Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

12/11. Thứ Năm. Kn 7,22-8,1; Lc 17,20-25
Bài Ðọc I - Kn 7,22-8,1
Trong sự khôn ngoan có tinh thần sáng suốt, thánh thiện, duy nhất, đa diện, tinh vi, lợi khẩu, linh động, tinh tuyền, chắc chắn, dịu dàng, phục thiện, sâu sắc, bất khuất, hào hiệp, nhân đạo, đại lượng, vững tâm, bền chí, vững chắc, bình thản, làm được mọi sự, kiểm soát hết thảy, thấu suốt mọi thần trí, những kẻ thông minh, những người thanh sạch và những người tế nhị. Sự khôn ngoan linh hoạt hơn mọi chuyển động, và vì trong sạch, nên thấu nhập mọi nơi.
Sự khôn ngoan là hơi thở của quyền năng Thiên Chúa, và là sự phát xuất tinh tuyền của vinh quang Thiên Chúa toàn năng; bởi thế không vật ô uế nào đụng tới được; sự khôn ngoan là phản ảnh của ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương vẹn tuyền của Uy quyền Thiên Chúa, và là hình ảnh lòng từ nhân của Người.
Tuy duy nhất, nhưng sự khôn ngoan có thể làm mọi sự, và dù bất biến, nhưng có thể canh tân mọi loài. Qua các thế hệ, sự khôn ngoan lan tràn trên các tâm hồn thánh thiện, làm cho các tâm hồn trở nên bạn hữu và tiên tri của Thiên Chúa.
Vì Chúa không yêu mến ai nếu không phải là kẻ ở với sự khôn ngoan. Khôn ngoan xinh đẹp hơn mặt trời, trổi vượt mọi tinh tú, và so với ánh sáng, nó còn trổi vượt hơn, vì ánh sáng có lúc phải nhường chỗ cho bóng tối, nhưng ngay cả gian ác cũng không thắng nổi sự khôn ngoan.
Vậy sự khôn ngoan đã lan tràn mạnh mẽ từ bờ cõi này đến bờ cõi kia, và hướng dẫn mọi loài cách khôn khéo.
Tin Mừng – Lc 17,20-25
Khi ấy, những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu "Khi nào nước Thiên Chúa đến", thì Người đáp lại rằng: "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: "Này nước trời ở đây hay ở kia". Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông". Chúa lại phán cùng các môn đệ rằng: "Sẽ có ngày các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy. Người ta sẽ bảo các con: "Này Người ở đây và này Người ở kia", các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm. Vì như chớp sáng loè từ chân trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ đến trong ngày của Người như vậy. Nhưng tiên vàn Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi".
Suy niệm
Những gì tinh túy nhất, tuyệt vời nhất đều có trong sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan hướng dẫn con người ta tìm về Thiên Chúa, tìm về Chân-Thiện-Mỹ. Sự khôn ngoan phản ánh chính Thiên Chúa trong cách sống của họ. Chính vì thế Salômon đã xin được sự khôn ngoan, và vì xin sự khôn ngoan cho nên Chúa ban cho ông có tất cả những thứ khác.
Nhưng điều quan trọng đó là, sự khôn ngoan này phải là sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa. Khôn ngoan tìm về Thiên Chúa. Khôn ngoan theo thánh ý Thiên Chúa chứ không phải khôn lanh, khôn lỏi, khôn theo con cái thế gian, khôn ngoan để luồng lách. Bởi vì khôn ngoan đó chỉ làm hại bản thân, làm hại tha nhân và làm xa lìa Thiên Chúa.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, người Biệt phái cũng dùng sự khôn ngoan của mình để làm khó Thiên Chúa khi hỏi: Khi nào Nước Thiên Chúa đến? Không một người khôn ngoan nào có thể biết được điều này.
Thế nhưng Đấng Khôn Ngoan thật đã trả lời thật khôn ngoan: Nước Thiên Chúa đang ở giữ các ông.
Người ta nghĩ rằng người khôn ngoan thật phải tìm Thiên Chúa trong những gì cao siêu nơi những người khác không thể biết. Nhưng khôn ngoan thật sự là khiêm nhường sống tốt các mối tương quan, làm tròn bổn phận. Khi sống như thế, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc trong cuộc sống và đang sống giữa thiên đường trần thế rồi.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn tìm đến Chúa là sự Khôn ngoan đích thực, để từ đó chúng con kín múc được sự khôn ngoan ấy để ứng xử tốt trong cuộc sống hàng ngày của chúng con. Amen.

Thứ Năm Tuần XXXII Thường Niên

(Lc 17, 20-25)
Trên thế giới hiện nay, con số các nhóm khủng bố có mầu sắc tôn giáo đang gia tăng đáng kể. Nổi bật nhất hiện nay đó là nhóm khủng bố tự xưng là nhà nước Hồi giáo cực đoan mang tên IS. Mới đây, vụ nổ máy bay của Nga làm 227 người chết có thể là nhóm khủng bố Hồi Giáo IS thực hiện vụ này. Mẫu số chung của các nhóm này đều tin vào ngày tận thế và chủ trương bạo động, vì các nhóm này tin rằng nhờ cuộc chiến tranh ở qui mô thế giới, họ sẽ được đưa vào Thiên Ðàng. Các giáo phái mong muốn ngày thế mạt đã khởi sắc tại Hoa Kỳ từ thế kỷ 19 và hiện nay vẫn còn thu hút nhiều tín đồ tin theo cách mù quáng. Tuy nhiên mới đây một số đã giải tán vì gây ra bạo động nên chính phủ cho cảnh sát đàn áp. Cách đây vài năm, một giáo phái tại Nam Hàn đã lôi kéo nhiều tín đồ tin theo, nhưng nhóm này cũng đã tự giải tán, vì ngày thế mạt họ chờ đợi là ngày 21.12.2012 vừa qua đã không xảy ra.
Tin vào ngày thế mạt, ngày tận thế, tức ngày Chúa lại đến trong vinh quang cũng là một xác tín trong niềm tin của Kitô giáo chúng ta. Hàng ngày, trong Thánh Lễ, sau khi bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa, Giáo Hội không ngừng nhắc nhở các tín hữu tuyên xưng: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến". 
Vâng! "Chúa lại đến", đó là xác tín của người Kitô hữu. Tuy nhiên, ngày đó có phải năm 2000, năm 2012, năm 3000 hay một thời điểm nhất định nào không? Năm 2000 đã qua, năm 2012 cũng đã qua mà chưa thấy tận thế. Năm 3000 thì chưa tới. Cái bí ẩn ấy không bao giờ được vén mở. Chúa Giêsu chỉ loan báo Ngài sẽ trở lại, nhưng không cho biết ngày giờ nào.
Trang TM chúng ta vừa nghe, khi người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giêsu bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Chúa Giêsu trả lời: “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được”. (Lc. 17, 20-21).Ngay thời ngôn sứ Đa-ni-en, dân Do thái đã bàn tán về ngày nước Thiên Chúa đến và sự chờ đợi cuồng nhiệt lan tràn khắp nước Ít-ra-en. Người ta khảo sát các điềm trời và các tai họa xảy ra. Họ tính toán khá thông thái để tiên báo về ngày giờ tận thế. Chúa Giêsu loan báo nước Thiên Chúa đã đến ngoài sức tính toán tự nhiên của con người, nên người biệt phái muốn hỏi Chúa Giêsu bao giờ triều đại Thiên Chúa đến là vậy.
Câu trả lời của Chúa Giêsu làm sửng sốt người biệt phái và những ai quan tâm tới ngày tận thế: Nước Thiên Chúa đến không ai có thể quan sát được. Tất cả mọi dấu chỉ loan báo và tính toán đều vô giá trị. Nước ấy đã đến mà người biệt phái không nhận ra vì con tim và lỗ tai của họ bị đóng kín, bị câm lặng. Thời cứu độ đã bắt đầu, nhưng những ai không đón tiếp Chúa Giêsu, tức là không thể nhận biết được nước Thiên Chúa.
Sau khi trả lời cho những kẻ không tin, Chúa Giêsu quay lại phía các môn đệ, các ông biết Chúa Giêsu đã đến phục hưng nước Thiên Chúa và Ngài phải trở lại để hoàn tất mọi sự. Ngài đã tiên báo cho các ông rằng trước ngày quang lâm sẽ xảy ra những khốn khổ, những ngày khủng khiếp làm mọi người xao xuyến lo âu. Lúc đó, họ không còn kiên nhẫn chờ đợi ngày Con Người trở lại và họ sẽ bị thôi thúc tìm dấu chỉ và tin những tiên tri giả. Họ sống giữa những cảnh buồn sầu khổ sở lớn lao rồi lại để mình bị loại bỏ.
Chính vì tính cách bất ngờ của Ngày Chúa đến, cho nên, người các tín hữu chúng ta ngày hôm nay phải tỉnh thức sẵn sàng. Tỉnh thức có nghĩa là dấn thân tích cực trong giây phút hiện tại, chứ không phải là ăn không ngồi rồi mà chờ đợi. Ðó cũng là giáo huấn của Chúa Giêsu mỗi khi Ngài nói đến Nước Thiên Chúa thời cánh chung: Nước Thiên Chúa sẽ thành tựu ở một thời điểm mà không ai biết trước được vào ngày Con Người sẽ quang lâm. 
Nguyện xin Chúa ban thêm niềm tin để mỗi người chúng ta biết kiên trì giữ vững đức tin Công Giáo, luôn luôn sẵn sàng tỉnh thức đón tiếp Con Người đến. Amen!

