Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

07/08/2015 Thứ Sáu Tuần XVIII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 16, 24-28
"Người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?

"Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật, Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về những điều kiện để được làm môn đệ Ngài: từ bỏ mình, vác Thập giá, và đi theo Chúa Giêsu. Cả ba kiểu nói đều đồng nghĩa với nhau, và đều nói lên cái cốt yếu của đời sống Kitô hữu, đó là đón nhận đau khổ như chính Chúa Giêsu đã đón nhận cuộc khổ nạn và cái chết dành cho Ngài.
Chúa Giêsu đã đưa ra những điều kiện trên đây liền sau khi Ngài loan báo về cuộc tử nạn của Ngài: Ngài sẽ bị đau khổ và bị treo trên Thập giá. Thập giá vốn là cái giá mà Chúa Giêsu phải trả vì cuộc sống và giáo lý của Ngài. Như vậy tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải trải qua con đường Thập giá ấy. Thật ra, đau khổ vốn là phần số chung của mọi người: đã mang tiếng khóc vào đời là mang lấy cả thân phận khổ đau, có khác chăng là thái độ của con người trước đau khổ mà thôi.
Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một thái độ mẫu mực. Ngài không bao giờ lý giải về nguồn gốc của khổ đau, nhưng Ngài đón lấy khổ đau và biến nó thành cội nguồn của yêu thương. Thập giá vốn là tận cùng sự bỉ ổi của con người, nhưng đã được Chúa Giêsu biến thành biểu tượng của tình yêu. Chúa Giêsu chịu treo trên Thập giá, không phải để đề cao đau khổ, mà chính là để biểu lộ tình yêu của Ngài. Như vậy, chính trong mầu nhiệm Thập giá, chúng ta đón nhận khổ đau; chính trong mầu nhiệm Thập giá Chúa Giêsu mà thái độ đón nhận đau khổ của chúng ta mang lấy ý nghĩa.
Nơi nào có Thập giá, nơi đó có Thiên Chúa. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra sự hiện diện yêu thương của Ngài ngay trong khổ đau, để giữa những giờ phút tăm tối và thử thách, chúng ta vẫn còn thấy được ý nghĩa của cuộc sống.
Lạy Chúa, những lúc con chùn bước trên con đường theo Chúa, xin thêm sức mạnh để con tái khám phá vẻ đẹp, giá trị của người môn đệ. Xin cho con kết hiệp khó khăn, yếu đuối mình với tình yêu trao hiến của Chúa.AMEN.

Chúa Nhật XIX Quanh Năm B ( Ga 6, 41-52 )


Những người Do Thái đương thời kêu trách Chúa Giêsu, khi ngài nói cho họ biết, ngài là bánh ban sự sống từ trời xuống; ai muốn được sống đời đời, ai muốn được trường sinh bất tử, phải ăn và uống Mình và Máu ngài. Họ lẩm bẩm chỉ trích. Bởi vì họ biết rõ ông Giuse và bà Maria, cha mẹ ngài. Họ thấy ngài chỉ là một con người bình thường, giống như họ. Không thể nào từ trời xuống được. Ngài không thể nào có bánh ban sự sống đời đời., nói chi đến việc phải ăn và uống Thịt Máu ngài để có thể trường sinh. Vì thế, họ không tin, dèm pha, phản đối.
Trước sự từ chối thẳng thừng nầy, Chúa Giêsu đã phản ứng ra sao ?-
Ngài cho biết, trước hết, để có thể đến với ngài, để có thể chấp nhận ngài, phải có ơn Chúa. Chính Thiên Chúa khởi đầu, đi bước trước. Soi sáng tâm hồn, mời gọi dấn thân, Thiên Chúa lôi cuốn tất cả mọi người. Do đó, không ai đến được với ngài, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai ngài, không lôi kéo người ấy. Tin nhận Chúa Giêsu thực ra là một ơn huệ của Thiên Chúa, chứ không phải tự sức của loài người.
Thứ đến, ngài nhắc đến vai trò của sự tự do con người. Đã hẳn là, chính Thiên Chúa mời gọi trước tiên. Ngài lôi cuốn, giáo huấn, đề nghị… nhưng con người có thể lắng nghe, đáp lại, hay cũng có thể bịt tai và chối từ. Con người có thể chống cự lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Chúa tuyệt đối tôn trọng sự tự do đó. Chỉ những ai đồng ý lắng nghe lời giáo huấn của Chúa Cha mời có thể bước vào mầu nhiệm Bánh Hằng Sống.
Rõ ràng là, ơn thánh Chúa mà thôi thì chưa đủ. Thiên Chúa lôi cuốn: đó là việc của Thiên Chúa. Về phía con người, cần phải tự do đáp lại. Ơn thánh và tự do cộng tác: cả hai đều rất cần thiết, không thể thiếu.


Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh: đón nhận ngài là đón nhận sự thâm nhập của một ngôi vị Thiên Chúa. Ngài khẳng định là, ngài đến từ Thiên Chúa Cha, và chỉ một mình ngài mới biết Thiên Chúa Cha. Đón nhận ngài là đón nhận Đấng vô hình, Đấng Tối Cao, Đấng Tuyệt Đối. Đây là cuộc phiêu lưu kỳ diệu, đòi hỏi phải vượt qua những quan điểm lý trí thông thường. Lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa đưa con người vào đời sống của chính Thiên Chúa. Mà được Thiên Chúa là được tất cả.
Sau cùng, một khi đã hiệp thông với chính Thiên Chúa, con người sẽ được biến đổi, trở nên thần thánh. Sẽ không còn phải chết nữa, bởi vì đời sống nhân loại đã được hoà nhập, trở nên một với đời sống sung mãn của Thiên Chúa.
Như thế, để có thể sống đời đời, để không còn phải đói, không còn phải khát nữa, không phải nếm sự hủy diệt, chết chóc, nhất thiết phải ăn và uống Mình và Máu thánh Chúa Giêsu.
*** Sở dĩ chúng ta tụ họp nơi đây, là vì chúng ta xác tín là, Bánh ban sự sống đời đời, bí tích Mình Máu Thánh Chúa, được cử hành trong thánh lễ. Mỗi ngày, nhất là trong ngày Chúa Nhật, ngày của Chúa, chúng ta được mời gọi đến, cùng với anh chị em trong cộng đoàn, tham dự bữa tiệc thần thiêng của Chúa. Nếu Chúa có thể làm cho lương thực vật chất biến đổi thành máu, thịt, chất bổ dưởng, nuôi sống thân xác chúng ta, thì ngài cũng dư khả năng nuôi sống linh hồn chúng ta, bằng cách biến đổi cuộc sống chúng ta trở nên cuộc sống của ngài, khi chúng ta lãnh nhận Mình Máu thánh ngài. Có Chúa trong cuộc đời, cùng sống sự sống của Thiên Chúa, đó chính là hạnh phúc thiên đàng của chúng ta. Việc còn lại là, chúng ta hãy tự nguyện, mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa. Chuẩn bị chu đáo cho việc tham dự thánh lễ, bằng cách xa tránh tội lỗi, có ý hướng ngay lành, sốt sắng rước Mình Máu Thánh Chúa, làm sinh hoa kết quả những ơn lành của Chúa trong cuộc sống. Đó là công việc của chúng ta.
Hiểu được như thế, thì khi đi lễ, nếu chúng ta đi trễ về sớm, nếu chúng ta không vui vẻ, tự nguyện đến gặp gỡ Chúa nơi bàn tiệc thánh, nếu chúng ta đứng ngồi bên ngoài, nói chuyện, hút thuốc, bấm điện thoại di động, nhắn tin, hay lơ đảng nhìn trời mây non nước… trong khi trong nhà thờ vẫn còn chỗ trống, nếu chúng ta hà tiện một vài phút, vội vã ra về trước khi buổi lễ chấm dứt… thì thật đáng tiếc. Bởi vì đó là dấu chỉ cho thấy rõ ràng, tấm lòng chúng ta chưa thật sự yêu mến Chúa, tinh thần chúng ta chưa thật sự sẵn sàng đến thăm viếng Chúa, để tâm sự với Chúa, tâm hồn chúng ta còn quá xa cách Chúa, con tim chúng ta chưa thuộc về Chúa trọn vẹn.
Thật đáng tiếc, nhưng cũng thật nguy hiểm. Bởi vì, cây nghiêng bên nào sẽ ngả về bên đó. Cách sống đó dần dần dễ làm cho chúng ta xa cách Chúa, là Đấng trao ban cho chúng ta sự sống và hạnh phúc viên mãn, vĩnh viễn. Mà đối với hạnh phúc Nước Trời, được thì được trọn vẹn, còn mất thì mất tất cả, ngàn thu.

CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM, B



Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh: Ê-phê-xô 4:30-5:2

Đoạn thư hôm nay là huấn dụ thứ hai (4:25-5:2) trong ba huấn dụ nhỏ, khích lệ tín hữu Ê-phê-xô sống sao cho phù hợp với Tin Mừng họ đã nhận lãnh. Với tính duy nhất của Giáo Hội, Ki-tô hữu học sống hiệp nhất với nhau để thể hiện sự hiệp nhất của Giáo Hội. Với sự thánh thiện của Giáo Hội, Ki-tô hữu thực thi đúng theo căn tính Ki-tô hữu của mình để “thực sự sống công chính và thánh thiện.” Để quảng diễn thêm những phạm trù căn bản của đời sống Ki-tô hữu, thánh Phao-lô hướng về đời sống cộng đoàn để mời gọi tín hữu hãy nỗ lực làm cho đời sống cộng đoàn được mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Các phần tử của Giáo Hội có trách nhiệm đối với nhau, vì họ đều là chi thể của cùng một thân thể Chúa Ki-tô. Họ thuộc về nhau là vì họ thuộc về Đức Ki-tô. Nói về đời sống cộng đoàn, thánh Phao-lô không thích lý thuyết dài dòng, nhưng ngài nhìn vào những gì thường xảy ra và căn cứ vào kinh nghiệm mục vụ của mình để đưa ra một số kết luận thực hành hết sức thực tế.


a) Làm tổn thương đời sống cộng đoàn là “làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa.”
Chúa Thánh Thần là mối dây độc nhất liên kết mọi chi thể trong nhiệm thể Chúa Ki-tô. Nếu hiểu Thánh Thần là Đấng ghi dấu ấn trên tín hữu để họ thực sự thuộc về Thiên Chúa, thì chúng ta có thể tưởng tượng Thánh Thần sẽ “buồn lòng” biết mấy khi dấu ấn ấy bị làm phai mờ đi do lối sống không phù hợp với lối sống và Tin Mừng của Đức Ki-tô. Chúa Thánh Thần không tách rời với cộng đồng Ki-tô. Sự hiện diện của Người nơi mỗi Ki-tô hữu là dấu ấn bảo đảm họ sẽ được cứu chuộc nếu họ giữ dấu ấn ấy cho tới khi Đức Ki-tô trở lại với họ.
Vai trò của Thánh Thần đã được thánh Phao-lô nói đến trước đây trong vinh tụng ca mở đầu: “Vẫn trong Đức Ki-tô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” (1:13-14). Có hai điểm được nói đến ở đây. Trước hết ân huệ Thánh Thần là bảo chứng cho phần rỗi chúng ta. Thứ hai, vì Thánh Thần xác định căn tính của các tín hữu là những kẻ sẽ được cứu chuộc, nên lối sống vô luân là lối sống đi ngược lại căn tính của họ. Người ta sẽ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa khi họ tuy đã có phận được cứu chuộc mà lại còn sống theo con người cũ của mình.
Vậy để khỏi làm phiền lòng Thiên Chúa, theo lời khuyên của thánh Phao-lô, tín hữu “hãy bắt chước Thiên Chúa.” Lời khuyên có vẻ khác thường, gần như không ăn nhập gì với ý tưởng “đừng làm phiền lòng Thánh Thần.” Thực ra thì lời khuyên “hãy bắt chước Thiên Chúa” là câu trả lời đi thẳng vào vấn đề. Thánh Thần hướng dẫn chúng ta sống theo lối sống mới, tức là sống bác ái, yêu thương, hiệp nhất... Mà tất cả những điều này chúng ta sẽ học được ở nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi trao ban Con Một cho chúng ta. Đó là bài học để chúng ta làm đẹp lòng Thánh Thần khi chúng ta sống trong tình bác ái.


