trong mây trời để xét xử muôn loài. Còn ta thì được Người đưa vào vương quốc của Người ngay tại trần gian này để chuẩn bị bước vào vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã vào vương quốc vĩnh cửu để dọn chỗ cho ta. Người hứa: “Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3). Người hứa chắc chắn như vậy và Người đang chờ ta.



Suy nghĩ: Chúa Giê-su phán: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Vậy tôi đang đứng ở đâu? Tôi có lắng nghe Chúa nói và thực hành những điều Người dạy bảo không? Tôi đang ở trong vương quốc của Người hay vương quốc của ma quỷ tội lỗi?



Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Ki-tô là người Con mà Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men. (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ).



Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

16/11. Thứ Hai. 1Mcb 10-15.41-43.54-57. 62-64; Lc 18,35-43
Bài Ðọc I - 1Mcb 10-15.41-43.54-57. 62-64
Trong những ngày ấy, bởi dòng các vua Hy-lạp sinh ra một mầm mống tội lỗi, là Antiôcô Êpiphan, con vua Antiôcô, trước kia bị bắt làm con tin tại Rôma; năm vương quốc Hy-lạp một trăm ba mươi bảy, ông lên ngôi vua.
Thời đó từ Israel cũng xuất hiện một số người bất lương mê hoặc được nhiều người, chúng nói rằng: "Này, ta hãy giao ước với các dân ở chung quanh chúng ta, vì từ ngày chúng ta đoạn giao với các dân ấy, chúng ta đã gặp nhiều tai hoạ". Họ cho lời nói ấy là đúng. Một số trong dân chúng hối hả đi yết kiến nhà vua và được nhà vua cho phép tuân giữ các luật lệ của dân ngoại. Họ liền xây cất một thao trường ở Giêrusalem theo tập quán của dân ngoại; họ tìm cách huỷ bỏ vết tích của phép cắt bì, chối bỏ Giao Ước thánh để rồi giao ước với kẻ ngoại. Họ tự bán mình để làm sự dữ.
Vua Antiôcô ra chiếu chỉ khắp nước truyền cho mọi dân hợp thành một dân và mỗi dân phải bỏ tục lệ riêng mình; tất cả các dân ngoại đều tuân lệnh nhà vua. Nhiều người Israel cũng sẵn sàng theo việc phượng tự của nhà vua, họ liền hiến tế cho ngẫu tượng và phế bỏ ngày sabbat.
Ngày rằm tháng Kislêu, năm một trăm bốn mươi lăm, vua Antiôcô đặt một ngẫu tượng ghê tởm ngay trên bàn thờ dâng của lễ toàn thiêu. Người ta cũng lập nhiều bàn thờ khác trong các thành lân cận của Giuđa: người ta đốt hương cúng tế trước cửa nhà và ở các công trường. Hễ gặp thấy sách luật nào, họ xé nát và đem đốt đi. Nếu người ta bắt gặp sách giao ước trong nhà người nào hoặc bắt gặp kẻ nào giữ Luật Chúa, thì kẻ ấy sẽ bị xử tử theo đúng chiếu chỉ của nhà vua. Nhưng cũng có nhiều người Israel tỏ ra kiên quyết, và nhất định không ăn của gì dơ nhớp; họ thà chết chẳng thà làm cho mình ra ô uế bởi của ăn dơ và phạm đến Giao Ước thánh, và quả thực họ đã chết. Dân Israel phải chịu một cơn thịnh nộ khủng khiếp.
Tin mừng - Lc 18,35-43
Khi Chúa đến gần thành Giêricô, thì có một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Khi nghe tiếng đám đông đi qua, anh liền hỏi có chuyện gì đó. Người ta nói cho anh biết có Ðức Giêsu Nazareth đang đi qua. Bấy giờ anh liền kêu lên rằng: "Lạy ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi!" Những người đi trước mắng bảo anh nín đi, nhưng anh lại càng kêu lớn tiếng hơn: "Lạy con vua Ðavít, xin thương xót tôi!" Vậy Chúa Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh đến cùng Người. Khi anh đến gần bên Người, Người hỏi anh: "Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?" Anh thưa: "Lạy Ngài, xin cho tôi được xem thấy". Chúa Giêsu bảo anh: "Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi". Tức khắc anh thấy được và anh đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa. Thấy vậy toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa.
Suy niệm
Năm 200 (TCN), Giêrusalem rơi vào tay của đế quốc Xêlêuxit. Ban đầu dân Do Thái rất hồ hởi vì nhà vua Antiôcô III đối xử rất tốt với họ, họ vẫn có thể hành đạo một cách tự do. Nhưng đến thời của vua Antiôcô IV, tình hình đã thay đổi. Nhà vua bách hại đạo Do Thái, xúc phạm Đền Thờ và bắt dân chúng phải tôn thờ ngẫu tượng, vi phạm lề luật…
Một số người vì nhiều lý do đã “nhập thành một dân duy nhất để tế lễ cho các ngẫu tượng, vi phạm luật Sabát”. Nhưng “nhiều người trong dân Israel vẫn kiên tâm vững chí, nhất định không ăn những thức ăn ô uế. Họ thà chết chớ không để mình ra ô uế vì thức ăn, vi phạm Giao ước thánh”.
Như vậy giữa những người u mê đi vào đường lối của nhà vua phản bội lại Thiên Chúa để được sống, thì vẫn còn nhiều người chấp nhận cái chết để chống lại nhà vua, đi theo đường lối Chúa.
Dưới con mắt người đời, những người đi theo nhà vua để vi phạm lề luật là những người sáng suốt vì họ giữ được mạng sống mình. Còn những người chấp nhận cái chết vì không tuân thủ luật nhà vua để trung thành với Thiên Chúa là những con người mù tối, mê muội…
Bài Tin Mừng hôm nay nói về anh mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Mọi người nói với anh“Đức Giêsu Nadarét đi ngang qua đó”. Nhưng anh lại kêu lên “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.
Những người sáng mắt chỉ biết Đức Giêsu Nadarét, nghĩa là một con người. Còn anh mù thì nhận ra Đức Giêsu con Vua Đavít, nghĩa là một Đấng cứu độ.
Như vậy ai mới là người mù? Ai mới là người sáng mắt?
Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay muốn nói với chúng ta về cái mù tâm linh, là cái mù không nhận biết Thiên Chúa và đường lối của Người; cũng như ánh sáng chân thật là ánh sáng nhận biết Thiên Chúa và sống theo những gì Người chỉ dạy.
Lạy Chúa, xin cho cặp mắt đức tin của con sáng suốt để con có thể nhìn thấy Chúa hiện diện trong cuộc đời con.