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Thứ Tư Tuần XXXII thường niên năm B

Lc 17,11-19
Có một gia đình kia, đến ngày sinh nhật của vợ của chồng hay của những đứa con trong gia đình, họ đều chuẩn bị sửa soạn để cho ngày sinh nhật diễn ra tốt đẹp và họ thuộc lòng ngày sinh nhật của nhau. Duy chỉ một người đang sống trong gia đình họ mà không ai nghĩ đến, không ai nhớ đến, đó là ông nội già yếu đang phải chống trả với những cơn đau nhói. Và cho đến một ngày - ngày ông nội mất.
Chồng hỏi vợ: Sinh nhật ông ngày nào?
Vợ hỏi lại chồng: Ngày nào là ngày sinh của ông?
Con cái hỏi cha mẹ: Ông sinh ngày tháng nào hả ba mẹ?
Vậy là tất cả mọi người phải tất bật đi tìm ngày sinh cho ông trong chứng minh nhân dân để làm bia mộ cho ông.
Đó là ngày sinh nhật đầu tiên và cuối cùng của ông mà mọi người nhớ đến.
Kính thưa…Sống trong cuộc đời, cám ơn người đã làm ơn cho mình là chuyện hết sức bình thường. Nhưng quên ơn người khác, đáng ra phải là chuyện bất thường, lại cũng trở nên hết sức bình thường. Con quên ơn cha mẹ. Trò quên ơn thầy cô. Bạn bè phụ bạc lẫn nhau. . . Có khi làm ơn mắc oán khiến chúng ta cũng ngại khi phải giúp đỡ ai!
Người Việt nam từ xưa đến nay vẫn quan niệm: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là tấm lòng biết ơn của người thụ ơn dành cho người làm ơn. Lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp. Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, và là phép xã giao hết sức bình thường của một con người. Sống trong cuộc sống hôm nay cần phải cư xử như vậy mới gọi là người biết điều. 
Đối lập với sự biết ơn, dân Việt chúng ta cũng có những câu nói diễn tả kẻ vô ơn: “Ăn cháo đá bát”. “Vắt chanh bỏ vỏ”. “Có trăng phụ đèn”. “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải”. 
Chúa Giêsu đã làm bao điều tốt đẹp cho người thời của Ngài. Nhưng ít khi Tân Ước nói đến chuyện họ cám ơn, mà Chúa Giêsu cũng chẳng bao giờ đòi ai cám ơn mình sau phép lạ. Bởi đó trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay thật độc đáo. Mười người phong ở với nhau trong một ngôi làng. Họ biết tiếng của Chúa Giêsu và biết cả tên của Ngài.Họ vui mừng thấy Ngài vào làng, nhưng họ chỉ được phép đứng xa xa.Tiếng kêu của họ vừa bi ai, vừa đầy hy vọng được chữa lành:“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!”. Họ đã tin tưởng, vâng phục, ra đi theo như lời dặn dò của Chúa, và được khỏi bệnh. Chỉ có một người, khi thấy mình được khỏi, liền quay lại. Anh ấy lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mình tạ ơn Chúa Giêsu.Đó không phải là người có đạo mà là một người Samaria , người ngoại giáo.
Chúa Giêsu đã nuối tiếc cách cư xử vô ơn của 9 người kia khi Ngài thốt lên:“Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Kính thưa…Lời tiếc xót này dường như cũng đang dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Có quá nhiều lần chúng ta nhận ơn nhưng lại thiếu lời cám ơn. Chúng ta còn thiếu quan tâm đến những người đã giúp đỡ chúng ta, đôi khi còn làm cho họ phiền lòng. Con cái làm phiền lòng cha mẹ mặc dù cha mẹ đã cả đời lam lũ vì con. Vợ chồng gây đau khổ cho nhau mặc dù họ đã dâng hiến cuộc đời cho ta. Bạn bè phụ ơn nhau mặc dầu những gì chúng ta có đều do bạn bè nâng đỡ, sẻ chia. Nhất là, chúng ta cũng từng quên ơn Chúa. Chúng ta đến xin ơn Chúa thì nhiều mà lại quên cám ơn Chúa. Đôi khi chúng ta còn tự cao tự đại nghĩ rằng những gì mình có là do tài năng của mình, thế nên, ta không cảm thấy hối hận vì quên cám ơn.
Lòng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con người. Đối với anh chị em, một tiếng nói “cám ơn” với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho cuộc sống chung thêm đẹp, thêm ý nghĩa. Còn đối với Thiên Chúa, Thánh Lễ chính là lời cám ơn tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể dâng lên Chúa vì thế chúng ta hãy siêng năng tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng.
Ước gì noi gương người Samaria , chúng ta biết nhìn ra ân huệ và tình thương của Thiên Chúa dành cho mình, để chúng ta cảm tạ tri ân Thiên Chúa, và tôn vinh tình thương Chúa. Xin cho chúng ta cũng biết nhận ra tình thương của tha nhân dành cho chúng ta, để chúng ta luôn sống tâm tình tri ân và đền đáp tình yêu. 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để cứu thoát chúng con phần xác phần hồn, chúng con không thể cám ơn Chúa cho xứng đáng. Xin Chúa cho chúng con sốt sắng thực hiện các việc đạo đức với tâm tình tạ ơn, vì mọi sự chúng con có là do Chúa ban cho, biết vượt qua mọi ràng buộc để chúng con được thờ phượng Chúa cách tự do cho phải đạo làm con, và tỏ lòng cám ơn Chúa, tôn vinh Chúa cho xứng đáng. Amen

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

11/11. Thứ Tư. Kn 6,1-11; Lc 17, 11-19
Bài Ðọc I - Kn 6,1-11
Hỡi các vua chúa, hãy nghe và hãy hiểu. Hỡi các thủ lãnh trần gian, hãy học biết. Hỡi các vị lãnh đạo quần chúng, các ngươi kiêu hãnh, vì dân các ngươi đông đảo, xin lắng nghe: Quyền bính của các ngươi là do Chúa ban, và uy lực của các ngươi cũng do Ðấng Tối Cao. Người sẽ chất vấn mọi hành động và kiểm soát những tư tưởng các ngươi. Vì nếu các ngươi là những quản lý nước Chúa mà không xét xử công minh, không giữ luật công bình, không sống theo thánh ý Thiên Chúa, thì Người sẽ xuất hiện trên các ngươi cách kinh hoàng mau lẹ. Vì đối với những kẻ cầm quyền, Người sẽ xét xử nghiêm nhặt. Ðối với những kẻ thấp hèn, thì Người sẽ thương xót, còn những người quyền thế, Người sẽ lấy quyền thế mà trừng trị. Thiên Chúa không lùi bước trước mặt ai, chẳng sợ chức bậc nào, vì kẻ hèn người sang đều do chính Người tác tạo, và Người săn sóc tất cả đồng đều. Nhưng Người sẽ xét xử nghiêm nhặt hạng quyền thế. Vậy hỡi các vua chúa, đây là lời ta nói với các ngươi, để các ngươi học biết sự khôn ngoan và khỏi sa ngã. Vì chưng, những ai kính cẩn nắm giữ những điều công chính, sẽ nên người công chính, và những ai học hỏi các điều này, sẽ biết cách trả lời. Vậy các ngươi hãy say mến lời ta, thì các ngươi sẽ được giáo huấn.
Tin Mừng - Lc 17, 11-19
Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người: Mà người ấy lại là người xứ Samaria. Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".
Suy niệm
Nếu các ngươi là những người quản lý nước Chúa mà không xét xử công minh, không giữ luật công bình, không sống theo thánh ý Thiện Chúa thì Người sẽ xuất hiện trên các ngươi cách kinh hoàng mau lẹ.
Đây không chỉ là lời cảnh cáo cho những người có quyền cao chức trọng, nhưng đây là lời cảnh cáo cho tất cả mọi Kitô hữu nói chung. Chúa sẽ xét xử khoan hồng cho những người thấp hèn, cho nhũng người không biết luật Chúa, nhưng Người sẽ đòi hỏi gắt gao nơi những người lãnh đạo, nơi những người đã thông hiểu luật Chúa, nhất là những ai biết luật mà phạm luật, mà làm ngơ trước việc phải làm, mà lơ là trong trách vụ, mà trở nên gương mù gương xấu cho người khác.
Bài Tin mừng hôm nay cũng thế, Chúa đề cao người phong cùi ngoại giáo hơn những người có đạo. Người có đạo hiểu luật, biết luật nhưng lại thiếu đi lòng biết ơn, thiếu khôn ngoan trong cách ứng xử nên Chúa đặt vấn đề: chín người có đạo kia đâu, sao chỉ có người ngoại giáo này?