b) Sống trong tình bác ái
Bác ái là then chốt của đời sống cộng đoàn. Chúng ta trở lại với hai câu 31-32 chương 4 để lắng nghe những lời khuyên thực tế của thánh Phao-lô về đời sống cộng đoàn. Về phương diện tiêu cực, chúng ta tránh những thái độ tai hại sau: chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, la lối thóa mạ. Chắc chắn chúng ta ai cũng từng có những kinh nghiệm về những hành vi kể trên, hoặc mình là chủ nhân hoặc là nạn nhân! Những hành vi này phá hoại tình bác ái thật trầm trọng, nhiều khi vĩnh viễn không sao hàn gắn hay hòa giải được. Chúng đi ngược hẳn với đức ái đích thực (1 Cr 13:4-7) hoặc sinh ra những hoa trái ngược lại với những hoa trái của Thần Khí (Gl 5:22-23a).
Về phương diện tích cực, thánh Phao-lô khuyên tín hữu hãy đối xử tốt với nhau, biết thương xót và tha thứ cho nhau. Sống giữa dòng đời, đối xử tốt với người khác thường bị coi là để cho người ta lợi dụng mình. Thương xót và tha thứ được coi là nhu nhược. Não trạng của người đời là vậy. Nhưng não trạng Ki-tô thì khác. Không phải chỉ thương xót tha thứ thôi đâu, mà còn phải đi xa hơn nữa, đó là yêu thương kẻ thù là điều Thiên Chúa đã dạy con cái Người qua Đức Ki-tô.


c) Hướng về đời sống cộng đoàn
Hơn lúc nào hết, cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại quê nhà cũng như hải ngoại cần phải bước ra khỏi lối sống cá nhân, đèn ai nhà nấy rạng, để dấn thân vào đời sống cộng đoàn nhiều hơn. Chúng ta không truyền giáo một cách đơn độc, cá nhân, nhưng như một cộng đoàn. Đời sống yêu thương bác ái là một bài giảng hùng hồn nhất và một chứng từ có sức mạnh lớn lao nhất. Phải chăng Thánh Thần của Thiên Chúa ít được chúng ta để tâm tới cho nên chúng ta cứ “làm phiền lòng” Người? Phải chăng chúng ta không nhận ra những dấu chỉ của sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần giữa cộng đoàn, nên chúng ta tưởng cộng đoàn là của riêng chúng ta và chúng ta muốn làm gì thì làm, bất kể bác ái yêu thương là gì, miễn là chúng ta không bị “làm phiền lòng”!
Lời khuyên của thánh Phao-lô tuy ngắn gọn, nhưng vô cùng thâm sâu và cốt lõi, đi thẳng vào những nhược điểm của con người. Lời khuyên càng ngắn gọn và rõ ràng thì sứ điệp càng mạnh mẽ và thúc giục chúng ta thực hành dễ dàng hơn. Mong được như vậy nơi mỗi anh chị em Ki-tô hữu chúng ta.


Câu hỏi gợi ý chia sẻ


Nhận định về đời sống cộng đoàn của tôi một cách khiêm nhượng và thẳng thắn. Tôi rút được những bài học nào về sự chia rẽ rạn nứt và về bác ái yêu thương nhau?
Thái độ nào của tôi dễ làm tổn thương tình bác ái cộng đoàn nhiều nhất? Tôi có ý thức điều ấy trước đây không? Tôi phải làm gì để sửa đổi?
Não trạng của tôi là não trạng nào? Của người đời hay của Chúa Ki-tô? Tôi học hỏi và tập sống não trạng Ki-tô ở đâu và như thế nào?


Cầu nguyện kết thúc


Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát bài “Đâu có tình yêu thương”.


Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XVIII Thường Niên


06/8. Thứ Năm. Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung. Ðn 7,9-10.13-14; 2Pr 1,16-19; Mc 9,1-9
Tin Mừng - Mc 9,1-9

Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia cùng Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu.
Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?"

Suy Niệm
Ngày lễ Chúa Giêsu Hiển Dung nhắc nhở tôi về sự biến đổi trong đời sống đạo. Chúa Giêsu đã biến hình trước các môn đệ “áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết”. Theo Chúa cũng thế, mỗi ngày tôi phải nên mới, nên trắng hơn bởi đời sống trong sạch.
Muốn được thế đòi hỏi phải “leo núi”, phải đổ mồ hôi nghĩa là phải chịu cực khổ. Và đôi khi phải chấp nhận vấp váp trên đường đi lên, nhưng không chấp nhận thụt lùi vì Chúa Giêsu đã phán rõ: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa” (Lc 9,62)
Khi làm một cuộc biến đổi, từ cuộc đời tối tăm tội lỗi trở nên trắng tinh thánh thiện, chắc chắn tôi sẽ đẹp lòng Thiên Chúa và ngày gặp Chúa tôi cũng sẽ nghe Chúa dịu dàng phán bảo: “Ðây là con Ta yêu dấu”.
Lạy Chúa Giêsu, theo Chúa là phải chịu lên núi cao để được biến đổi. Xin dạy chúng con khi sống ở đời cũng hướng tâm hồn lên trên cao thượng giới, để sống giáo huấn từ Trời và ngày sau được sum vầy với Chúa trên cõi phúc ngàn thu. Amen

06/08/2015 - Thứ Năm Mùa Thường Niên Năm B



Lễ Chúa Hiển Dung
PHÚC ÂM: Mc 9, 1-9

"Đây là Con Ta yêu dấu".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia cùng Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu.
Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông.
Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?" Đó là lời Chúa.