THỨ NĂM SAU CN 33 TN NĂM B: Lc 19,41-44



Trong cuộc sống thường ngày, hẳn chúng ta cũng đã từng chứng kiến khá nhiều người khóc: có những người khóc vì đau khổ, bệnh tật, bất hạnh, thất vọng và bị bỏ rơi… Nhưng cũng có những người khóc vì sung sướng, khóc vì hạnh phúc!
Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe tường thuật việc Chúa Giêsu khóc thương thành thánh Giêrusalem. Tại sao vậy? Thưa vì Ngài nhìn thấy viễn cảnh tương lai với sự đổ nát của thành thánh. Đối với người Do thái, Giêrusalem không chỉ là thủ đô của một quốc gia, nhưng nó còn là biểu tượng của sự sống còn của cả một dân tộc. Người Do Thái phải mất 46 năm để xây dựng thành này. Còn Giêrusalem là còn tất cả, và nếu mất Giêrusalem thì cũng có nghĩa là mất nước.
Nhất là trong lãnh vực tôn giáo, Giêrusalem là dấu chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người; và đó cũng chính là điểm qui tụ của tất cả mọi người Do thái. Cho nên cho dù có bị lưu đày tản mát ở khắp mọi nơi, thì người Do thái vẫn còn một điểm giúp họ gần nhau, đó là sự hồi tưởng về những ngày trẩy hội lên đền thánh. Cuộc hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem, cũng là một khúc quanh quyết định trong cuộc đời của Chúa Giêsu cũng như trong chương trình cứu độ của Ngài.
Hôm đó là ngày lễ Vượt qua. Dân chúng hân hoan tiến về Giêrusalem để mừng kỷ niệm ngày dân tộc được giải phóng khỏi kiếp sống lưu đày. Họ hồi tưởng lại thời gian đã qua với biết bao hồng ân Thiên Chúa đã ban cho họ.Trong khi đó, bài Tin Mừng lại cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu có một tâm trạng khác hẳn với những người chung quanh. Ngài tỏ ra bồi hồi xúc động. Ngài đã khóc. Ngài khóc bởi vì tất cả những gì đang hiện diện trước mắt bây giờ với sự uy nghi đồ sộ và huy hoàng của đền thờ, nhưng sẽ đến một ngày sẽ không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào.
Thực ra Chúa Giêsu khóc thương thành thánh không phải vì Ngài tiếc nuối một công trình kiến trúc vô cùng hoành tráng với 46 năm trường mới hoàn thành rồi sẽ bị tàn phá, nhưng Ngài khóc vì thấy cả một dân tộc Do Thái ưu tuyển đã bị cái vẻ hào nhoáng của đền thờ Giêrusalem che khuất, nên họ đã không nhận ra được một đền thờ sống động và đích thực đang hiện diện ở giữa họ : đó chính là sự hiện diện của Ngài.
Và còn bi thảm hơn nữa ở chỗ, chẳng những dân thành Giêrusalem đã tỏ ra đối kháng với sứ điệp bình an, không muốn đón nhận ơn cứu rỗi, mà họ còn quyết tâm tìm cách giết bằng được chính bản thân Chúa nữa.
Kính thưa…Từ những xúc động nghẹn ngào của Chúa Giêsu trước sự chối từ của dân thành Giêrusalem, chúng ta hãy suy nghĩ về chính thái độ sống của ta đối với Chúa. Ngày hôm nay Chúa Kitô vẫn còn đang tiếp tục gõ cửa tâm hồn chúng ta. Ngài muốn ấp ủ che chở chúng ta như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh. Ngài đang tha thiết nói với chúng ta qua tiếng nói âm thầm của Ngài, qua Thánh lễ mỗi ngày, qua các bí tích, qua sự hiện diện của mọi người, và nhất là qua những tiếng kêu than của những anh em đau khổ, hay những bạn bè của thiếu nhi chúng con gặp những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống cần chúng con nâng đỡ, cần chúng con an ủi và sẻ chia.
Thân phận đen tối của dân thành Giêrusalem ngày xưa cũng chính là thân phận đáng thương của mỗi người chúng ta hôm nay. Thiên Chúa đã yêu thương và tuyển chọn chúng ta làm con của Ngài, dù chúng ta hoàn toàn bất xứng. Nhưng chúng ta lại quay lưng lại với tình thương của Thiên Chúa, chúng ta vẫn thờ ơ lãnh đạm trước Lời Chúa, chúng ta vẫn phản bội với Chúa bằng đời sống tội lỗi của chúng ta... Trong tâm tình của những tuần lễ cuối năm phụng vụ, chúng ta hãy sám hối, chúng ta hãy thành tâm kiểm điểm đời sống để trở về với tình yêu của Chúa. Nhất là, giờ đây chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón nhận Chúa sẽ đến thăm viếng chúng ta nơi bàn tiệc thánh thể của Người. Amen.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

14/11. Thứ Bảy. Kn 18,14-16;19,6-9; Lc 18, 1-8
Bài Ðọc I - Kn 18,14-16;19,6-9
Ðang lúc yên tĩnh bao trùm vạn vật, và đêm đã tới nửa vòng xoay: từ vương toà trên trời cao, lời toàn năng của Chúa tựa như một dũng sĩ rắn rỏi xông tới giữa miền đất bị tiêu diệt, tựa như gươm bén mang mệnh lệnh cố định của Chúa, đứng sừng sững, đầu chạm trời, chân đạp đất, gieo chết chóc khắp muôn loài.
Và muôn loài được tác tạo như thuở ban đầu, phụng lệnh Chúa để gìn giữ thần dân Chúa được an toàn, vì Chúa đã khiến mây bao phủ trại binh họ, và từ nơi trước kia đầy nước, đã xuất hiện vùng đất ráo khô. Và giữa Biển Ðỏ đã xuất hiện một lối đi không có chướng ngại, và từ vực sâu xuất hiện một cánh đồng xanh tươi. Toàn dân được tay Chúa che chở, đi qua nơi ấy và chiêm ngưỡng những diệu kỳ phi thường của Chúa. Lạy Chúa, họ như đàn ngựa giữa bãi cỏ, như đoàn chiên nhảy mừng, họ tán dương Chúa, là Ðấng đã giải thoát họ.
Tin Mừng - Lc 18, 1-8
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng mà rằng:
"Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: "Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù". Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: "Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc".
Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"
Suy niệm
Những lời cầu nguyện của con người dâng lên Thiên Chúa đôi khi như trôi vào im lặng, chẳng có gì có thể cho thấy con người được Thiên Chúa nhậm lời. Tuy nhiên, qua bài Tin mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng, những lời cầu nguyện ấy Thiên Chúa Cha nhân từ đã nhậm lời rồi, nhưng cách đáp lại và ban ơn thì con người chưa thể nhận biết được.
Điều này càng rõ hơn khi chúng ta suy gẫm ở bài đọc I. Giữa không gian tĩnh lặng của canh tàn, lúc con người và vạn vật đều chìm sâu trong giấc ngủ thì Thiên Chúa đã ban lời của Người, lời đem lại sự giải thoát cách diệu kỳ. Lời đó làm bừng lên sức sống mãnh liệt, như ngựa chăn ngoài đồng, như chiên nhảy tung tăng. Và lúc đó dân của Nguời mới thấy được tình thương và uy quyền của Thiên Chúa mà họ tôn thờ, và toàn dân đã vang lời tán tụng.
Lạy Chúa, nhiều lúc chúng con nản chí khi những lời nguyện xin của mình trôi vào thinh lặng, nhiều lúc chúng con than phiền trách móc Chúa sao nỡ làm ngơ. Nhưng Lời Chúa ngày hôm nay đã củng cố đức tin cho chúng con rất nhiều. Chúa là người Cha nhân từ chẳng lẽ không yêu thương con cái của mình sao? Chính Chúa Giêsu đã bảo đảm điều đó cho chúng con: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”. Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin cho chúng con . Amen.