Lạy Chúa,Chúa ban cho chúng con nhiều quyền cao chức trọng để lãnh đạo. Chúa ban cho con sự khôn ngoan để đào sâu thánh ý Chúa. Chúa ban cho con nhiều người hướng dẫn đời sống đức tin. Vậy mà nhiều lúc chúng con lơ là, chểnh mảng, bê trễ, lôi thôi trong chức vụ mình. Xin Chúa giúp chúng con ý thức lại cách sống, cách ứng xử để khỏi bị Chúa xét xử cách gắt gao trong ngày trình diện với Chúa.

Thứ Tư Tuần XXXII thường niên năm B

Lc 17,11-19
Có một gia đình kia, đến ngày sinh nhật của vợ của chồng hay của những đứa con trong gia đình, họ đều chuẩn bị sửa soạn để cho ngày sinh nhật diễn ra tốt đẹp và họ thuộc lòng ngày sinh nhật của nhau. Duy chỉ một người đang sống trong gia đình họ mà không ai nghĩ đến, không ai nhớ đến, đó là ông nội già yếu đang phải chống trả với những cơn đau nhói. Và cho đến một ngày - ngày ông nội mất.
Chồng hỏi vợ: Sinh nhật ông ngày nào?
Vợ hỏi lại chồng: Ngày nào là ngày sinh của ông?
Con cái hỏi cha mẹ: Ông sinh ngày tháng nào hả ba mẹ?
Vậy là tất cả mọi người phải tất bật đi tìm ngày sinh cho ông trong chứng minh nhân dân để làm bia mộ cho ông.
Đó là ngày sinh nhật đầu tiên và cuối cùng của ông mà mọi người nhớ đến.
Kính thưa…Sống trong cuộc đời, cám ơn người đã làm ơn cho mình là chuyện hết sức bình thường. Nhưng quên ơn người khác, đáng ra phải là chuyện bất thường, lại cũng trở nên hết sức bình thường. Con quên ơn cha mẹ. Trò quên ơn thầy cô. Bạn bè phụ bạc lẫn nhau. . . Có khi làm ơn mắc oán khiến chúng ta cũng ngại khi phải giúp đỡ ai!
Người Việt nam từ xưa đến nay vẫn quan niệm: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là tấm lòng biết ơn của người thụ ơn dành cho người làm ơn. Lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp. Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, và là phép xã giao hết sức bình thường của một con người. Sống trong cuộc sống hôm nay cần phải cư xử như vậy mới gọi là người biết điều. 
Đối lập với sự biết ơn, dân Việt chúng ta cũng có những câu nói diễn tả kẻ vô ơn: “Ăn cháo đá bát”. “Vắt chanh bỏ vỏ”. “Có trăng phụ đèn”. “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải”. 
Chúa Giêsu đã làm bao điều tốt đẹp cho người thời của Ngài. Nhưng ít khi Tân Ước nói đến chuyện họ cám ơn, mà Chúa Giêsu cũng chẳng bao giờ đòi ai cám ơn mình sau phép lạ. Bởi đó trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay thật độc đáo. Mười người phong ở với nhau trong một ngôi làng. Họ biết tiếng của Chúa Giêsu và biết cả tên của Ngài.Họ vui mừng thấy Ngài vào làng, nhưng họ chỉ được phép đứng xa xa.Tiếng kêu của họ vừa bi ai, vừa đầy hy vọng được chữa lành:“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!”. Họ đã tin tưởng, vâng phục, ra đi theo như lời dặn dò của Chúa, và được khỏi bệnh. Chỉ có một người, khi thấy mình được khỏi, liền quay lại. Anh ấy lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mình tạ ơn Chúa Giêsu.Đó không phải là người có đạo mà là một người Samaria, người ngoại giáo.
Chúa Giêsu đã nuối tiếc cách cư xử vô ơn của 9 người kia khi Ngài thốt lên:“Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Kính thưa…Lời tiếc xót này dường như cũng đang dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Có quá nhiều lần chúng ta nhận ơn nhưng lại thiếu lời cám ơn. Chúng ta còn thiếu quan tâm đến những người đã giúp đỡ chúng ta, đôi khi còn làm cho họ phiền lòng. Con cái làm phiền lòng cha mẹ mặc dù cha mẹ đã cả đời lam lũ vì con. Vợ chồng gây đau khổ cho nhau mặc dù họ đã dâng hiến cuộc đời cho ta. Bạn bè phụ ơn nhau mặc dầu những gì chúng ta có đều do bạn bè nâng đỡ, sẻ chia. Nhất là, chúng ta cũng từng quên ơn Chúa. Chúng ta đến xin ơn Chúa thì nhiều mà lại quên cám ơn Chúa. Đôi khi chúng ta còn tự cao tự đại nghĩ rằng những gì mình có là do tài năng của mình, thế nên, ta không cảm thấy hối hận vì quên cám ơn.
Lòng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con người. Đối với anh chị em, một tiếng nói “cám ơn” với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho cuộc sống chung thêm đẹp, thêm ý nghĩa. Còn đối với Thiên Chúa, Thánh Lễ chính là lời cám ơn tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể dâng lên Chúa vì thế chúng ta hãy siêng năng tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng.
Ước gì noi gương người Samaria, chúng ta biết nhìn ra ân huệ và tình thương của Thiên Chúa dành cho mình, để chúng ta cảm tạ tri ân Thiên Chúa, và tôn vinh tình thương Chúa. Xin cho chúng ta cũng biết nhận ra tình thương của tha nhân dành cho chúng ta, để chúng ta luôn sống tâm tình tri ân và đền đáp tình yêu. 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để cứu thoát chúng con phần xác phần hồn, chúng con không thể cám ơn Chúa cho xứng đáng. Xin Chúa cho chúng con sốt sắng thực hiện các việc đạo đức với tâm tình tạ ơn, vì mọi sự chúng con có là do Chúa ban cho, biết vượt qua mọi ràng buộc để chúng con được thờ phượng Chúa cách tự do cho phải đạo làm con, và tỏ lòng cám ơn Chúa, tôn vinh Chúa cho xứng đáng. Amen

Thứ Ba, tuần 32 mùa Thường Niên (Lc 17, 7-10)



Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau!”? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? Ðối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”
Suy niệm:
Ngày nay, với sự phát triển cao của khoa học kỹ thuật, kinh tế… con người có nhiều tiện nghi và hưởng thụ nhiều hơn. Nhưng đồng thời, cũng chính trong xã hội đó, con người ngày càng trở nên ích kỷ, tự mãn hơn với thành quả của mình, cái tôi được đề cao quá mức. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta nhìn cuộc đời như việc phục vụ; phục vụ Thiên Chúa và phục vụ nhau như một người “tôi tớ”.

Trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chính là Đấng Sáng Tạo, là Chúa của ta. Tất cả những gì chúng ta có: Thời gian, sức khỏe, tài năng, … đều là hồng ân Chúa ban cho và chúng ta phải sử dụng những hồng ân đó để phục vụ Chúa và tha nhân.

“Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10). Chúa dạy chúng ta khi làm việc và hoàn thành công việc cần ý thức rằng chúng ta là những “tôi tớ” và hơn thế nữa là “tôi tớ vô dụng” chỉ làm công việc bổn phận mà thôi. Trước khi dạy chúng ta làm như thế, chính Chúa Giê-su đã nêu gương sáng cho ta về sự phục vụ trong khiêm nhường, Chúa đã tự trở nên tôi tớ, tự xóa mình đi “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mt 21,33). Vì thế, khi hoàn thành công việc phục vụ, ta không tự hào về thành quả, không tự mãn về công trạng, cũng chẳng cao ngạo đòi Chúa phải thưởng công cho mình những quyền lợi hay phần thưởng đặc biệt xứng với công trạng của mình.

Chính khi tự đặt mình vào địa vị người “tôi tớ” và phục vụ trong sự khiêm tốn thẳm sâu, thì đó chính là lúc chúng ta đang sống và hành động theo cung cách mà Chúa dạy.

Lạy Chúa Giê-su, hôm nay Chúa dạy con biết được vị thế con, là “đầy tớ vô dụng”, chỉ làm công việc bổn phận của mình. Trong khi đó, rất nhiều khi con tự hào về con người, thành quả, công sức mình đóng góp cho Giáo hội và xã hội. Xin giúp con sống tinh thần tôi tớ, phục vụ trong khiêm nhường như Chúa dạy. Amen.