CHIA SẺ :
Ngày lễ Chúa Giêsu Hiển Dung nhắc nhở chúng ta về sự biến đổi trong đời sống đạo. Chúa Giêsu đã biến hình trước các môn đệ “áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như tuyết”. Theo Chúa cũng thế, mỗi ngày chúng ta phải nên mới, nên trắng hơn bởi đời sống trong sạch.
Muốn được thế đòi hỏi phải “leo núi”, phải đổ mồ hôi nghĩa là phải chịu cực khổ. Và đôi khi phải chấp nhận vấp váp trên đường đi lên, nhưng không chấp nhận thụt lùi vì Chúa Giêsu đã phán rõ: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa” (Lc 9,62)
Khi làm một cuộc biến đổi, từ cuộc đời tối tăm tội lỗi trở nên trắng tinh thánh thiện, chắc chắn chúng ta sẽ đẹp lòng Thiên Chúa và ngày gặp Chúa chúng ta cũng sẽ nghe Chúa dịu dàng phán bảo: “Ðây là con Ta yêu dấu”.
Lạy Chúa Giêsu, theo Chúa là phải chịu lên núi cao để được biến đổi. Xin dạy chúng con khi sống ở đời cũng hướng tâm hồn lên trên cao thượng giới, để sống giáo huấn từ Trời và ngày sau được sum vầy với Chúa trên cõi phúc ngàn thu. Amen.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

05/08/2015 Thứ Tư Tuần XVIII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 15, 21-28
"Này bà, bà có lòng mạnh tin".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: "Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm".

Nhưng Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: "Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi". Người trả lời: "Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel".
Nhưng bà kia đến lạy Người mà nói: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi". Người đáp: "Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó". Bà ấy đáp lại: "Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống".
Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: "Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy". Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Mahatma Gandhi, người có công giành độc lập cho Ấn Ðộ bằng con đường bất bạo động, đã có lần tuyên bố: "Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi không phục những người Kitô hữu". Câu nói của con người đã từng lấy giáo lý của Chúa Kitô làm nền tảng cho chủ trương bất bạo động đáng làm cho chúng ta suy nghĩ.
Giáo lý của Chúa Kitô thì cao đẹp, nhưng nhiều Kitô hữu làm cho bao nhiêu người xa lánh Giáo Hội, chỉ vì cuộc sống của họ đi ngược lại với những gì họ tuyên xưng. Người ta thường nói: "Bà con xa không bằng láng giềng gần". Ðôi khi chúng ta cảm thấy gần gũi với những người láng giềng hơn là với những người thân thuộc. Trong liên hệ với Chúa Giêsu cũng thế, có biết bao người chưa từng được nghe nói đến Chúa Giêsu, có biết bao người không mang danh hiệu Kitô, nhưng lại gần gũi với Chúa Kitô và sống tinh thần Kitô hơn chính những người Kitô hữu.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là trên Thiên đàng, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô hay đặt chân đến nhà thờ.
Thời Chúa Giêsu, có biết bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do thái. Trước hết, tiên tri Isaia đã từng khiển trách lòng giả dối của người Do thái: "Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta". Thời Chúa Giêsu, có biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Ðền thờ, và có lẽ cũng không hề thuộc toàn bộ lề luật của Môsê, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo một cách hình thức, Chúa Giêsu đã cảnh cáo: "Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời; nhưng là những kẻ thực thi ý Chúa".
Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Môsê, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó, con người gặp gỡ Chúa Giêsu.
Trong một hoàn cảnh mà cái nhìn của con người có thể cho là tuyệt vọng, người Kitô hữu hơn bao giờ hết được mời gọi để nêu cao niềm tin của mình. Ðây là thời điểm để họ chứng tỏ bản sắc đích thực của mình. Trong cuộc sống chỉ có nghi kỵ và hận thù, họ được mời gọi để đốt lên ngọn đuốc của yêu thương. Trong một xã hội bị gậm nhấm bởi chán nản tuyệt vọng, họ được mời gọi để mang lại niềm hy vọng. Chỉ khi nào giữ đúng vai trò đó, người Kitô hữu mới thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.AMEN.

4.8.2015 – Thứ ba, sau Chúa Nhật XVIII Thường Niên


« Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ »
(Mt 14, 22-36)

22 Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng.23 Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió.
25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy! “, và sợ hãi la lên.27 Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “28 Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”29 Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến! ” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su.30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với! “31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? “
32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay.33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! “

34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét.35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người.36Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi.
(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