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

13/11. Thứ Sáu. Kn 13,1-9; Lc 17,26-37
Bài Ðọc I - Kn 13,1-9
Khờ dại thay tất cả những người không chịu nhận biết Chúa, và cả những người không biết căn cứ vào các sự vật hữu hình để tìm hiểu Ðấng Tự Hữu, và không chú ý đến các công trình để biết ai là Ðấng Hoá công. Nhưng họ kể lửa, gió, khí thiêng, bầu trời đầy tinh tú, nước lũ, mặt trời, mặt trăng là những thần minh bá chủ hoàn cầu. Nếu họ say mê vẻ đẹp của các vật đó mà kể chúng là chúa tể, thì phải biết rằng: Ðấng quản trị các vật đó còn tốt đẹp hơn bội phần, vì chính Ðấng tác sinh thiện mỹ, đã tạo thành mọi vật đó. Hoặc nếu họ ngạc nhiên về năng lực và kỳ công của những tạo vật đó, thì do đó họ phải hiểu rằng Ðấng đã tạo thành các vật đó, còn có quyền lực hơn nhiều, vì do sự cao sang tốt đẹp của tạo vật mà người ta có thể nhìn biết Ðấng tạo dựng mọi loài.
Dầu sao họ cũng không đáng trách mấy, vì chưng, có lẽ họ lầm trong khi tìm kiếm Chúa, và muốn gặp Người. Họ tìm kiếm, khi sống giữa các kỳ công của Chúa, nhưng họ ngộ nhận khi thấy các vật kia tốt đẹp.
Tuy vậy, chính họ cũng không đáng được tha thứ, vì nếu họ có khả năng nhận thức để truy tầm càn khôn, sao họ lại không nhận thấy cách dễ dàng hơn chính Chúa tể càn khôn?
Tin Mừng - Lc 17,26-37
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như sự kiện đã xảy ra thời Noe thế nào, thì trong ngày Con Người cũng xảy đến như vậy. Thiên hạ cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng, mãi cho tới ngày Noe vào tầu, rồi nước lụt đến tiêu diệt mọi người.
"Lại cũng như đã xảy ra thời ông Lót: người ta ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất, nhưng ngày ông Lót ra khỏi thành Sôđôma, thì trời liền mưa lửa và sinh diêm, tiêu diệt mọi người. Cũng sẽ xảy như thế trong ngày Con Người xuất hiện.
"Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà có đồ vật trong nhà, thì chớ xuống lấy đi; và ai ở ngoài đồng cũng đừng trở về. Các con hãy nhớ trường hợp vợ ông Lót. Ai lo cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất sự sống mình thì giữ được nó.
"Thầy bảo các con: Trong đêm ấy sẽ có hai người trên một giường, thì một người bị đem đi, và người kia sẽ được để lại. Hai phụ nữ xay cùng một cối, thì một người sẽ bị đem đi, còn người kia sẽ được để lại. Hai người ở ngoài đồng, thì một người bị đem đi, và người kia được để lại".
Các môn đệ thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, chuyện đó ở đâu vậy?" Người phán bảo các ông: "Xác ở đâu thì diều hâu tựu lại đó".
Suy niệm
Điều răn thứ nhất dạy phải thờ phượng Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự. Nghĩa là chúng ta chỉ thờ duy nhất một Thiên Chúa mà thôi, không được thờ các loài thụ tạo. Đó là thiên luật. Thế nhưng trong cuộc sống thường ngày nhiều người quên đi lời dạy này, thay vì thờ Thiên Chúa thì họ thờ tạo vật; thay vì tìm Thiên Chúa để thi hành Thánh ý Chúa thì họ chạy tìm tà thần và làm theo hướng dẫn của loài thụ tạo. Không phải họ không biết đó là sai, là nghịch điều Chúa dạy, nhưng họ cố tình làm chuyện đó: thờ tà thần, xem bói, đồng bóng.... Họ tin vào quyền lực tà thần hơn tin vào quyền năng Thiên Chúa. Họ chạy theo bò vàng và chối bỏ Đấng Tạo Thành nên họ. Chúa nói, những người đó cũng không đáng được tha thứ vì nếu họ có khả năng nhận thức để truy tầm càn khôn, sao họ lại không nhận thấy cách dễ dàng hơn chính Chúa Tể càn khôn.
Bài Tin mừng hôm nay cũng cho thấy rõ điều đó. Những người thời Noe, thời ông Lót đều say sưa “con bò vàng”, mê đắm các tạo vật mà không lo tìm thánh ý Thiên Chúa, và họ cũng không được tha bởi Thiên Chúa đã trừng trị họ bằng lụt hồng thủy và phải bị thiêu rụi trong mưa lửa và diêm sinh.
Cuộc sống chúng ta hôm nay cũng thế, nếu chúng ta lo chạy theo tạo vật mà không lo tìm Thánh ý Thiên Chúa thì chúng ta cũng chẳng được tha.
Lạy Chúa, xin mở đôi mắt đức tin của con để khi con ngắm xem tạo vật do Chúa dựng nên con biết ca tụng Chúa. Khi con ngắm những phát minh phi thường của thế giới này, con nhận ra được Chúa còn phi thường và quyền năng hơn biết mấy, nhờ đó con luôn phó thác và yêu mến Chúa hơn. Amen.

THỨ SÁU SAU CN 32 TN NĂM B

Trong những cuốn phim giả tưởng do trung tâm điện ảnh Holywood sản xuất trong thời gian gần đây, gây nhiều ấn tượng nhất có lẽ là cuốn phim: "Ngày Tận Cùng Của Trái Ðất". Cũng giống như thời Noê, chỉ có 50 người chuẩn bị kịp, họ đã đi vào trong một phi thuyền đặc biệt và tránh được thiên tai xẩy ra cho trái đất, họ đã đi đến một hành tinh khác, và như vậy bảo đảm cho sự trường tồn của nhân loại. Với những xảo thuật tân tiến, cuốn phim đã tạo ra những ấn tượng mạnh cho tất cả mọi người yêu mến điện ảnh. 
Tuy nhiên, cũng như tất cả những lời đe dọa do nhiều giáo phái tung ra, những hình ảnh của cuốn phim dù khủng khiếp đến đâu, cũng chỉ là những hình ảnh, nghĩa là mời gọi người xem, suy nghĩ về một thực tại khác sâu xa hơn, thường được gọi là thực tại cánh chung. Khi Thiên Chúa cho trận lụt hồng thủy xảy ra, Thiên Chúa đã cảnh tỉnh con người qua một thời gian lâu dài, người qua kẻ lại chứng kiến việc làm của cha con ông Noe đóng tầu, họ tỏ ra cười cợt chế diễu gia đình ông. Nhân loại vẫn sống trong vòng sa đọa, tội lỗi, và con người vẫn tiếp tục sống trong vòng trụy lạc. Rồi biến cố thời ông Lót cũng vậy, từ trời cao Thiên Chúa thấy con người lại tiếp tục sa vào chốn ăn chơi trụy lạc. Trước khi Thiên Chúa trừng phạt thành Sôđôma, Abraham đã xin Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu nếu trong thành có được 50 người công chính, thì xin Người nguôi giận và tha cho thành này, Abraham đã mạnh dạn thưa với Thiên Chúa nếu tìm được những người lành từ con số 50 người, xuống còn 45, rồi 30, 20 và sau cùng nếu ông tìm được 10 người công chính thì Người có sẵn sàng tha thứ không? Tình thương của Thiên Chúa vẫn dạt dào dành cho con người, nếu trong thành có được mười người công chính thì Người sẽ không thực hiện việc này nữa. Và kết quả, chúng ta đã biết quá rõ: Thành Sôđôm và Gômora đã bị hủy diệt.
Trải qua hơn hai ngàn năm, ơn cứu độ của Thiên Chúa đã đến, Ngôi Hai Thiên Chúa đã mang thân phận là một con người như chúng ta, Người sinh ra, cùng sống, cùng ăn, cùng lao động, ngủ nghỉ, cũng có lúc vui lúc buồn và Người đã chết vì tội của chúng ta. Thế nhưng, Chúa đã chiến thắng sự chết: Người đã Phục Sinh khải hoàn. Ơn cứu độ của Thiên Chúa đã hoàn thành để dành riêng cho nhân loại. Thế nhưng, con người vẫn ngoảnh mặt quay lưng, xem ơn cứu độ của Thiên Chúa là trừu tượng viễn vông, những lời cảnh tỉnh của Thiên Chúa như là lời đe dọa. Theo bảng thống kê dân số trên thế giới vào năm 2013 ước tính khoảng gần 8 tỷ người. Số tín hữu Công Giáo khoảng hơn 1,2 tỷ. Số nhưng người tin có Thiên Chúa theo các tôn giáo khác khoảng 2,5 tỷ. Con người vẫn miệt mài sống xa dần với Thiên Chúa, đôi khi còn bài xích bôi nhọ, vu khống đặt điều … xem Thiên Chúa là hư không xa vời viễn vông.
Bài tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa tiên báo ngày Người đến sẽ xảy ra như chuyện lụt hồng thủy và gia đình ông Noe được cứu, như chuyện hủy diệt thành Sôđôm và gia đình ông Lót được cứu nhưng vì vợ ông đã ngoảnh mặt ngó lại đã bị hóa thành tượng muối. Trong tâm tình của những tuần lễ cuối năm phụng vụ, chúng ta hãy hồi tâm nhìn lại cách sống của chính mình, chúng ta đã giữ đạo đúng với tinh thần giáo lý của đạo Chúa chưa? Hay chúng ta cũng như dân riêng của Thiên Chúa ngày trước, ăn chơi sa đọa, ham mê thú vui trần thế, xem cuộc sống vật chất hơn tinh thần đạo đức. Ngày nay trước một nền văn minh tiến bộ, con người chúng ta đang dần xa Chúa nhiều hơn qua những lôi cuốn cám dỗ của trần thế: cờ bạc, rượu chè, hút chích, hưởng thụ, sống ảo, cướp của, giết người, phá thai … Ngày Chúa tái lâm ngự đến, chúng ta luôn tin nhận và biết sẽ có ngày đó, “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.” (kinh tin kính), nhưng chúng ta không thể biết ngày đó đến vào thời điểm nào. Chính vì lẽ ấy, điều quan trọng hơn hết, chúng ta nên kiểm điểm lại cách giữ và sống đạo hiện tại chúng ta đang diễn tiến như thế nào: có đúng là một đời sống chính danh Kitô hữu hay chưa?
Xin Chúa giúp chúng con biết thành tâm nhìn lại chính mình, biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy. Sửa lại những thiếu sót của mỗi người chúng con. Để khi Chúa đến, chúng con sẽ là những thành viên được đứng trong hàng ngũ đón chào Chúa ngự đến, cùng hân hoan tiến vào đền thánh , tôn vinh chúc tụng Chúa muôn đời. Amen.