THỨ BA SAU CN 32 TN B

Lc 17,7-10
Nhân vật nổi tiếng trong Giáo Hội hiện nay được thế giới nhắc đến nhiều nhất, hẳn phải là Mẹ Têrêsa Calcutta, Mẹ đã được Đức Thánh GH Gioan Phaolô II phong lên hàng chân phước và là người đã được nhiều giải thưởng nhất : Đức Phaolô VI trao Mẹ giải Gioan XXIII vì hòa bình; Mẹ nhận giải thưởng Kennedy do chính phủ Hoa Kỳ tặng và tất cả số tiền nhận được, Mẹ đã dùng để xây dựng trung tâm Kennedy tại một khu ổ chuột ở ngoại ô Calcutta; tháng 12/1972 chính phủ Ấn nhìn nhận sự đóng góp của Mẹ và trao tặng Mẹ giải Nêru; nhưng đáng kể hơn vẫn là giải Nobel Hòa bình năm 1979, đây là giải thưởng đã làm cho tên tuổi Mẹ Têrêsa được cả thế giới biết đến. khi nhận được giải thưởng cao quí này, một viên chức chính phủ Ấn Độ đã gọi điện để chúc mừng, Mẹ đã trả lời: "Tất cả vì vinh quang Chúa".
Vâng, kính thưa…"Tất cả vì vinh quang Chúa", đó là động lực thúc đẩy Mẹ Têrêsa dấn thân phục vụ người nghèo trên khắp thế giới. Dù với bao nhiêu danh vọng và tiền bạc do các giải thưởng mang lại, nhưng Mẹ vẫn tiếp tục là một nữ tu hết sức khiêm tốn, nghèo khó, và làm việc âm thầm giữa những người nghèo khổ nhất. Với Mẹ Têrêsa, mỗi giải thưởng là một bàn đạp mới, một khởi đầu cho một công trình phục vụ to lớn hơn và làm cho nhiều người biết đến và ngợi khen Thiên Chúa nhiều hơn.
Qua cuộc đời của Mẹ Têrêsa, chắc chắn thế giới hiểu hơn về tinh thần phục vụ đích thực trong Giáo Hội. Một Giáo Hội càng phục vụ thì bộ mặt của Chúa Kitô phục vụ càng sáng hơn; trái lại, khuôn mặt của Chúa Kitô sẽ lu mờ đi, nếu Giáo Hội chưa thể hiện được tinh thần phục vụ đích thực của Ngài.
Trở lại trang TM hôm nay, lời khuyên của Chúa Giêsu có vẻ lạ tai. Ngài khuyên chúng ta hãy tự nhận mình là những người đầy tớ vô dụng, không làm được gì hơn là phận sự phải làm. Qua những lời ấy, phải chăng Chúa Giêsu có ý coi thường công lao phục vụ của chúng ta và không tôn trọng chúng ta cho đủ ? Hoàn toàn không, Ngài chỉ muốn thiết tha mời gọi chúng ta hãy có tinh thần khiêm tốn như Mẹ Têrêxa, và giống như Ngài trong khi làm công việc bác ái phục vụ. Ngài chỉ muốn vạch ra cho chúng ta con đường để chúng ta được nên giống như Ngài. Thật vậy, trước khi khuyên chúng ta sống như tôi tớ và tự nhận mình là tôi tớ vô dụng, chính Chúa Giêsu đã tự trở nên tôi tớ, tự xóa mình đi và không hề kể công trước mặt Cha trên trời. Làm được gì, nói được gì, Ngài cũng đều nhận là chính do bởi Cha mà Ngài làm hoặc nói như thế. Nối tiếp Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu còn nâng chúng ta lên hàng bạn hữu của Ngài, thậm chí đã làm tôi tớ cho chúng ta, tôn chúng ta lên hàng người chủ của Ngài. Đó là điều Ngài đích thân thực hiện trong quãng đời tại thế và nhất là trong cuộc đau khổ nạn của Ngài: Ngài đã đến, không phải để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ (Mt 20,28).
Đặc biệt, mỗi khi Thánh lễ được cử hành, chúng ta lại thấy chúng ta đúng là những vị khách quí, những người chủ được Chúa Giêsu phục dịch bằng cách thí mạng sống Ngài và trở nên bánh nuôi dưỡng chúng ta. Đây lại là lúc Ngài tự hủy chính mình, trở thành tôi tớ vì chúng ta. Gương mẫu đó của Ngài thôi thúc chúng ta phải trở nên khiêm tốn hơn trong khi phục vụ Thiên Chúa và anh chị em mình, đồng thời khích lệ chúng ta trong việc coi thường mọi tước vị vinh hoa của thế gian, để chọn suốt làm đầy tớ cho Thiên Chúa. Amen.


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Nghe Thánh lễ kỷ niệm cung hiến Thánh Đường Latêranô

tại Giáo xứ Hà Đông, hạt Xóm Mới, Sài Gòn


Thứ Hai, 09/11 : Lễ cung hiến đền thờ Latêranô (Ga 2, 13-22)


Vương cung thánh đường Gioan Latêranô chính là nhà thờ chính tòa của giáo phận Rôma, ở đó có ngai tòa của Đức Giáo hoàng, đấng kế vị thánh Phêrô và cũng là đại diện của Chúa Kitô. Do vậy vương cung thánh đường này được gọi là nhà thờ mẹ của tất cả các nhà thờ khắp mọi nơi trên thế giới. Trong lịch phụng vụ, lễ cung hiến đền thờ Latêranô được xếp vào bậc lễ kính ngày 09/11 hàng năm.

Nơi thờ phượng nói chung đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi kitô hữu. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay, cuộc đời họ gắn liền với nơi này. Ngoài việc cử hành các bí tích, nguồn ân sủng cần thiết cho đời sống đức tin, thánh đường còn là nơi cầu nguyện. Chính Đức Giêsu cũng rất hay lui tới hội đường để cầu nguyện với những người Do thái. Ngài cũng giữ đều đăn tập tục hành hương đền thờ Giêrusalem ngay từ khi còn niên thiếu.

Một mặt, Đức Giêsu rất đề cao nơi thánh thiêng. Chính vì thế, khi thấy con người biến nhà Chúa thành nơi buôn bán và tục hóa, Ngài đã quyết thanh tẩy đền thờ bằng cách đánh đuổi họ ra khỏi chốn này để trả lại nguyên hiện trạng cho nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa.

Mặt khác, Ngài cũng nhắc nhở mọi người hãy chú trọng đến thân xác, đền thờ của Chúa Thánh Thần, nơi Thiên Chúa Ba Ngôi ngự. Điều này nhắc nhở mỗi kitô hữu cần phải gìn giữ thân xác, lời ăn tiếng nói, cũng như tư tưởng và hành động sao cho luôn luôn hợp với giới răn của Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.

Mừng lễ cung hiến đền thánh Latêranô, xin Đức Giêsu ban Thánh Thần của Ngài cho mỗi tín hữu chúng ta để biết chống lại các thói hư tật xấu và tiến tới trên đường nhân đức ngõ hầu thân xác chúng ta luôn xứng đáng là nơi Chúa Ba Ngôi ngự. 

Bài Giảng Chúa Nhật XXXII Thường Niên B - Giáo xứ Thánh Tâm, Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc

CN TUẦN 32 TN B



1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tôn vinh/ ca ngợi bà góa thành Xarepta và bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem. Bà góa thành Xarepta là một người ngoại đã đem nước và bánh cho tiên tri Elia dùng trước khi làm bánh cho bà và con trai bà ăn rồi chết vì hạn hán đói kém. Bà góa tại đền thờ Giêsusalem đã dâng cho đền thờ hai đồng tiền kẽm trị giá bằng một phần tư đồng xu Roma, nhưng lại là tất cả những gì bà có để nuôi thân. Các bà được ca ngợi/ tôn vinh vì nhiều lý do, song chúng ta có thể cùng nhau suy nghĩ ba lý do chính yếu sau đây.

Trước hết, các bà được ca ngợi vì các bà có tấm lòng rộng rãi đối với tha nhân. Bà góa thành Xarepta rất nghèo, nghèo đến nỗi không đủ bột làm bánh và dầu để nuôi sống bà và con trai. Bà chỉ còn một nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đi lượm vài thanh củi, về nấu nướng để hai mẹ con ăn rồi chết. Vậy mà khi được tiên tri Elia yêu cầu đem cho ông một chút nước uống và một miếng bánh để ông ăn uống, bà đã không ngại làm như vậy sau khi đã được ông giải thích “vì Thiên Chúa đã phán hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Tấm lòng của bà thật lớn lao! Bà đã không nghĩ đến mình trước, nhưng nghĩ đến và làm cho người khác trước, cụ thể là bà đã đem nước và làm bánh đem đến cho Elia, người của Thiên Chúa. Bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem cũng vậy, nghèo thật nghèo, nghèo đến nỗi chỉ còn vẻn vẹn hai đồng kẽm, là tất cả những gì bà có để nuôi thân, nhưng bà sẵn sàng bỏ vào đền thờ vì biết rằng các tư tế cũng được chia sẻ những gì người ta đóng góp cho đền thờ, nhất là những lễ vật vì “người làm việc cho Chúa thì đáng hưởng công”.