Suy niệm
 Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu giục các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia Biển Hồ, còn Chúa thì ở lại giải tán dân chúng, rồi Chúa lên núi cầu nguyện một mình. Giữa đêm khuya, thuyền của các môn đệ bị sóng đánh vì ngược gió. Đối với người Do thái, biển cả là nơi trú ngụ của các thần lực sự dữ; đêm khuya tượng trưng cho sự thống trị của ma quỷ. Chính lúc các môn đệ cảm thấy mình hoàn toàn bất lực, Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các ông, nhưng các ông không nhận ra Chúa Giêsu, tưởng là mình gặp ma. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã trấn an họ: "Thầy đây, đừng sợ". Khi có Chúa hiện diện thì gió yên biển lặng, mọi nỗi sợ hãi tan biến và các môn đệ tìm lại được bình an. Các ông cùng tuyên xưng đức tin: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa". Lời tuyên xưng này đồng thời cũng là lời biểu lộ một sự tín thác nơi Chúa.
 Cuộc đời con người nhiều khi gặp phải phong ba bão táp như con tàu trên biển cả. Mọi sự chung quanh đều chao đảo, bấp bênh. Nhưng chính trong thử thách và trong bão tố mà "đức tin nhỏ bé, kém cỏi" của chúng ta được thẩm định và thực hành. Bên cạnh đó, Chúa Giêsu chấp nhận sự yếu đuối của chúng ta và Chúa còn mời gọi chúng ta hãy có thái độ như Phêrô : "Lạy Thầy, xin cứu con!" (Mt 14, 30). Chính lúc đó, Chúa sẽ đi trên mặt nước đến gần chúng ta, giơ tay kéo chúng ta lên. Một điều tiên quyết là chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối vào Chúa.
Cầu nguyện
Lạy Thiên Chúa, xin cứu chúng con biết tín thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh như Tổ Phụ Ápraham và như Đức Maria đã tin vào Chúa.


Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVIII Thường Niên


CỨ AN TÂM ĐỪNG SỢ

LỜI CHÚA: Mt 14, 22-36
22Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.24Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió.25Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. 27Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”28Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. 29Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu.30Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” 31Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin!” Sao lại hoài nghi?” 32Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng.33Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”. 34Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35Dân địa phương nhận ra Đức Giêsu, liền tung tin khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người Thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.
SUY NIỆM
Giả sử có lần nào đó chúng ta thực hiện chuyến du thuyền trên biển. Đang vui chơi thì bất ngờ biển nổi cơn sóng gió khiến chiếc thuyền chao đảo. Mỗi người sẽ ứng phó như thế nào: la hét, sợ hãi kêu cứu hay để mặc cho cơn sóng dập vùi đẩy đưa. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một kinh nghiệm để vượt qua những hoàn cảnh khó khăn đó.
Thánh sử Matthêu thuật lại rằng: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núiriêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”. Đang đi giữa biển thì cuồng phong nổi lên như muốn nhận chìm con thuyền nhỏ khiến các môn đệ vô cùng hoảng sợ, trong khi đó Đức Giêsu vẫn bình tĩnh cầu nguyện như không có chuyện gì xảy ra. Vốn là những ngư dân đầy kinh nghiệm trên Biển Hồ,các môn đệ thuộc từng con sóng,biết được chỗ nào nước sâu có nhiều cá. Vì thế dù có ra giữa biển, các ông vẫn tự tin lướt sóng. Thế nhưng khi phải đối diện với cơn sóng gió ập đến bất ngờ, các ông không có cách chi chèo chống và hoảng sợ la lên.Chúa Giêsu đã để sóng gió nổi lên như muốn thử thách đức tin yếu kém của các ông. Thái độ hoài nghi đã làm con mắt các môn đệ trở nên mờ tối khiến các ông không còn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Các ông chỉ còn nhìn thấy bóng ma của sự tối tăm và chết chóc. Sau khi nghe các môn đệ cầu cứu, Đức Giêsu đã đi trên mặt biển đến trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Sau đó Đức Giêsu truyền cho ông Phêrô đi trên mặt nước mà đến với Người. Mặc dù vậy, ông Phêrô vẫn hoảng sợ kêu cứu đến nỗi Đức Giêsu phải đưa tay ra nắm lấy ông.Qua biến cố này, Đức Giêsu biểu lộ cho các môn đệ thấy quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa khiến mọi thế lực trần gian phải khuất phục, đồng thời Người cũng cho các ông biết sự yếu đuối của loài người.
Sau khi sóng yên biển lặng, mọi người trong thuyền đều phải bái phục Đức Giêsu và tuyên xưng: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” Với tư cách là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu có sứ mạng quan trọng là đến trần gian để cứu chuộc nhân loại. Vì thế khi Đức Giêsu vừa vào tới đất liền, dân chúng tuôn đến đem theo tất cả những người đau ốm đểđược chữa lành.
Đứng trước cơn sóng biển bất ngờ, Phêrô tỏ ra hoảng sợ nhưng ông đã có được một kinh nghiệm quý báu, đó là nhận biết mình yếu đuối và tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Khi mặc lấy thân phận con người, Đức Giêsu thấu hiểu những yếu đuối của loài người, trong đó có Phêrô. Người không bỏ rơi Phêrô nhưng muốn ông thức tỉnh để ông đừng cậy dựa vào sức mình, đừng hoảng sợ mà đánh mất niềm tin. Chúa Giêsu luôn xuất hiện và cứu Phêrô vào những phút cuối cùng nguy hiểm nhất.
Kinh nghiệm của Phêrô cũng là kinh nghiệm cho mỗi người chúng ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Đức Giêsu không bao giờ bỏ rơi các môn đệ, Người vẫn hiện diện bên cạnh để giáo huấn và nâng đỡ đức tin cho các ông. Chúa Giêsu đã đưa tay ra nắm lấy tay Phêrô như người cha luôn nắm chặt bàn tay của đứa con nhỏ.Thiên Chúa không chơi trò cút bắt, đôi lúc Người để cho chúng ta mất tất cả không còn chỗ nào bám víu, lúc đó chúng ta mới biết cậy dựa vào Thiên Chúa.
Thiên Chúa không bao giờ từ chối lời cầu xin của chúng ta bởi chúng ta là đối tượng được Người yêu thương và cứu chuộc. Tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh kỳ diệu, mạnh hơn sự chết, cao hơn những suy tưởng và sâu hơn những yếu đuối của loài người. Nói như thánh Gioan tông đồ “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại một tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1 Ga 4, 18). Đức Giêsu đã yêu chúng ta bằng một tình yêu nhưng không, Ngài gánh lấy mọi tội lỗi và chịu chết để đem ơn cứu độ cho chúng ta. Nếu thực sự yêu mến và tin tưởng Thiên Chúa,cho dù hoàn cảnh nào chúng ta không bao giờ sợ hãi thất vọng.
Đã bao lần trong đời sống chúng ta từ chối tình yêu Thiên Chúa, đó là lúc chúng ta từ chối cái “nắm tay” của Người. Chúng ta tự mãn nghĩ mình có đủ tài năng chèo chống con thuyền của cuộc đời mình bằng tiền bạc vật chất, bằng sức mạnh của thế gian để rồi bị trượt ngã thảm thương. Chúng ta tự quyết định con đường tương lai và vận mệnh đời mình mà không cần đến sự trợ giúp của Chúa. Chúng ta không phải là thiên thần để bước đi theo Chúa một cách thanh thoát. Chúng ta bước đi bằng đôi chân nặng nề của đam mê tội lỗi khiến đôi chân ấy cứ lún sâu xuống và muốn ngã quỵ. Chúng ta không dám tin tưởng để cho Chúa dẫn dắt mà chỉ lo bám vào thế lực của con người, ngó ngác trông đợi mong tìm vào một nhánh cây khô mục ruỗng. Chúng ta không nhìn lên phía trước để tiến bước mà cứ nhìn xuống vực sâu, nhìn vào dòng nước cuồn cuộn để rồi sợ hãi khốn khổ.
Tội lỗi, yếu đuối vốn là bản tính của loài người. Vì thế Thiên Chúa hằng trợ giúp chúng ta bằng những lời giáo huấn, bằng ân sủng thiêng liêng qua các bí tích. Điều quan trọng là chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối và luôn cần đến lòng thương xót của Chúa. Nói như thánh Phaolô tông đồ, chỉ khi nhận biết mình yếu đuối, chúng ta mới chấp nhận để cho quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động. Thiên Chúa luôn ban ơn cần thiết và vừa đủ để chúng ta thắng vượt mọi sự yếu đuối “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12, 9).
Nhân loại và Giáo Hội hôm nay cũng đang đối mặt với nhiều sóng gió của thế lực trần gian, nhiều tư tưởng sai lạc khiến niềm tin chao đảo. Người tín hữu đang phải gánh chịu những bất công xã hội,sự hận thù chia rẽ, luân lý đạo đức xuống dốc. Đời sống các gia đình đang gặp nhiều khủng hoảng khiến hạnh phúc gia đình rạn nứt. Chúng ta đang phải đối diện với nhiều nỗi sợ hãi: sợ thiếu ăn thiếu mặc, sợ già, sợ cô đơn, sợ bị bỏ rơi...và trên hết mọi nỗi sợ đó là sợ chết. Ước gì chúng ta biết đặt trọn niềm tin cậy nơi Thiên Chúa để được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi. Ước gì chúng ta trung thành sống theo những giá trị của Tin Mừng để tìm thấy nguồn sự sống và hạnh phúc đích thực.
Lạy Chúa Giêsu, đường đời chúng con không phải lúc nào cũng bằng phẳng, chiếc thuyền đời con không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, xin cho chúng con biết tin tưởng Chúa luôn hiện diện và đồng hành để chúng con an tâm tiến bước. Lạy Chúa Giêsu, có nhiều lúc chúng con cũng chao đảo bởi những khó khăn thử thách, xin hãy giang rộng cánh tay của Ngài cho con nắm giữ. Không, sức con yếu đuối, bàn tay con quá nhỏ bé không thể nắm chặt tay Chúa. Cái nắm tay của con lỏng lẻo dễ dàng tuột mất, còn cái nắm tay của Chúa chắc chắn khiến con an lòng. Xin Chúa hãy nắm lấy tay con, tay con trong tay Chúa dù biển đời có sóng gió thì thuyền con vẫn về tới bến bờ bình an. Amen.
Nt. Maria Anh Thư. OP