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

12/11. Thứ Năm. Kn 7,22-8,1; Lc 17,20-25
Bài Ðọc I - Kn 7,22-8,1
Trong sự khôn ngoan có tinh thần sáng suốt, thánh thiện, duy nhất, đa diện, tinh vi, lợi khẩu, linh động, tinh tuyền, chắc chắn, dịu dàng, phục thiện, sâu sắc, bất khuất, hào hiệp, nhân đạo, đại lượng, vững tâm, bền chí, vững chắc, bình thản, làm được mọi sự, kiểm soát hết thảy, thấu suốt mọi thần trí, những kẻ thông minh, những người thanh sạch và những người tế nhị. Sự khôn ngoan linh hoạt hơn mọi chuyển động, và vì trong sạch, nên thấu nhập mọi nơi.
Sự khôn ngoan là hơi thở của quyền năng Thiên Chúa, và là sự phát xuất tinh tuyền của vinh quang Thiên Chúa toàn năng; bởi thế không vật ô uế nào đụng tới được; sự khôn ngoan là phản ảnh của ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương vẹn tuyền của Uy quyền Thiên Chúa, và là hình ảnh lòng từ nhân của Người.
Tuy duy nhất, nhưng sự khôn ngoan có thể làm mọi sự, và dù bất biến, nhưng có thể canh tân mọi loài. Qua các thế hệ, sự khôn ngoan lan tràn trên các tâm hồn thánh thiện, làm cho các tâm hồn trở nên bạn hữu và tiên tri của Thiên Chúa.
Vì Chúa không yêu mến ai nếu không phải là kẻ ở với sự khôn ngoan. Khôn ngoan xinh đẹp hơn mặt trời, trổi vượt mọi tinh tú, và so với ánh sáng, nó còn trổi vượt hơn, vì ánh sáng có lúc phải nhường chỗ cho bóng tối, nhưng ngay cả gian ác cũng không thắng nổi sự khôn ngoan.
Vậy sự khôn ngoan đã lan tràn mạnh mẽ từ bờ cõi này đến bờ cõi kia, và hướng dẫn mọi loài cách khôn khéo.
Tin Mừng – Lc 17,20-25
Khi ấy, những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu "Khi nào nước Thiên Chúa đến", thì Người đáp lại rằng: "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: "Này nước trời ở đây hay ở kia". Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông". Chúa lại phán cùng các môn đệ rằng: "Sẽ có ngày các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy. Người ta sẽ bảo các con: "Này Người ở đây và này Người ở kia", các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm. Vì như chớp sáng loè từ chân trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ đến trong ngày của Người như vậy. Nhưng tiên vàn Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi".
Suy niệm
Những gì tinh túy nhất, tuyệt vời nhất đều có trong sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan hướng dẫn con người ta tìm về Thiên Chúa, tìm về Chân-Thiện-Mỹ. Sự khôn ngoan phản ánh chính Thiên Chúa trong cách sống của họ. Chính vì thế Salômon đã xin được sự khôn ngoan, và vì xin sự khôn ngoan cho nên Chúa ban cho ông có tất cả những thứ khác.
Nhưng điều quan trọng đó là, sự khôn ngoan này phải là sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa. Khôn ngoan tìm về Thiên Chúa. Khôn ngoan theo thánh ý Thiên Chúa chứ không phải khôn lanh, khôn lỏi, khôn theo con cái thế gian, khôn ngoan để luồng lách. Bởi vì khôn ngoan đó chỉ làm hại bản thân, làm hại tha nhân và làm xa lìa Thiên Chúa.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, người Biệt phái cũng dùng sự khôn ngoan của mình để làm khó Thiên Chúa khi hỏi: Khi nào Nước Thiên Chúa đến? Không một người khôn ngoan nào có thể biết được điều này.
Thế nhưng Đấng Khôn Ngoan thật đã trả lời thật khôn ngoan: Nước Thiên Chúa đang ở giữ các ông.
Người ta nghĩ rằng người khôn ngoan thật phải tìm Thiên Chúa trong những gì cao siêu nơi những người khác không thể biết. Nhưng khôn ngoan thật sự là khiêm nhường sống tốt các mối tương quan, làm tròn bổn phận. Khi sống như thế, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc trong cuộc sống và đang sống giữa thiên đường trần thế rồi.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn tìm đến Chúa là sự Khôn ngoan đích thực, để từ đó chúng con kín múc được sự khôn ngoan ấy để ứng xử tốt trong cuộc sống hàng ngày của chúng con. Amen.

Thứ Năm Tuần XXXII Thường Niên

(Lc 17, 20-25)
Trên thế giới hiện nay, con số các nhóm khủng bố có mầu sắc tôn giáo đang gia tăng đáng kể. Nổi bật nhất hiện nay đó là nhóm khủng bố tự xưng là nhà nước Hồi giáo cực đoan mang tên IS. Mới đây, vụ nổ máy bay của Nga làm 227 người chết có thể là nhóm khủng bố Hồi Giáo IS thực hiện vụ này. Mẫu số chung của các nhóm này đều tin vào ngày tận thế và chủ trương bạo động, vì các nhóm này tin rằng nhờ cuộc chiến tranh ở qui mô thế giới, họ sẽ được đưa vào Thiên Ðàng. Các giáo phái mong muốn ngày thế mạt đã khởi sắc tại Hoa Kỳ từ thế kỷ 19 và hiện nay vẫn còn thu hút nhiều tín đồ tin theo cách mù quáng. Tuy nhiên mới đây một số đã giải tán vì gây ra bạo động nên chính phủ cho cảnh sát đàn áp. Cách đây vài năm, một giáo phái tại Nam Hàn đã lôi kéo nhiều tín đồ tin theo, nhưng nhóm này cũng đã tự giải tán, vì ngày thế mạt họ chờ đợi là ngày 21.12.2012 vừa qua đã không xảy ra.
Tin vào ngày thế mạt, ngày tận thế, tức ngày Chúa lại đến trong vinh quang cũng là một xác tín trong niềm tin của Kitô giáo chúng ta. Hàng ngày, trong Thánh Lễ, sau khi bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa, Giáo Hội không ngừng nhắc nhở các tín hữu tuyên xưng: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến". 
Vâng! "Chúa lại đến", đó là xác tín của người Kitô hữu. Tuy nhiên, ngày đó có phải năm 2000, năm 2012, năm 3000 hay một thời điểm nhất định nào không? Năm 2000 đã qua, năm 2012 cũng đã qua mà chưa thấy tận thế. Năm 3000 thì chưa tới. Cái bí ẩn ấy không bao giờ được vén mở. Chúa Giêsu chỉ loan báo Ngài sẽ trở lại, nhưng không cho biết ngày giờ nào.
Trang TM chúng ta vừa nghe, khi người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giêsu bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Chúa Giêsu trả lời: “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được”. (Lc. 17, 20-21).Ngay thời ngôn sứ Đa-ni-en, dân Do thái đã bàn tán về ngày nước Thiên Chúa đến và sự chờ đợi cuồng nhiệt lan tràn khắp nước Ít-ra-en. Người ta khảo sát các điềm trời và các tai họa xảy ra. Họ tính toán khá thông thái để tiên báo về ngày giờ tận thế. Chúa Giêsu loan báo nước Thiên Chúa đã đến ngoài sức tính toán tự nhiên của con người, nên người biệt phái muốn hỏi Chúa Giêsu bao giờ triều đại Thiên Chúa đến là vậy.
Câu trả lời của Chúa Giêsu làm sửng sốt người biệt phái và những ai quan tâm tới ngày tận thế: Nước Thiên Chúa đến không ai có thể quan sát được. Tất cả mọi dấu chỉ loan báo và tính toán đều vô giá trị. Nước ấy đã đến mà người biệt phái không nhận ra vì con tim và lỗ tai của họ bị đóng kín, bị câm lặng. Thời cứu độ đã bắt đầu, nhưng những ai không đón tiếp Chúa Giêsu, tức là không thể nhận biết được nước Thiên Chúa.
Sau khi trả lời cho những kẻ không tin, Chúa Giêsu quay lại phía các môn đệ, các ông biết Chúa Giêsu đã đến phục hưng nước Thiên Chúa và Ngài phải trở lại để hoàn tất mọi sự. Ngài đã tiên báo cho các ông rằng trước ngày quang lâm sẽ xảy ra những khốn khổ, những ngày khủng khiếp làm mọi người xao xuyến lo âu. Lúc đó, họ không còn kiên nhẫn chờ đợi ngày Con Người trở lại và họ sẽ bị thôi thúc tìm dấu chỉ và tin những tiên tri giả. Họ sống giữa những cảnh buồn sầu khổ sở lớn lao rồi lại để mình bị loại bỏ.
Chính vì tính cách bất ngờ của Ngày Chúa đến, cho nên, người các tín hữu chúng ta ngày hôm nay phải tỉnh thức sẵn sàng. Tỉnh thức có nghĩa là dấn thân tích cực trong giây phút hiện tại, chứ không phải là ăn không ngồi rồi mà chờ đợi. Ðó cũng là giáo huấn của Chúa Giêsu mỗi khi Ngài nói đến Nước Thiên Chúa thời cánh chung: Nước Thiên Chúa sẽ thành tựu ở một thời điểm mà không ai biết trước được vào ngày Con Người sẽ quang lâm. 
Nguyện xin Chúa ban thêm niềm tin để mỗi người chúng ta biết kiên trì giữ vững đức tin Công Giáo, luôn luôn sẵn sàng tỉnh thức đón tiếp Con Người đến. Amen!