Thứ đến, các bà được tôn vinh vì các bà có tấm lòng tin tưởng và tín thác tuyệt vời vào Thiên Chúa. Bà góa thành Xarepta là người ngoại, nhưng đã trả lời tiên tri Elia bằng một câu đầy tin tưởng như một người Do Thái thứ thiệt đã từng tin và sống cho Thiên Chúa “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò.” Niềm tin của bà còn được thể hiện rõ hơn khi bà mau mắn làm theo lời Elia sau khi được nghe lời của Thiên Chúa qua miệng Elia “Chúa của Israel phán thế này: hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Niềm tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa của bà góa Do Thái tại đền thờ còn mãnh liệt hơn. Bà đã dâng cho đền thờ tất cả những gì bà có để nuôi thân vì nghĩ rằng đền thờ hay Thiên Chúa thì quan trong hơn cuộc sống của bà. Bà chẳng nghĩ nay ăn gì, ngày mai sẽ sống ra sao, nhưng phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Cuộc đời bà thế nào cũng được miễn là đẹp lòng Chúa. Bà  khác hẳn với những người Do Thái giàu có. Bà không cho đi tiền dư bạc thừa, nhưng cho đi tất cả, cho đi chính mình. Niềm tin của bà thật lớn lao, thật vĩ đại dường bao!

Sau cùng, các bà được khen ngợi bởi vì tấm lòng rộng rãi của các bà đối với nhà Chúa, đối với công việc của Chúa. Bà góa thành Xarepta nhận ra Elia là người của Chúa đang thực thi công việc của Chúa. Vì thế, khi được người của Chúa yêu cầu hành động, bà đã mau mắn làm theo để kế hoạch của Chúa được thực hiện. Elia bảo bà đem chút nước ông, bà đã đem nước cho ông. Elia bảo bà đem đến cho ông miếng bánh bà đã đi làm bánh và đem đến cho vị tiên tri. Bà góa Do Thái cũng thế, chỉ có chút tiền làm của nuôi sống mình, vậy mà khi nhà Chúa, đền thờ cần, bà đã dâng hết sạch. Chính Đức Giêsu khi quan sát người ta dâng cúng cho đền thờ và thấy bà bỏ tiền vào thùng đã phải khen ngợi bà với các môn đệ “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ bào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.” Như thế, đối với Đức Giêsu, tiêu chuẩn đánh giá không theo số lượng hay giá trị tài sản bỏ vào nhà thờ, nhưng theo tỷ lệ những gì người ta có. Bà góa chỉ bỏ 2 đồng kẽm, nhưng là tất cả tài sản của bà, thậm chí là chính sự sống của bà. Bà đã bỏ nhiều nhất, thật đáng ca ngợi!

Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là người quảng đại với Chúa, với tha nhân và tín thác vào Thiên Chúa, sẽ được gì? Chắc chắn là những phần thưởng vô cùng lớn lao. Bà góa thành Xarepta đã vượt qua thời kỳ hạn hán và đói kém, mạng sống của bà và con trai bà được bảo đảm “Bà ấy đi và làm như ông Elia nói; thế là bà ấy cùng với Elia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ hột đã không vơi, và vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Elia và phán.” Phần thưởng bà góa nghèo Do Thái cho dù không được nói rõ trong đoạn Tin Mừng, nhưng chúng ta có thể hiểu được từ phần đầu của đoạn Tin Mừng “Những người ấy (những kinh sư thích được vinh dự nơi đám đông, chiếm ghế dự trong hội đường, đám tiệc, nuốt hết tài sản của các bà góa, thích đọc kinh lâu giờ) sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Thay vì bị kết án nghiêm khắc, những người có tấm lòng rộng rãi với Chúa và công việc của Chúa, biết tín thác trọn vẹn vào Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng, nhưng sẽ được cứu độ vì những gì họ làm là dấu hiệu của những kẻ đợi trông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô, mà kẻ đợi trông ơn cứu độ với cả niềm tin bao giờ cũng sẽ thỏa lòng ước mong.

Anh chị em thân mến,

Suy nghĩ về mẫu gương hai bà góa được Lời Chúa ca ngợi hôm, tôi tự hỏi:  Tôi đã rộng lượng với Chúa, với công việc của Chúa và với người của Chúa chưa? Mỗi khi Chúa mời gọi tôi làm gì, tôi có tính toán thiệt hơn với Chúa không? Tôi dâng cho Chúa điều tôi cần hay cái tôi dư thừa? Tôi cho nhiều hay chỉ cho chút ít những thứ không quan trọng với tôi? Tôi có dám tín thác và để Chúa lo liệu hay cậy dựa vào của cải vật chất, khả năng bản thân, địa vị tôi đang nắm giữ hay vào ai khác như: vị bảo trợ hay một người quyền thế và giàu có? Thật ra, rất nhiều lần chúng ta hẹp hòi và tính toán với Chúa, với công việc của Chúa và với người khác. Chúng ta chẳng dám quảng đại đóng góp cho Giáo Hội, cho công việc của Chúa bao giờ vì sợ thiệt thòi, sợ khó khăn, sợ nghèo đi, sợ không ai bảo đảm cuộc sống cho mình, trong khi Chúa vẫn ở phía trước chờ đợi, yêu thương, và lo liệu mọi thứ cho chúng ta. Ngài không những cho ta đủ thứ ở đời này mà còn muốn trao ban cho ta cả hạnh phúc Nước Trời mai sau. Xin Chúa cho chúng ta luôn quảng đại với Chúa và tha nhân trong niềm tín thác hoàn toàn vào Chúa. Amen.

Nghe Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Lúc 19g CN 8.11.2015 - tại Giáo xứ Hà Đông, Xóm Mới, SG

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

09/11. Thứ Hai. Cung Hiến Thánh Đường Latêranô. Ed 47,1-2.8-9.12; Ga 2,13-22
Bài Ðọc I - Ed 47,1-2.8-9.12
Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải. Người ấy lại nói với tôi: "Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến. Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.
Tin Mừng - Ga 2,13-22
Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêrusa-lem; Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán".
Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bấy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn muơi sáu năm mới xây được đền thờ này mà ông, ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Suy niệm
Hôm nay chúng ta mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô. Ðây là một trong những vương cung thánh đường cổ kính nhất của Hội Thánh, là nhà thờ chính toà của Ðức Thánh Cha, giám mục Rôma, là Mẹ của mọi nhà thờ trên thế giới. Cung hiến thánh đường là dâng cho Chúa một ngôi nhà để dành riêng cho việc phụng tự.
Khi được cung hiến để trở thành nhà của Thiên Chúa, thánh đường cũng trở nên nhà của các tín hữu, nơi Thiên Chúa hiện diện và thi ân cũng là nơi con người họp nhau để tôn thờ, cảm tạ. Dù nguy nga hay nhỏ bé, cổ kính hay hiện đại, mọi nhà thờ đều là nơi Thiên Chúa hẹn gặp con người.
Tiên tri Êdekiel cho chúng ta thấy một điều chắc chắn rằng, từ trong Đền thờ này Chúa sẽ ban cho chúng ta rất nhiều ân sủng; từ trong Đền thờ này, tâm hồn và thân xác chúng ta sẽ được chữa lành, bởi từ đó tuôn trào một dòng nước trường sinh.
Hội Thánh cũng được ví như một Ðền Thờ thiêng liêng, mỗi tín hữu là một viên đá sống động và Ðức Kitô là viên đá góc, là nền. Thánh Phaolô không ngần ngại khẳng định "Ðền thờ của Thiên Chúa chính là anh em". Hơn thế nữa, ngài còn nói: "Thân xác anh em là Ðền Thờ của Thánh Thần" . Như thế, cả Hội Thánh và từng Kitô hữu đều là Ðền Thờ. Ðền Thờ này không phải là những toà nhà có thể bị thời gian bào mòn, bị chiến tranh phá hủy mà là những con người sống động.
Chúa Giê su nói: "Hãy phá hủy Ðền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại." Chúa Giêsu không có ý nói đến đền thờ Giêrusalem. Ngài muốn nói đến chính thân thể Ngài, thân thể bị phá hủy và được xây dựng lại, thân thể bị giết chết và được phục sinh. Chúa Giêsu phục sinh trở nên Ðền Thờ của Giao Ước mới. Ai ai cũng được mời gọi bước vào Ðền Thờ này. Chỉ nơi đây, con người mới gặp được Thiên Chúa. Và cũng chính từ Đền Thờ này, ngày hôm nay chúng ta được đón nhận rất nhiều ân sủng, được chữa lành cả thân xác và tâm hồn, bởi vì cũng từ Đền thờ này tuôn trào một dòng nước trường sinh.
Khi thấy nhà Cha trở thành nơi buôn bán, Chúa Giêsu đã nổi giận, vì nhiệt tâm đối với Cha. Chúng ta thường thiếu một chút giận dữ hồn nhiên như vậy, vì chúng ta yêu quá ít và sợ quá nhiều. Chúng ta dửng dưng với những gì liên hệ đến Thiên Chúa. Có nhiều nhà thờ, đền thờ cần tu bổ. Nhà thờ đầu tiên là con người tôi.
Lạy Chúa, xin hãy thanh tẩy chúng con bằng Thánh Thần, cứ tiếp tục lật đổ và trục xuất những gì ô uế. Ước gì chúng con cung hiến lại bản thân mình cho Chúa để Hội Thánh thật sự là Ðền thờ, nhờ đó cả thế giới cũng trở thành Ðền thờ của Chúa. Amen.


CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ

THANH TẨY ĐỀN THỜ TÂM HỒN
(Ga 2,13-22)
Hôm nay, cùng với Mẹ GH, chúng ta mừng lễ cung hiến Đại Thánh Đường Latêranô. Thánh Đường này được hoàng đế Contantino xây dựng năm 320. Đây được xem là Nhà Thờ Mẹ và là Đầu của mọi Nhà Thờ trên thế giới”. Đại Thánh Đường Latêranô là nhà thờ chánh toà của Đức Giáo Hoàng, trong nhà thờ này có ngai tòa của ngài.
Trước hết, xét về mặt lịch sử, đền thờ Laterano được dâng kính Thánh Gioan và được xây dựng tại Laterano, nên được gọi là đền thờ Gioan Laterano. Đây là đền thờ cổ kính nhất trong Giáo Hội. Trải qua hơn 300 năm từ khi Tin Mừng được rao truyền tại Roma và Châu Âu, Giáo Hội đã bị bách hại một cách khốc liệt và đã có hàng trăm ngàn tín hữu phải chết vì đức tin. Năm 313, với chiếu chỉ Milan, hoàng đế Constantino đã công nhận Kitô Giáo là một tôn giáo được hoạt động tự do và hợp pháp trên toàn đế quốc Roma. Sau đó, Hoàng đế cùng với gia đình gia nhập đạo Công Giáo. Để đánh dấu sự kiện này, ông đã xây dựng cung điện Laterano để tặng cho Giáo Hội và được Đức Thánh Cha Silvester thánh hiến năm 324, được chọn làm nhà thờ Chánh tòa của giám mục giáo phận Roma, tức là Chính tòa của Đức Giáo Hoàng, và được coi là mẹ của các nhà thờ trên toàn thế giới.
Xét về mặt ý nghĩa, biến cố cung hiến đền thờ Laterano nhắc chúng ta nhớ đến ơn của Bí Tích rửa tội là tẩy rửa chúng ta khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, được sống sự tự do của con cái Thiên Chúa. Bí tích rửa tội cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, trở nên con của Giáo Hội, và trở nên anh chị em với nhau. Với ý nghĩa như thế, chúng ta được mời gọi cùng nhau xum họp trong nhà Chúa, cùng chung lời tạ ơn Thiên Chúa. 
Mừng lễ cung hiến Nhà Thờ Mẹ của mọi ngôi nhà thờ vật chất, chúng ta hướng về Đền thờ tâm hồn mỗi người chúng ta. Đây là ngôi Đền Thờ sống động, có linh hồn, có trí khôn ... chứ không phải bằng gỗ đá vô tri vô giác, được chính Ba Ngôi Thiên Chúa xây dựng nên theo hình ảnh Ngài, được Chúa Giêsu đổ Máu Thánh ra mà cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần xức dầu thánh hiến trong ngày lãnh Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, được Chúa Giêsu tô điểm và bồi bổ bằng Lời Hằng Sống cũng như bằng chính Thịt Máu Ngài và nhất là mai sau được đưa lên cõi trời vinh hiển. Không một ngôi Thánh Đường vật chất nào trên thế gian có được những vinh dự lớn lao như thế.
Tin Mừng chúng ta vừa nghe cho thấy Chúa Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem. Qua đó, Chúa cũng muốn chúng ta thanh tẩy Đền thờ tâm hồn mình. Bởi ai dám chắc đền thờ tâm hồn mình lại không đang ra ô uế, dơ bẩn bởi những đam mê bất chính, bởi những cái nhìn thiếu trong sáng, bởi những hành động xấu xa mà chúng ta thực hiện mỗi ngày. Ai dám chắc là đền thờ tâm hồn của mình không bị tục hóa bởi những tính toán nhuốm màu thế gian, bởi những điều xấu từ trong lời nói, thói quen, việc làm…
Chúng ta cần thanh tẩy và làm đẹp đền thờ tâm hồn mình bằng cách siêng năng lãnh nhận ơn Chúa và các Bí tích, nhất là Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể, cố gắng sống cao thượng và tôn trọng phẩm giá của mình cũng như của người khác. Và đừng lạm dụng thân xác trong những đam mê bất chính. Đừng lạm dụng thân xác để kiếm tiền và tìm thú vui xác thịt.
Chúng ta đừng phá huỷ đền thờ tâm hồn bằng những thứ xa hoa truỵ lạc, nhưng hãy thanh tẩy tâm hồn mình khỏi những bợn nhơ tội lỗi, những ước muốn gian dâm và trộm cắp. Hãy loài trừ trong tâm hồn chúng ta những cái nhìn bất chính, những ước muốn tầm thường, những đam mê vô độ.
Sau cùng, chúng ta hãy để Chúa ngự trị và chiếm đoạt tâm hồn mình. Và quan trọng, chúng ta hãy thường xuyên làm những cuộc thanh tẩy tâm hồn mình bằng cách lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Có như vậy, Chúa sẽ vui thích khi ngự trong đền thờ tâm hồn chúng ta.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con thanh tẩy đền thờ tâm hồn để trở thành nơi xứng đáng Chúa ngự trị. Amen.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Nghe Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - tại Giáo xứ Vĩnh Hòa- Thánh lễ 19 g thứ bảy 07.11.2015

Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Lễ 5 giờ sáng CN 08.11.2015 - Giáo xứ Hà Đông, Xóm Mới

Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên ( 8.11.2015) tại Giáo xứ Hà Đông - lễ thiếu nhi