04/08/2015 Thứ Ba Tuần XVIII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 14, 22-36
"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.

Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa" và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ". Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến". Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con". Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!"

Khi đã sang qua biển hồ, các ngài lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa phương liền loan tin đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết mọi kẻ ốm đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai đã rờ đến thì đều được chữa lành. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả niềm tin vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Ðiều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng thấu suốt lòng người. Chúa biết rõ chúng con đang ước muốn gì. Xin thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi những ước ao bất chính, và thay thế bằng những ước muốn đạo đức, tốt lành.AMEN.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XVIII Thường Niên

03/8. Thứ Hai. Ds 11,4b-15; Mt 14,13-21

Bài Ðọc I - Ds 11,4b-15

Trong những ngày ấy, con cái Israel nói rằng: "Ai sẽ cho chúng tôi thịt ăn? Chúng tôi nhớ lại hồi còn ở Ai-cập, cá thì được ăn không, rồi có dưa chuột, dưa gang, rau cải, hành tỏi. Giờ thì chúng tôi suy nhược, thiếu hết mọi thứ: quay đi ngó lại chỉ thấy manna".

Manna hình giống hạt ngò, sắc giống hạt châu. Dân chúng đi rảo quanh mà hốt, rồi cho vào cối mà xay hoặc lấy chày mà giã; sau cùng, bỏ vào nồi nấu thành bánh. Mùi vị nó như bánh chiên dầu. Cứ thường đêm, khi sương sa xuống trại thì manna cũng rơi xuống.