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Thứ Tư Tuần XXXII thường niên năm B

Lc 17,11-19
Có một gia đình kia, đến ngày sinh nhật của vợ của chồng hay của những đứa con trong gia đình, họ đều chuẩn bị sửa soạn để cho ngày sinh nhật diễn ra tốt đẹp và họ thuộc lòng ngày sinh nhật của nhau. Duy chỉ một người đang sống trong gia đình họ mà không ai nghĩ đến, không ai nhớ đến, đó là ông nội già yếu đang phải chống trả với những cơn đau nhói. Và cho đến một ngày - ngày ông nội mất.
Chồng hỏi vợ: Sinh nhật ông ngày nào?
Vợ hỏi lại chồng: Ngày nào là ngày sinh của ông?
Con cái hỏi cha mẹ: Ông sinh ngày tháng nào hả ba mẹ?
Vậy là tất cả mọi người phải tất bật đi tìm ngày sinh cho ông trong chứng minh nhân dân để làm bia mộ cho ông.
Đó là ngày sinh nhật đầu tiên và cuối cùng của ông mà mọi người nhớ đến.
Kính thưa…Sống trong cuộc đời, cám ơn người đã làm ơn cho mình là chuyện hết sức bình thường. Nhưng quên ơn người khác, đáng ra phải là chuyện bất thường, lại cũng trở nên hết sức bình thường. Con quên ơn cha mẹ. Trò quên ơn thầy cô. Bạn bè phụ bạc lẫn nhau. . . Có khi làm ơn mắc oán khiến chúng ta cũng ngại khi phải giúp đỡ ai!
Người Việt nam từ xưa đến nay vẫn quan niệm: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là tấm lòng biết ơn của người thụ ơn dành cho người làm ơn. Lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp. Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, và là phép xã giao hết sức bình thường của một con người. Sống trong cuộc sống hôm nay cần phải cư xử như vậy mới gọi là người biết điều. 
Đối lập với sự biết ơn, dân Việt chúng ta cũng có những câu nói diễn tả kẻ vô ơn: “Ăn cháo đá bát”. “Vắt chanh bỏ vỏ”. “Có trăng phụ đèn”. “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải”. 
Chúa Giêsu đã làm bao điều tốt đẹp cho người thời của Ngài. Nhưng ít khi Tân Ước nói đến chuyện họ cám ơn, mà Chúa Giêsu cũng chẳng bao giờ đòi ai cám ơn mình sau phép lạ. Bởi đó trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay thật độc đáo. Mười người phong ở với nhau trong một ngôi làng. Họ biết tiếng của Chúa Giêsu và biết cả tên của Ngài.Họ vui mừng thấy Ngài vào làng, nhưng họ chỉ được phép đứng xa xa.Tiếng kêu của họ vừa bi ai, vừa đầy hy vọng được chữa lành:“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!”. Họ đã tin tưởng, vâng phục, ra đi theo như lời dặn dò của Chúa, và được khỏi bệnh. Chỉ có một người, khi thấy mình được khỏi, liền quay lại. Anh ấy lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mình tạ ơn Chúa Giêsu.Đó không phải là người có đạo mà là một người Samaria , người ngoại giáo.
Chúa Giêsu đã nuối tiếc cách cư xử vô ơn của 9 người kia khi Ngài thốt lên:“Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Kính thưa…Lời tiếc xót này dường như cũng đang dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Có quá nhiều lần chúng ta nhận ơn nhưng lại thiếu lời cám ơn. Chúng ta còn thiếu quan tâm đến những người đã giúp đỡ chúng ta, đôi khi còn làm cho họ phiền lòng. Con cái làm phiền lòng cha mẹ mặc dù cha mẹ đã cả đời lam lũ vì con. Vợ chồng gây đau khổ cho nhau mặc dù họ đã dâng hiến cuộc đời cho ta. Bạn bè phụ ơn nhau mặc dầu những gì chúng ta có đều do bạn bè nâng đỡ, sẻ chia. Nhất là, chúng ta cũng từng quên ơn Chúa. Chúng ta đến xin ơn Chúa thì nhiều mà lại quên cám ơn Chúa. Đôi khi chúng ta còn tự cao tự đại nghĩ rằng những gì mình có là do tài năng của mình, thế nên, ta không cảm thấy hối hận vì quên cám ơn.
Lòng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con người. Đối với anh chị em, một tiếng nói “cám ơn” với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho cuộc sống chung thêm đẹp, thêm ý nghĩa. Còn đối với Thiên Chúa, Thánh Lễ chính là lời cám ơn tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể dâng lên Chúa vì thế chúng ta hãy siêng năng tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng.
Ước gì noi gương người Samaria , chúng ta biết nhìn ra ân huệ và tình thương của Thiên Chúa dành cho mình, để chúng ta cảm tạ tri ân Thiên Chúa, và tôn vinh tình thương Chúa. Xin cho chúng ta cũng biết nhận ra tình thương của tha nhân dành cho chúng ta, để chúng ta luôn sống tâm tình tri ân và đền đáp tình yêu. 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để cứu thoát chúng con phần xác phần hồn, chúng con không thể cám ơn Chúa cho xứng đáng. Xin Chúa cho chúng con sốt sắng thực hiện các việc đạo đức với tâm tình tạ ơn, vì mọi sự chúng con có là do Chúa ban cho, biết vượt qua mọi ràng buộc để chúng con được thờ phượng Chúa cách tự do cho phải đạo làm con, và tỏ lòng cám ơn Chúa, tôn vinh Chúa cho xứng đáng. Amen