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - B

Lời Chúa: 1 V 17, 10-16; Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10; Dt 9, 24-28; Mc 12, 38-44.
Bài Đọc I - 1 V 17, 10-16
Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: “Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống”. Ðương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: “Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh”. Bà thưa: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi”. Êlia trả lời bà rằng: “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất'”. Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.
Bài Đọc II - Dt 9, 24-28
Ðức Giêsu không tiến vào cung thánh do tay người phàm làm ra chỉ là hình bóng cung thánh thật, nhưng Người vào chính thiên đàng, để từ đây xuất hiện trước tôn nhan Thiên Chúa vì chúng ta. Người không còn hiến dâng chính mình nhiều lần, như vị thượng tế vào cung thánh mỗi năm một lần với máu không phải của mình. Chẳng vậy, từ tạo thiên lập địa, Người đã phải chết nhiều lần; nhưng từ nay cho đến tận thế, Người chỉ xuất hiện một lần tế lễ chính mình để huỷ diệt tội lỗi. Như đã quy định, người ta chỉ chết một lần thế nào, sau đó là phán xét, thì Ðức Kitô cũng hiến tế một lần như vậy, để xoá tội lỗi của nhiều người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, không phải để chuộc tội, nhưng để cứu độ những ai trông đợi Người.
Tin Mừng - Mc 12, 38-44
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn”. Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình”.
Suy niệm
Người nghèo thường quảng đại và sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người khác. Họ tự do với bạc tiền danh lợi, nên có thể tin vào con người và sẵn sàng yêu thương phục vụ hơn.
Chúa Giêsu nói với mọi người: “hãy coi chừng” những ông kinh sư, họ thích mặc áo thụng xúng xính khác người, thích được chào hỏi, thích ngồi chỗ nhất, nhưng lại “nuốt” hết tài sản của các bà góa, lại còn giả bộ đọc kinh lâu giờ.
Không phải chỉ những ông kinh sư thời Đức Yêsu thích rồi làm như vậy, mà con người ngày nay cũng vậy nữa: cũng tham của người, ham danh hám lợi, và hay giả bộ “đạo đức”. Nếu đạo đức thật, mà người ta thấy thì cũng tốt vì làm gương sáng; còn nếu không đạo đức mà lại làm như thể đạo đức, là giả hình. Hãy coi chừng.
Nếu ai thích khen, người đó có thể bị điều khiển bằng lời khen; nếu ai tham của, người đó có thể bị mua chuộc bằng tiền của. Người đó đang bị nô lệ, bị sai khiến bởi tiền bạc danh vọng chức quyền. Người đó tưởng họ đang tự do, nhưng thực sự họ đang nô lệ và bị điều khiển mà họ không biết. Hãy coi chừng.
Nếu bạn không nô lệ những điều đó, thì hạnh phúc biết bao!
Tiên tri Elia trên đường lánh nạn đã được Chúa truyền đến sống nhờ một bà goá nghèo. Cũng có thể nói bà goá nghèo và con bà sống nhờ tiên tri, vì chính nhờ tiên tri mà hũ bột không cạn và hũ dầu không vơi. Đúng hơn Thiên Chúa thương cả tiên tri lẫn bà goá nghèo nên đã nuôi sống tất cả.
Bà goá chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu, lượm củi làm cái bánh cuối cùng để “ăn rồi chết”, thế mà bà vẫn tin lời tiên tri, làm cho ông một cái bánh trước khi làm cho con bà và chính bà. Cách hành xử của bà goá này rất đẹp. Tôi có đơn sơ tin người và sẵn sàng giúp người như bà goá nghèo này không? Thiên Chúa quá tuyệt.
Bà goá trong Tin Mừng được Đức Giêsu khen là quảng đại, dám dâng cúng tất cả những gì mình có. Có người nói rằng: “vì bà goá chỉ có mấy xu nên dễ dàng để dâng cúng tất cả, còn nếu bà goá này thật giầu thì chắc bà chẳng dám bỏ tất cả đâu”! Cũng có thể như vậy, nhưng “những người quảng đại” thường nghèo; có lẽ họ “hay cho” nên mới không giầu. Bà goá đó không giầu được vì bà luôn cho tất cả, dù khi bà có hai xu hay có nhiều hơn hai xu, có lẽ chưa khi nào bà giữ cho mình được mười đồng vì bà vẫn cho những gì bà có. Thiên Chúa cũng cho con người tất cả, ngay cả điều qúy nhất là Chúa Con và Thánh Thần.
Những người “ham tiền” thường ky cóp và không bỏ ra ngay cả một xu!
Có mấy người hiểu được hạnh phúc của người nghèo? Có mấy người hiểu được người nghèo tự do đến mức nào? Trong cuộc sống, bao nhiêu quyết định bị chi phối bởi sợ người này hay không dám làm mất lòng người kia, sợ người khác hiểu lầm mình, sợ người khác không còn đánh giá mình cao nữa, sợ người khác biết sự thật về mình. Vì sợ nên không được tự do.
Xin Chúa cho con nghèo, để con không còn gì để phải sợ, để con chỉ còn biết sống theo Chúa theo sự thật, để chỉ bị tình yêu thương chi phối mà thôi.