Môsê nghe dân chúng than khóc, nhà nào cũng đứng ở cửa lều. Chúa bừng bừng nổi giận. Môsê rất đỗi bực mình. Ông thưa cùng Chúa rằng: "Sao Chúa làm khổ tôi tớ Chúa? Sao con không được nghĩa với Chúa? Sao Chúa bắt con phải mang cả dân này? Con đâu có cưu mang cả đám dân này, con đâu có sinh ra nó, mà Chúa bảo con: "Hãy ẵm nó vào lòng, như vú nuôi ẵm trẻ thơ, hãy mang nó vào đất Ta đã thề hứa ban cho tổ tiên nó?" Con biết tìm đâu ra thịt để cho cả đám dân này? Họ kêu khóc với con rằng: "Hãy cho chúng tôi ăn thịt". Một mình con không mang nổi dân này vì là gánh nặng nề đối với con. Nếu Chúa muốn xử với con như thế, thì xin giết con đi, và cho con được nghĩa với Chúa, kẻo con phải khốn cực dường này".

Tin Mừng - Mt 14,13-21

Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ và chữa những người bệnh tật trong họ.

Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi: xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn".

Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy".

Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.

Suy Niệm

Lời Chúa hôm nay nhắc cho tôi về thái độ khi đối diện với khó khăn và cách giải quyết của Thiên Chúa.

Mang sứ mạng giải thoát và dẫn đưa dân Chúa vào miền Đất Hứa, Môsê phải lắm phen cực khổ vì đối diện với khó khăn từ đám dân mà ông cưu mang. Họ đòi uống khi khát, đòi ăn khi đói,…và hồi tưởng lại kiếp sống nô lệ nhưng được no bụng: “Chúng tôi nhớ lại hồi còn ở Ai-cập, cá thì được ăn không, rồi có dưa chuột, dưa gang, rau cải, hành tỏi. Giờ thì chúng tôi suy nhược, thiếu hết mọi thứ: quay đi ngó lại chỉ thấy manna”. Môsê than thở với Chúa: "Sao Chúa làm khổ tôi tớ Chúa? Sao con không được nghĩa với Chúa? Sao Chúa bắt con phải mang cả dân này? Con đâu có cưu mang cả đám dân này, con đâu có sinh ra nó”. Lời kể khổ này hàm chứa sự bất lực; vì cảm thấy có một mình, cảm thấy yếu kém trước trách nhiệm nặng nề.

Tôi gặp lại thái độ yếu kém này của các môn đệ Chúa Giêsu khi họ trình này với Ngài: “Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá”. Các ông cũng nói lên sự yếu kém của mình trước nhu cầu quá lớn của đám đông dân chúng.

Tuy nhiên, khi ý thức sự yếu kém của mình, các ông lại kinh nghiệm được sự can thiệp huyền nhiệm của Thiên Chúa. Sự yếu kém của con người nếu đặt trong tay Chúa sẽ trở nên lớn lao. Chúa Giêsu kêu các môn đệ đem cá và bánh cho Ngài. Và từ 5 chiếc bánh và 2 con cá, Ngài đã làm thỏa cơn đói của năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ và dư 12 thúng đầy.

Điều này hướng tôi đến sự tín thác vào Chúa. Tôi yếu kém và nhỏ nhoi, nhưng “có thể làm được mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Lạy Chúa, đôi khi con thấy mình nhỏ nhoi, yếu kém không đủ điều kiện để làm việc này việc kia… Xin dạy con biết tín thác vào Chúa, vì đối với Chúa không có gì là không thể. Amen.

NGÀY 3-8-2015 THỨ HAI TUẦN XVIII THƯỜNG NIÊN

Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (Mt 14,13-21)

Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ và chữa những người bệnh tật trong họ.
Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi: xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn". Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy". Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ. Đó là Lời Chúa.

Đức Thánh cha Phanxicô trong tông chiếu: “Gương mặt của lòng thương xót Chúa”, đã nói rõ Chúa Giêsu chính là gương mặt đó.  Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, và lòng thương xót đó đã được biểu tỏ một cách tụ thể tỏ tường qua Đức Giêsu Kitô. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã khẳng định: Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa trở nên hữu hình trong lòng thương xót của Ngài. Và có thể nói:
Đức Kitô chính là lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Matthêu đã trình bày về lòng thương xót của Thiên Chúa qua Đức Giêsu khi ngài diễn tả: Đức Kitô đưa mắt nhìn và chạnh lòng thương  đoàn dân đang đi theo Người. Chạnh lòng thương vì dân bơ vơ như không có người chăn, chạnh lòng thương vì dân đang đói khát sự công chính mà không ai chỉ dẫn, chạnh long thương vì dân đang trong cảng túng thiêu mà không ai quan tâm. Sự chạnh long thương  bắt nguồn từ một Thiên Chúa đầy lòng xót thương. Mang lấy trái tim hiền phụ của Cha, Chúa Giêsu đã lệnh cho các môn đệ hãy cho họ ăn, cho dẫu Chúa biết ở giữa vùng hoang vắng nầy lấy đâu lương thực cho đủ hơn 5000 người ăn. Sự chạnh lòng thương  vượt xa khỏi tính toán của trí khôn con người, chỉ còn lại sự định lượng của trái tim. Vâng, những khó khăn của cuộc sống sẽ được giải quyết nếu có sự rộng lượng của con người đóng góp vào với lòng thương  xót của Thiên Chúa, phép lạ sẽ xảy ra.  Hai con cá và 5 chiéc bánh nuôi hơn 5000 người ăn, vượt ra khỏi tính toán của trí khôn, đó là hệ quả của lòng thương  xót Chúa. Chỉ có tình yêu mới có thể làm cho điều kỳ diệu xuất hiện.