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

11/11. Thứ Tư. Kn 6,1-11; Lc 17, 11-19
Bài Ðọc I - Kn 6,1-11
Hỡi các vua chúa, hãy nghe và hãy hiểu. Hỡi các thủ lãnh trần gian, hãy học biết. Hỡi các vị lãnh đạo quần chúng, các ngươi kiêu hãnh, vì dân các ngươi đông đảo, xin lắng nghe: Quyền bính của các ngươi là do Chúa ban, và uy lực của các ngươi cũng do Ðấng Tối Cao. Người sẽ chất vấn mọi hành động và kiểm soát những tư tưởng các ngươi. Vì nếu các ngươi là những quản lý nước Chúa mà không xét xử công minh, không giữ luật công bình, không sống theo thánh ý Thiên Chúa, thì Người sẽ xuất hiện trên các ngươi cách kinh hoàng mau lẹ. Vì đối với những kẻ cầm quyền, Người sẽ xét xử nghiêm nhặt. Ðối với những kẻ thấp hèn, thì Người sẽ thương xót, còn những người quyền thế, Người sẽ lấy quyền thế mà trừng trị. Thiên Chúa không lùi bước trước mặt ai, chẳng sợ chức bậc nào, vì kẻ hèn người sang đều do chính Người tác tạo, và Người săn sóc tất cả đồng đều. Nhưng Người sẽ xét xử nghiêm nhặt hạng quyền thế. Vậy hỡi các vua chúa, đây là lời ta nói với các ngươi, để các ngươi học biết sự khôn ngoan và khỏi sa ngã. Vì chưng, những ai kính cẩn nắm giữ những điều công chính, sẽ nên người công chính, và những ai học hỏi các điều này, sẽ biết cách trả lời. Vậy các ngươi hãy say mến lời ta, thì các ngươi sẽ được giáo huấn.
Tin Mừng - Lc 17, 11-19
Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người: Mà người ấy lại là người xứ Samaria. Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".
Suy niệm
Nếu các ngươi là những người quản lý nước Chúa mà không xét xử công minh, không giữ luật công bình, không sống theo thánh ý Thiện Chúa thì Người sẽ xuất hiện trên các ngươi cách kinh hoàng mau lẹ.
Đây không chỉ là lời cảnh cáo cho những người có quyền cao chức trọng, nhưng đây là lời cảnh cáo cho tất cả mọi Kitô hữu nói chung. Chúa sẽ xét xử khoan hồng cho những người thấp hèn, cho nhũng người không biết luật Chúa, nhưng Người sẽ đòi hỏi gắt gao nơi những người lãnh đạo, nơi những người đã thông hiểu luật Chúa, nhất là những ai biết luật mà phạm luật, mà làm ngơ trước việc phải làm, mà lơ là trong trách vụ, mà trở nên gương mù gương xấu cho người khác.
Bài Tin mừng hôm nay cũng thế, Chúa đề cao người phong cùi ngoại giáo hơn những người có đạo. Người có đạo hiểu luật, biết luật nhưng lại thiếu đi lòng biết ơn, thiếu khôn ngoan trong cách ứng xử nên Chúa đặt vấn đề: chín người có đạo kia đâu, sao chỉ có người ngoại giáo này?

Lạy Chúa,Chúa ban cho chúng con nhiều quyền cao chức trọng để lãnh đạo. Chúa ban cho con sự khôn ngoan để đào sâu thánh ý Chúa. Chúa ban cho con nhiều người hướng dẫn đời sống đức tin. Vậy mà nhiều lúc chúng con lơ là, chểnh mảng, bê trễ, lôi thôi trong chức vụ mình. Xin Chúa giúp chúng con ý thức lại cách sống, cách ứng xử để khỏi bị Chúa xét xử cách gắt gao trong ngày trình diện với Chúa.

Thứ Tư Tuần XXXII thường niên năm B

Lc 17,11-19
Có một gia đình kia, đến ngày sinh nhật của vợ của chồng hay của những đứa con trong gia đình, họ đều chuẩn bị sửa soạn để cho ngày sinh nhật diễn ra tốt đẹp và họ thuộc lòng ngày sinh nhật của nhau. Duy chỉ một người đang sống trong gia đình họ mà không ai nghĩ đến, không ai nhớ đến, đó là ông nội già yếu đang phải chống trả với những cơn đau nhói. Và cho đến một ngày - ngày ông nội mất.
Chồng hỏi vợ: Sinh nhật ông ngày nào?
Vợ hỏi lại chồng: Ngày nào là ngày sinh của ông?
Con cái hỏi cha mẹ: Ông sinh ngày tháng nào hả ba mẹ?
Vậy là tất cả mọi người phải tất bật đi tìm ngày sinh cho ông trong chứng minh nhân dân để làm bia mộ cho ông.
Đó là ngày sinh nhật đầu tiên và cuối cùng của ông mà mọi người nhớ đến.
Kính thưa…Sống trong cuộc đời, cám ơn người đã làm ơn cho mình là chuyện hết sức bình thường. Nhưng quên ơn người khác, đáng ra phải là chuyện bất thường, lại cũng trở nên hết sức bình thường. Con quên ơn cha mẹ. Trò quên ơn thầy cô. Bạn bè phụ bạc lẫn nhau. . . Có khi làm ơn mắc oán khiến chúng ta cũng ngại khi phải giúp đỡ ai!
Người Việt nam từ xưa đến nay vẫn quan niệm: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là tấm lòng biết ơn của người thụ ơn dành cho người làm ơn. Lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp. Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, và là phép xã giao hết sức bình thường của một con người. Sống trong cuộc sống hôm nay cần phải cư xử như vậy mới gọi là người biết điều. 
Đối lập với sự biết ơn, dân Việt chúng ta cũng có những câu nói diễn tả kẻ vô ơn: “Ăn cháo đá bát”. “Vắt chanh bỏ vỏ”. “Có trăng phụ đèn”. “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải”. 
Chúa Giêsu đã làm bao điều tốt đẹp cho người thời của Ngài. Nhưng ít khi Tân Ước nói đến chuyện họ cám ơn, mà Chúa Giêsu cũng chẳng bao giờ đòi ai cám ơn mình sau phép lạ. Bởi đó trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay thật độc đáo. Mười người phong ở với nhau trong một ngôi làng. Họ biết tiếng của Chúa Giêsu và biết cả tên của Ngài.Họ vui mừng thấy Ngài vào làng, nhưng họ chỉ được phép đứng xa xa.Tiếng kêu của họ vừa bi ai, vừa đầy hy vọng được chữa lành:“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!”. Họ đã tin tưởng, vâng phục, ra đi theo như lời dặn dò của Chúa, và được khỏi bệnh. Chỉ có một người, khi thấy mình được khỏi, liền quay lại. Anh ấy lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mình tạ ơn Chúa Giêsu.Đó không phải là người có đạo mà là một người Samaria, người ngoại giáo.
Chúa Giêsu đã nuối tiếc cách cư xử vô ơn của 9 người kia khi Ngài thốt lên:“Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Kính thưa…Lời tiếc xót này dường như cũng đang dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Có quá nhiều lần chúng ta nhận ơn nhưng lại thiếu lời cám ơn. Chúng ta còn thiếu quan tâm đến những người đã giúp đỡ chúng ta, đôi khi còn làm cho họ phiền lòng. Con cái làm phiền lòng cha mẹ mặc dù cha mẹ đã cả đời lam lũ vì con. Vợ chồng gây đau khổ cho nhau mặc dù họ đã dâng hiến cuộc đời cho ta. Bạn bè phụ ơn nhau mặc dầu những gì chúng ta có đều do bạn bè nâng đỡ, sẻ chia. Nhất là, chúng ta cũng từng quên ơn Chúa. Chúng ta đến xin ơn Chúa thì nhiều mà lại quên cám ơn Chúa. Đôi khi chúng ta còn tự cao tự đại nghĩ rằng những gì mình có là do tài năng của mình, thế nên, ta không cảm thấy hối hận vì quên cám ơn.
Lòng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con người. Đối với anh chị em, một tiếng nói “cám ơn” với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho cuộc sống chung thêm đẹp, thêm ý nghĩa. Còn đối với Thiên Chúa, Thánh Lễ chính là lời cám ơn tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể dâng lên Chúa vì thế chúng ta hãy siêng năng tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng.
Ước gì noi gương người Samaria, chúng ta biết nhìn ra ân huệ và tình thương của Thiên Chúa dành cho mình, để chúng ta cảm tạ tri ân Thiên Chúa, và tôn vinh tình thương Chúa. Xin cho chúng ta cũng biết nhận ra tình thương của tha nhân dành cho chúng ta, để chúng ta luôn sống tâm tình tri ân và đền đáp tình yêu. 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để cứu thoát chúng con phần xác phần hồn, chúng con không thể cám ơn Chúa cho xứng đáng. Xin Chúa cho chúng con sốt sắng thực hiện các việc đạo đức với tâm tình tạ ơn, vì mọi sự chúng con có là do Chúa ban cho, biết vượt qua mọi ràng buộc để chúng con được thờ phượng Chúa cách tự do cho phải đạo làm con, và tỏ lòng cám ơn Chúa, tôn vinh Chúa cho xứng đáng. Amen

Thứ Ba, tuần 32 mùa Thường Niên (Lc 17, 7-10)



Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau!”? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? Ðối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”
Suy niệm:
Ngày nay, với sự phát triển cao của khoa học kỹ thuật, kinh tế… con người có nhiều tiện nghi và hưởng thụ nhiều hơn. Nhưng đồng thời, cũng chính trong xã hội đó, con người ngày càng trở nên ích kỷ, tự mãn hơn với thành quả của mình, cái tôi được đề cao quá mức. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta nhìn cuộc đời như việc phục vụ; phục vụ Thiên Chúa và phục vụ nhau như một người “tôi tớ”.

Trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chính là Đấng Sáng Tạo, là Chúa của ta. Tất cả những gì chúng ta có: Thời gian, sức khỏe, tài năng, … đều là hồng ân Chúa ban cho và chúng ta phải sử dụng những hồng ân đó để phục vụ Chúa và tha nhân.

“Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10). Chúa dạy chúng ta khi làm việc và hoàn thành công việc cần ý thức rằng chúng ta là những “tôi tớ” và hơn thế nữa là “tôi tớ vô dụng” chỉ làm công việc bổn phận mà thôi. Trước khi dạy chúng ta làm như thế, chính Chúa Giê-su đã nêu gương sáng cho ta về sự phục vụ trong khiêm nhường, Chúa đã tự trở nên tôi tớ, tự xóa mình đi “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mt 21,33). Vì thế, khi hoàn thành công việc phục vụ, ta không tự hào về thành quả, không tự mãn về công trạng, cũng chẳng cao ngạo đòi Chúa phải thưởng công cho mình những quyền lợi hay phần thưởng đặc biệt xứng với công trạng của mình.

Chính khi tự đặt mình vào địa vị người “tôi tớ” và phục vụ trong sự khiêm tốn thẳm sâu, thì đó chính là lúc chúng ta đang sống và hành động theo cung cách mà Chúa dạy.

Lạy Chúa Giê-su, hôm nay Chúa dạy con biết được vị thế con, là “đầy tớ vô dụng”, chỉ làm công việc bổn phận của mình. Trong khi đó, rất nhiều khi con tự hào về con người, thành quả, công sức mình đóng góp cho Giáo hội và xã hội. Xin giúp con sống tinh thần tôi tớ, phục vụ trong khiêm nhường như Chúa dạy. Amen.



THỨ BA SAU CN 32 TN B

Lc 17,7-10
Nhân vật nổi tiếng trong Giáo Hội hiện nay được thế giới nhắc đến nhiều nhất, hẳn phải là Mẹ Têrêsa Calcutta, Mẹ đã được Đức Thánh GH Gioan Phaolô II phong lên hàng chân phước và là người đã được nhiều giải thưởng nhất : Đức Phaolô VI trao Mẹ giải Gioan XXIII vì hòa bình; Mẹ nhận giải thưởng Kennedy do chính phủ Hoa Kỳ tặng và tất cả số tiền nhận được, Mẹ đã dùng để xây dựng trung tâm Kennedy tại một khu ổ chuột ở ngoại ô Calcutta; tháng 12/1972 chính phủ Ấn nhìn nhận sự đóng góp của Mẹ và trao tặng Mẹ giải Nêru; nhưng đáng kể hơn vẫn là giải Nobel Hòa bình năm 1979, đây là giải thưởng đã làm cho tên tuổi Mẹ Têrêsa được cả thế giới biết đến. khi nhận được giải thưởng cao quí này, một viên chức chính phủ Ấn Độ đã gọi điện để chúc mừng, Mẹ đã trả lời: "Tất cả vì vinh quang Chúa".
Vâng, kính thưa…"Tất cả vì vinh quang Chúa", đó là động lực thúc đẩy Mẹ Têrêsa dấn thân phục vụ người nghèo trên khắp thế giới. Dù với bao nhiêu danh vọng và tiền bạc do các giải thưởng mang lại, nhưng Mẹ vẫn tiếp tục là một nữ tu hết sức khiêm tốn, nghèo khó, và làm việc âm thầm giữa những người nghèo khổ nhất. Với Mẹ Têrêsa, mỗi giải thưởng là một bàn đạp mới, một khởi đầu cho một công trình phục vụ to lớn hơn và làm cho nhiều người biết đến và ngợi khen Thiên Chúa nhiều hơn.
Qua cuộc đời của Mẹ Têrêsa, chắc chắn thế giới hiểu hơn về tinh thần phục vụ đích thực trong Giáo Hội. Một Giáo Hội càng phục vụ thì bộ mặt của Chúa Kitô phục vụ càng sáng hơn; trái lại, khuôn mặt của Chúa Kitô sẽ lu mờ đi, nếu Giáo Hội chưa thể hiện được tinh thần phục vụ đích thực của Ngài.
Trở lại trang TM hôm nay, lời khuyên của Chúa Giêsu có vẻ lạ tai. Ngài khuyên chúng ta hãy tự nhận mình là những người đầy tớ vô dụng, không làm được gì hơn là phận sự phải làm. Qua những lời ấy, phải chăng Chúa Giêsu có ý coi thường công lao phục vụ của chúng ta và không tôn trọng chúng ta cho đủ ? Hoàn toàn không, Ngài chỉ muốn thiết tha mời gọi chúng ta hãy có tinh thần khiêm tốn như Mẹ Têrêxa, và giống như Ngài trong khi làm công việc bác ái phục vụ. Ngài chỉ muốn vạch ra cho chúng ta con đường để chúng ta được nên giống như Ngài. Thật vậy, trước khi khuyên chúng ta sống như tôi tớ và tự nhận mình là tôi tớ vô dụng, chính Chúa Giêsu đã tự trở nên tôi tớ, tự xóa mình đi và không hề kể công trước mặt Cha trên trời. Làm được gì, nói được gì, Ngài cũng đều nhận là chính do bởi Cha mà Ngài làm hoặc nói như thế. Nối tiếp Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu còn nâng chúng ta lên hàng bạn hữu của Ngài, thậm chí đã làm tôi tớ cho chúng ta, tôn chúng ta lên hàng người chủ của Ngài. Đó là điều Ngài đích thân thực hiện trong quãng đời tại thế và nhất là trong cuộc đau khổ nạn của Ngài: Ngài đã đến, không phải để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ (Mt 20,28).
Đặc biệt, mỗi khi Thánh lễ được cử hành, chúng ta lại thấy chúng ta đúng là những vị khách quí, những người chủ được Chúa Giêsu phục dịch bằng cách thí mạng sống Ngài và trở nên bánh nuôi dưỡng chúng ta. Đây lại là lúc Ngài tự hủy chính mình, trở thành tôi tớ vì chúng ta. Gương mẫu đó của Ngài thôi thúc chúng ta phải trở nên khiêm tốn hơn trong khi phục vụ Thiên Chúa và anh chị em mình, đồng thời khích lệ chúng ta trong việc coi thường mọi tước vị vinh hoa của thế gian, để chọn suốt làm đầy tớ cho Thiên Chúa. Amen.


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Nghe Thánh lễ kỷ niệm cung hiến Thánh Đường Latêranô

tại Giáo xứ Hà Đông, hạt Xóm Mới, Sài Gòn


Thứ Hai, 09/11 : Lễ cung hiến đền thờ Latêranô (Ga 2, 13-22)


Vương cung thánh đường Gioan Latêranô chính là nhà thờ chính tòa của giáo phận Rôma, ở đó có ngai tòa của Đức Giáo hoàng, đấng kế vị thánh Phêrô và cũng là đại diện của Chúa Kitô. Do vậy vương cung thánh đường này được gọi là nhà thờ mẹ của tất cả các nhà thờ khắp mọi nơi trên thế giới. Trong lịch phụng vụ, lễ cung hiến đền thờ Latêranô được xếp vào bậc lễ kính ngày 09/11 hàng năm.

Nơi thờ phượng nói chung đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi kitô hữu. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay, cuộc đời họ gắn liền với nơi này. Ngoài việc cử hành các bí tích, nguồn ân sủng cần thiết cho đời sống đức tin, thánh đường còn là nơi cầu nguyện. Chính Đức Giêsu cũng rất hay lui tới hội đường để cầu nguyện với những người Do thái. Ngài cũng giữ đều đăn tập tục hành hương đền thờ Giêrusalem ngay từ khi còn niên thiếu.

Một mặt, Đức Giêsu rất đề cao nơi thánh thiêng. Chính vì thế, khi thấy con người biến nhà Chúa thành nơi buôn bán và tục hóa, Ngài đã quyết thanh tẩy đền thờ bằng cách đánh đuổi họ ra khỏi chốn này để trả lại nguyên hiện trạng cho nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa.