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

(1 V 17,10-16; Hr 9,24-28; Mc 12,38-44)
THIÊN CHÚA THẤU TỎ MỌI SỰ
“Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: ‘Thầy bảo thật anh em: 
bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết’” (Mc 12,43)
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1:
    Bối cảnh đoạn sách Các Vua là lời loan báo của ngôn sứ Êlia về án phạt của Thiên Chúa đối với vua Akháp vì vua đã tôn thờ thần Baan (1 V 16,29-33). Theo đó, trong đất nước của vua sẽ chẳng có mưa trong một thời gian dài. Trong hoàn cảnh hạn hán và đói kém, Thiên Chúa có cách để lo liệu cho vị ngôn sứ của Ngài (x. 1 V 17,1-9). Nhưng điều gây ngạc nhiên hơn cả là việc Thiên Chúa biểu lộ sự quan phòng của Ngài qua hình ảnh tín thác của một bà góa nghèo (1 V 17,10-16).
    Các bà góa trong Kinh Thánh luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi. Họ đa phần là những người nghèo, bị xã hội coi thường và lãng quên. Bà góa trong đoạn sách Các Vua cũng không phải là ngoại lệ. Ngôn sứ Êlia gặp bà lúc bà đang đi lượm củi để lo cho bữa ăn cuối cùng, một hình ảnh cho thấy cái nghèo đến cùng cực của bà trong hoàn cảnh hạn hán và đói kém, đến nỗi bà có thể thấy trước cái chết của mình và con trai. 
Bà góa này không những nhận ra Thiên Chúa là Chúa của vị ngôn sứ, mà bà con thề trước Ngài (1 V 17,12), nghĩa là, cách nào đó, bà cũng thừa nhận Ngài là Chúa của bà. Không loại trừ khả năng bà là người gốc Israel, nhưng được gả chồng ở Xarépta, thuộc Xiđôn, vùng đất thuộc dân ngoại. Dù thế nào, bà góa này xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng vượt lên trên và hiểu biết tất cả; bà ý thức rằng Thiên Chúa thấu suốt hoàn cảnh nghèo đói của bà. 
    Do vậy, trong hoàn cảnh bi đát của nạn hạn hán, bà vẫn sẵn sàng cho nước theo lời yêu cầu của vị ngôn sứ; đồng thời trong lúc nạn đói đang hoành hành dữ dội, lúc thức ăn đã cạn kiệt, lúc bà và con trai đang đối diện với cái chết cận kề, bà vẫn sẵn sàng chia sẻ phần ăn với vị ngôn sứ. Sự sẵn sàng trao ban của bà theo yêu cầu của vị ngôn sứ thể hiện một lòng tin mạnh mẽ vào lời hứa của Êlia, và trên hết là niềm tin vào Thiên Chúa của vị ngôn sứ. 
    Phép lạ về bình dầu không cạn và hũ bột không vơi là một minh chứng cho sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, Đấng lo liệu khéo léo cho vị ngôn sứ của Ngài. Đồng thời, phép lạ còn là lời xác tín vững chắc rằng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi những con người, dù nghèo khó, hèn kém và bị bỏ quên trong xã hội, nhưng vẫn một lòng tin tưởng và phó thác vào Ngài.
2. Bài đọc 2:
    Thư Hípri phác họa hình ảnh Đức Kitô Thượng Tế như là vị trung gian hoàn hảo, là cầu nối hữu hiệu giữa con người với Thiên Chúa. Những lý do sau đây chứng minh cho điều đó.
    Một là, trong khi các thượng tế Do Thái chỉ có thể vào trong nơi cực thánh một năm một lần, nơi mà họ tin rằng có sự hiện diện thật sự của Thiên Chúa, để dâng lễ đền tội cho mình và cho dân, thì Đức Kitô Thượng Tế lại vào chính cõi trời, diện đối diện với chính Thiên Chúa mà chuyển cầu cho dân (Hr 9,24). Đức Kitô phục sinh là vị Thượng Tế được siêu thăng cõi trời, hằng ngự bên hữu Thiên Chúa để chuyển cầu hiệu quả cho dân mỗi khi cần chứ không phải chờ đợi mỗi năm một lần như trong định chế tư tế Lêvi.
    Hai là, các thượng tế Do Thái mỗi năm đều phải mang máu con vật vào nơi cực thánh để xin Thiên Chúa tha tội cho mình và cho dân là vì máu đó không hoàn toàn xóa bỏ được tội lỗi. Đức Kitô Thượng Tế chỉ dâng hiến tế là chính máu của mình một lần, nhưng hoàn toàn tiêu diệt mầm mống tội lỗi và xóa bỏ tội muôn người (Hr 9,26.28). Theo quan niệm Do Thái, không có máu đổ ra thì không có ơn tha thứ (x. Hr 9,22), nhưng chỉ có máu của Đức Kitô Thượng Tế, Đấng “thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Hr 7,26) mới đem lại ơn tha thứ một lần cho tất cả. 
Ba là, Đức Kitô Thượng Tế sẽ trở lại lần thứ hai, nhưng không phải để tiếp tục dâng lễ đền tội, nhưng là để đem lại ơn cứu độ cho những ai trông đợi Người (Hr 9,28). Giá trị cứu độ của hy tế Đức Kitô mang tính trường tồn. Ơn cứu độ này chỉ dành cho những ai biết “trông đợi Người”, trông đợi bằng thái độ sống “tùng phục Người” (Hr 5,9). Như Đức Kitô đã “học vâng phục” qua đau khổ để trở nên nguồn ơn cứu độ thế nào, thì những ai chờ đợi Đức Kitô bằng thái độ vâng phục thánh ý Thiên Chúa đều xứng đáng đón nhận nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu do hiến tế cứu độ của Người mang lại (x. Hr 5,8-9).
    Đức Kitô Thượng Tế vào chính cõi trời, trước nhan Thiên Chúa, để dâng chính máu của mình, tiêu diệt hoàn toàn tội lỗi, hầu mang lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai đợi trông Người. Người thật là vị Thượng Tế hoàn hảo, là trung gian hữu hiệu giữa Thiên Chúa và con người. 
3. Bài Tin Mừng
    Bài Tin Mừng mô tả hai hoàn cảnh không những khác nhau mà còn trái ngược nhau. Một bên là hình ảnh của các ông kinh sư bị Chúa Giêsu phê phán vì cách sống nặng tính phô trương vẻ bề ngoài. Bên kia là hình ảnh của bà góa nghèo được Chúa Giêsu khen ngợi vì đã âm thầm, kín đáo cho đi những gì quý giá nhất với cả tấm lòng. 
Các kinh sư là những người có vai trò quan trọng trong việc giúp dân hiểu và giữ Lề Luật. Với vị thế, vai trò và lối sống đạo hạnh của mình, họ thường nhận được sự kính trọng của dân. Tuy nhiên, có lẽ thời Chúa Giêsu vẫn có những vị kinh sư chỉ chăm chú đến lối sống nặng tính hình thức bên ngoài như: khoe khoang mũ áo, thích được chào hỏi, ưa chuộng lời khen và ghế danh dự nơi công cộng, cầu nguyện hình thức… nhưng bên trong che đậy sự gian trá và lọc lừa ngay cả tiền bạc của các bà góa là đối tượng thường chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội. Chúa Giêsu mạnh mẽ lên án lối sống giả tạo, vụ hình thức của họ, rằng họ sẽ bị Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can con người, kết án nghiêm khắc.
    Trái lại, hình ảnh bà góa nghèo dâng cúng một số tiền rất nhỏ lại được Chúa Giêsu khen ngợi. So với những người giàu bỏ thật nhiều tiền, thì hai đồng tiền kẽm của bà góa chẳng đáng là gì. Chúa Giêsu khen bà góa đã dâng cúng số tiền nhiều hơn ai hết chắc chắn không phải dựa trên giá trị số tiền bà dâng mà dựa trên tấm lòng sẵn sàng cho đi “tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 12,44). Lòng quảng đại của bà góa khi dám cho đi tất cả thì đáng quý hơn rất nhiều so với những người giàu chỉ cho đi những gì là dư thừa.
Hai hình ảnh trái ngược trong bài Tin Mừng gợi lên nhiều điều đáng để suy gẫm:
Một là, Thiên Chúa không nhìn vào dáng vẻ bên ngoài để đánh giá. Ngài là Đấng thấu suốt lòng dạ con người từ bên trong. Những gì thể hiện ra bên ngoài chỉ có giá trị thực sự khi phát xuất từ tấm lòng bên trong. Người ta có thể đánh lừa nhau vì cái mã bên ngoài, nhưng những gì phát xuất từ tấm lòng mới là điều Thiên Chúa trông đợi nơi con người. 
    Hai là, tất cả mọi hành động và của cải trao ban, dù nhỏ mọn, tầm thường, nhưng nếu xuất phát tự tâm hồn tốt lành, trung thực và quảng đại đều có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa. Của cho, dù ít hay nhiều, chắc chắc đều đáng quý, nhưng cách cho còn đáng quý hơn gấp bội.
Ba là, mọi người đều có giá trị như nhau trước mặt Thiên Chúa, dù họ là ai, ở địa vị nào. Ngài không bỏ qua hành động sai trái của kẻ mạnh, cũng không bỏ quên nghĩa cử cao đẹp của người thấp bé. Ngài đặc biệt quan tâm và dành tình thương cách đặc biệt cho những người nghèo, những người đang sống trong cô đơn, bị quên lãng hay bỏ rơi. 
II. GỢI Ý ÁP DỤNG
1/ Phép lạ về bình dầu không cạn và hũ bột không vơi là một minh chứng sống động cho sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, Đấng khéo léo lo liệu cho vị ngôn sứ của Ngài, và là Đấng không bỏ rơi những con người nghèo hèn, bé nhỏ nhưng một lòng tin tưởng và phó thác vào Ngài. Tôi có tin rằng Thiên Chúa vẫn hằng yêu thương, quan phòng, ngay cả khi tôi gặp những hoàn cảnh cô đơn, nghèo hèn, khốn khổ, bi đát?
2/ Đức Kitô thật là vị Thượng Tế hoàn hảo, là trung gian hữu hiệu giữa Thiên Chúa và con người, Đấng vào chính cõi trời để dâng máu mình làm của lễ đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho con người. Người đã học vâng phục thánh ý Thiên Chúa ngay cả trong những lúc đau khổ nhất nên không có nỗi khổ đau nhân loại nào mà Người không thể cảm thấu. Tôi có xác tín mạnh mẽ rằng Đức Giêsu là trung gian hữu hiệu nhất dẫn tôi đến với Thiên Chúa, và là nguồn ơn cứu độ duy nhất của đời tôi?
3/ Chúa Giêsu nhìn thấu và lên án lòng dạ xấu xa bên trong của các ông kinh sư dù bên ngoài họ tỏ ra đạo đức, nhưng Người lại khen ngợi lòng quảng đại của bà góa nghèo, dù nhìn bên ngoài số tiền dâng cúng của bà chẳng là gì so với những người giàu dâng nhiều tiền. Tôi có thường sống với chiếc mặt nạ? Cách tôi sống, những việc tôi làm có xuất phát từ tầm lòng chân thành và trung thực?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng của con người, Người luôn quan tâm chăm sóc những ai có tâm hồn nghèo hèn bé mọn và ưu ái chúc phúc cho họ. Với lòng tin tưởng phó thác mọi sự trong tay Chúa, chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:
1. Chúa Giêsu đã phê phán thái độ giả hình của các kinh sư, biệt phái. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh biết tránh xa thói giả hình, luôn trung thành với tinh thần nghèo khó Phúc Âm, và tận tâm phục vụ vì phần rỗi của mọi người.
2. Lối sống ích kỷ vô cảm là điều đáng cảnh báo trong cuộc sống hôm nay. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo xã hội biết đề cao và khuyến khích mọi người sống tinh thần quảng đại hy sinh, nâng đỡ chia sẻ, nhằm xây dựng một xã hội văn minh liên đới.
3. Đức Kitô chỉ hiến tế một lần là đủ đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi kitô hữu luôn xác tín vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô và biết tích cực tham dự vào hy lễ cứu độ của Ngài bằng một đời sống quên mình phục vụ.
4. Chúa Giêsu đánh giá bà góa nghèo đã bỏ nhiều hơn hết. Xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết theo gương bà góa trong Tin Mừng, luôn sống tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, sẵn lòng chia sẻ với mọi người và đóng góp cho việc chung.
Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con ca ngợi và tôn vinh lòng thương xót hải hà của Chúa, xin nhậm lời chúng con cầu nguyện và rộng ban muôn ơn lành giúp chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa theo gương Đức Giêsu Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

08/11/2015 Chúa Nhật Tuần XXXII Mùa Thường Niên Năm B


PHÚC ÂM: Mc 12, 41-44 {hoặc 38-44}
"Bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, {Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn".}
Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cũng đưa ra hai nhận định khác nhau về hai loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.
Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng không đóng góp của chung mà chỉ lợi dụng để lấy của chung thành của riêng. Họ là những người giầu có nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.
Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.
Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.
Thực vậy, sự giàu có về vật chất đôi khi làm con người nghèo khó về tinh thần. Sự nghèo khó vật chất đôi khi lại thảnh thơi tâm hồn. Kẻ tham lam thường nghèo đói về lòng nhân ái. Kẻ biết sống khó nghèo thường chứa chan tình yêu. Kẻ có chức có quyền dễ mất tính bao dung và thương xót. Kẻ khốn cùng dễ cảm thông với bất hạnh bần cùng của tha nhân.
Xét cho cùng, sự giàu có không hệ tại ở đồng tiền hay chức vị. Sự giàu có hệ tại ở những tương quan với đồng loại. Do vậy, điều mà con người cần tích lũy không phải là của cải trần gian mà là tình yêu đối với tha nhân. Điều mà con người thu gom không phải là hàng hoá xa sỉ phẩm mà là từng nghĩa cử cao đẹp chúng ta dành cho đồng loại.
Kẻ có chức có quyền càng bị kết án nặng hơn nếu họ không biết dùng địa vị của mình để phục vụ một cách vô vị lợi. Chính họ không những phải trả lẽ trước mặt Chúa về sự ích kỷ của mình, mà còn mất đi cơ hội mua lấy bạn hữu Nước Trời bằng tấm lòng rộng lượng của mình.
Mỗi người chúng ta chỉ là những quản lý của Chúa, hãy biết đón nhận trong sự khiêm tốn và biết trao ban cho anh em theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta có, đều nhận lãnh do lòng quảng đại của Chúa. Do đó, những gì chúng ta cho, không phải chúng ta cho của riêng mình, nhưng là giao lại cho người khác những gì thuộc về Chúa. Dù vậy Chúa vẫn thưởng công cho chúng ta. Vì Chúa đã từng nói: "Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu." Amen.