Mặt khác, Ngài cũng nhắc nhở mọi người hãy chú trọng đến thân xác, đền thờ của Chúa Thánh Thần, nơi Thiên Chúa Ba Ngôi ngự. Điều này nhắc nhở mỗi kitô hữu cần phải gìn giữ thân xác, lời ăn tiếng nói, cũng như tư tưởng và hành động sao cho luôn luôn hợp với giới răn của Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.

Mừng lễ cung hiến đền thánh Latêranô, xin Đức Giêsu ban Thánh Thần của Ngài cho mỗi tín hữu chúng ta để biết chống lại các thói hư tật xấu và tiến tới trên đường nhân đức ngõ hầu thân xác chúng ta luôn xứng đáng là nơi Chúa Ba Ngôi ngự. 

Bài Giảng Chúa Nhật XXXII Thường Niên B - Giáo xứ Thánh Tâm, Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc

CN TUẦN 32 TN B



1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tôn vinh/ ca ngợi bà góa thành Xarepta và bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem. Bà góa thành Xarepta là một người ngoại đã đem nước và bánh cho tiên tri Elia dùng trước khi làm bánh cho bà và con trai bà ăn rồi chết vì hạn hán đói kém. Bà góa tại đền thờ Giêsusalem đã dâng cho đền thờ hai đồng tiền kẽm trị giá bằng một phần tư đồng xu Roma, nhưng lại là tất cả những gì bà có để nuôi thân. Các bà được ca ngợi/ tôn vinh vì nhiều lý do, song chúng ta có thể cùng nhau suy nghĩ ba lý do chính yếu sau đây.

Trước hết, các bà được ca ngợi vì các bà có tấm lòng rộng rãi đối với tha nhân. Bà góa thành Xarepta rất nghèo, nghèo đến nỗi không đủ bột làm bánh và dầu để nuôi sống bà và con trai. Bà chỉ còn một nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đi lượm vài thanh củi, về nấu nướng để hai mẹ con ăn rồi chết. Vậy mà khi được tiên tri Elia yêu cầu đem cho ông một chút nước uống và một miếng bánh để ông ăn uống, bà đã không ngại làm như vậy sau khi đã được ông giải thích “vì Thiên Chúa đã phán hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Tấm lòng của bà thật lớn lao! Bà đã không nghĩ đến mình trước, nhưng nghĩ đến và làm cho người khác trước, cụ thể là bà đã đem nước và làm bánh đem đến cho Elia, người của Thiên Chúa. Bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem cũng vậy, nghèo thật nghèo, nghèo đến nỗi chỉ còn vẻn vẹn hai đồng kẽm, là tất cả những gì bà có để nuôi thân, nhưng bà sẵn sàng bỏ vào đền thờ vì biết rằng các tư tế cũng được chia sẻ những gì người ta đóng góp cho đền thờ, nhất là những lễ vật vì “người làm việc cho Chúa thì đáng hưởng công”.

Thứ đến, các bà được tôn vinh vì các bà có tấm lòng tin tưởng và tín thác tuyệt vời vào Thiên Chúa. Bà góa thành Xarepta là người ngoại, nhưng đã trả lời tiên tri Elia bằng một câu đầy tin tưởng như một người Do Thái thứ thiệt đã từng tin và sống cho Thiên Chúa “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò.” Niềm tin của bà còn được thể hiện rõ hơn khi bà mau mắn làm theo lời Elia sau khi được nghe lời của Thiên Chúa qua miệng Elia “Chúa của Israel phán thế này: hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Niềm tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa của bà góa Do Thái tại đền thờ còn mãnh liệt hơn. Bà đã dâng cho đền thờ tất cả những gì bà có để nuôi thân vì nghĩ rằng đền thờ hay Thiên Chúa thì quan trong hơn cuộc sống của bà. Bà chẳng nghĩ nay ăn gì, ngày mai sẽ sống ra sao, nhưng phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Cuộc đời bà thế nào cũng được miễn là đẹp lòng Chúa. Bà  khác hẳn với những người Do Thái giàu có. Bà không cho đi tiền dư bạc thừa, nhưng cho đi tất cả, cho đi chính mình. Niềm tin của bà thật lớn lao, thật vĩ đại dường bao!

Sau cùng, các bà được khen ngợi bởi vì tấm lòng rộng rãi của các bà đối với nhà Chúa, đối với công việc của Chúa. Bà góa thành Xarepta nhận ra Elia là người của Chúa đang thực thi công việc của Chúa. Vì thế, khi được người của Chúa yêu cầu hành động, bà đã mau mắn làm theo để kế hoạch của Chúa được thực hiện. Elia bảo bà đem chút nước ông, bà đã đem nước cho ông. Elia bảo bà đem đến cho ông miếng bánh bà đã đi làm bánh và đem đến cho vị tiên tri. Bà góa Do Thái cũng thế, chỉ có chút tiền làm của nuôi sống mình, vậy mà khi nhà Chúa, đền thờ cần, bà đã dâng hết sạch. Chính Đức Giêsu khi quan sát người ta dâng cúng cho đền thờ và thấy bà bỏ tiền vào thùng đã phải khen ngợi bà với các môn đệ “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ bào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.” Như thế, đối với Đức Giêsu, tiêu chuẩn đánh giá không theo số lượng hay giá trị tài sản bỏ vào nhà thờ, nhưng theo tỷ lệ những gì người ta có. Bà góa chỉ bỏ 2 đồng kẽm, nhưng là tất cả tài sản của bà, thậm chí là chính sự sống của bà. Bà đã bỏ nhiều nhất, thật đáng ca ngợi!

Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là người quảng đại với Chúa, với tha nhân và tín thác vào Thiên Chúa, sẽ được gì? Chắc chắn là những phần thưởng vô cùng lớn lao. Bà góa thành Xarepta đã vượt qua thời kỳ hạn hán và đói kém, mạng sống của bà và con trai bà được bảo đảm “Bà ấy đi và làm như ông Elia nói; thế là bà ấy cùng với Elia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ hột đã không vơi, và vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Elia và phán.” Phần thưởng bà góa nghèo Do Thái cho dù không được nói rõ trong đoạn Tin Mừng, nhưng chúng ta có thể hiểu được từ phần đầu của đoạn Tin Mừng “Những người ấy (những kinh sư thích được vinh dự nơi đám đông, chiếm ghế dự trong hội đường, đám tiệc, nuốt hết tài sản của các bà góa, thích đọc kinh lâu giờ) sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Thay vì bị kết án nghiêm khắc, những người có tấm lòng rộng rãi với Chúa và công việc của Chúa, biết tín thác trọn vẹn vào Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng, nhưng sẽ được cứu độ vì những gì họ làm là dấu hiệu của những kẻ đợi trông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô, mà kẻ đợi trông ơn cứu độ với cả niềm tin bao giờ cũng sẽ thỏa lòng ước mong.

Anh chị em thân mến,

Suy nghĩ về mẫu gương hai bà góa được Lời Chúa ca ngợi hôm, tôi tự hỏi:  Tôi đã rộng lượng với Chúa, với công việc của Chúa và với người của Chúa chưa? Mỗi khi Chúa mời gọi tôi làm gì, tôi có tính toán thiệt hơn với Chúa không? Tôi dâng cho Chúa điều tôi cần hay cái tôi dư thừa? Tôi cho nhiều hay chỉ cho chút ít những thứ không quan trọng với tôi? Tôi có dám tín thác và để Chúa lo liệu hay cậy dựa vào của cải vật chất, khả năng bản thân, địa vị tôi đang nắm giữ hay vào ai khác như: vị bảo trợ hay một người quyền thế và giàu có? Thật ra, rất nhiều lần chúng ta hẹp hòi và tính toán với Chúa, với công việc của Chúa và với người khác. Chúng ta chẳng dám quảng đại đóng góp cho Giáo Hội, cho công việc của Chúa bao giờ vì sợ thiệt thòi, sợ khó khăn, sợ nghèo đi, sợ không ai bảo đảm cuộc sống cho mình, trong khi Chúa vẫn ở phía trước chờ đợi, yêu thương, và lo liệu mọi thứ cho chúng ta. Ngài không những cho ta đủ thứ ở đời này mà còn muốn trao ban cho ta cả hạnh phúc Nước Trời mai sau. Xin Chúa cho chúng ta luôn quảng đại với Chúa và tha nhân trong niềm tín thác hoàn toàn vào Chúa. Amen.