Lạy Chúa, người thời đại đang ra sức học hỏi đủ thứ về các kỹ thuật mà khoa học mang tới, và họ hãnh diện  về những phát minh cúa khoa học, thế nhưng sự phát triển đó chẳng mang lại một sự kỳ diệu nào ngoài việc xuất hiện nhiều hơn sự hận thù, chiến tranh và giết hại lẫn nhau. Tệ hơn nữa con người càng ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ với tha nhân, mối tương giao giữa người với người ngày càng trở nên khó khăn vì một lối sống hưởng thụ ích ký, thiếu xẻ chia. Khoa học không kiến tạo lòng thương xót, vì vậy lạy Chúa, xin chỉ bảo chúng con luôn nỗ lực học  yêu, vì chỉ có tình yêu mới đem lại những điều kỳ diệu trong cuộc sống . Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

03.08.2015 – Thứ hai Tuần 18 Thường niên



Lời Chúa: Mt 14, 13-21
Khi được tin ông Gioan Tẩy giả đã bị giết chết, Ðức Giêsu lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông từ các thành đi bộ mà theo Người. Ra khỏi thuyền, Ðức Giêsu trông thấy một đám người đông đúc thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.
Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”. Ðức Giêsu bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” Các ông đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!” Người bảo: “Ðem lại đây cho Thầy!” Rồi sau đó, Người truyền cho đám đông ngả mình trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được ăn no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ em.
Suy niệm
Sau khi nghe biết về cái chết bi thảm của ông Gioan Tiền hô, Chúa Giêsu xuống thuyền và lánh đi đến một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông dân chúng lũ lượt theo Người, và họ còn đến nơi trước cả Người. Trông thấy họ, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương "vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt" (Mt 9,36). Thế là Người lại hòa mình vào giữa đám đông để chữa bệnh cho họ. Điều này gợi lên hình ảnh người mục tử tốt lành nơi Chúa Giêsu : Người mục tử đã hết lòng vì đoàn chiên, không nỡ để con chiên phải chịu đau khổ và phải nhịn đói khi đến với mình. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cộng tác với Người để cung cấp thức ăn cho dân chúng. Cũng như những lần làm phép lạ, Chúa Giêsu đều muốn cho con người cộng tác với Người để phép lạ xảy ra, thì ở đây Chúa cũng muốn chính các môn đệ cộng tác. Dù chỉ là chút lương thực với năm chiếc bánh và hai con cá cũng đủ để Người thực hiện phép lạ hóa bánh và cá cho năm ngàn người ăn no nê.
Là kitô hữu, chúng ta cần noi theo cách cư xử của Chúa Giêsu để giúp đỡ người khác. Chúng ta cần có trái tim của Chúa, trái tim đập những nhịp đập yêu thương. Bằng sự thương cảm sâu sắc trước những tình cảnh của anh chị em, chúng ta hãy quan tâm đến những hoàn cảnh sống của họ với trái tim đầy tình yêu thương. Trong thế giới ngày nay, sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn đến độ "người ăn không hết kẻ lần không ra". Do đó, cơm bánh vật chất càng trở nên thiết yếu hơn cho con người. Chính vì thế, chúng ta không được thu vén cho riêng bản thân mình mà quên người bên cạnh, vì ta đang sống giữa anh chị em thiếu thốn chờ đợi ta chia sẻ. Chúng ta cần phải ra khỏi tình trạng cô lập để chia sẻ hiệp thông với mọi người.
Lạy Chúa Giêsu, khi thấy đoàn lũ dân chúng lầm than vất vưởng, Chúa đã chạnh lòng thương: chăm sóc, chữa lành các bệnh nhân và cho từng người được ăn no. Khi làm như thế, Chúa muốn chúng con cộng tác với Chúa để giúp đỡ anh chị em đang thiếu thốn không chỉ về vật chất nhưng quan trọng hơn là những người đang đói khát sự sống thiêng liêng. Xin cho chúng con luôn biết tín thác vào Chúa. Xin Chúa biến đổi con tim chúng con trở nên con tim của Chúa để chúng con luôn biết cảm thông với anh chị em. Amen.



Người phong cùi




Có một người phong cùi quần áo rách nát hằng ngày ngồi xin bố thí bên vệ đường. Thỉnh thoảng cũng có những người qua đường mủi lòng để rơi một vài đồng xu vào trong cái mũ lá đặt bên chân người ấy. Có điều lạ là người ăn xin đó không hề tỏ dấu hiệu biết ơn nào, không một lời nói cũng không một nụ cười, hoặc một cái gật đầu.

Một hôm, có người thường xuyên đi ngang qua lối đó thấy vậy liền dừng lại và không khỏi ngạc nhiên lên tiếng hỏi người phong cùi xin bố thí:
- Tại sao ông không một lời hoặc một cử chỉ biết ơn nào đối với những người tỏ lòng trắc ẩn bố thí cho ông?

Người phong cùi thản nhiên đáp:

- Nhưng tại sao tôi phải cám ơn họ? Thiên Chúa đã muốn dùng tôi như cơ hội tốt đẹp để họ có dịp làm việc thiện, làm một cử chỉ nhân từ, một hành động bác ái. Có lẽ tốt hơn là họ phải cám ơn Chúa vì sự bất hạnh khốn cùng của tôi để nhờ đó mà họ có công nghiệp đáng được vào Nước Trời.

Nghe vậy, khách qua đường mỉm cười mỉa mai bỏ đi trong lòng thầm nghĩ người ấy hoặc là mất trí hoặc là vô ơn. Nhưng câu trả lời của người phong cùi cứ văng vẳng bên tai làm cho vị khách qua đường phải hồi tâm suy nghĩ. Sau cùng, người ấy tự nhủ: "Xét cho kỹ thì người phong cùi hẳn có lý. Thực ra, bất kỳ việc tốt gì chúng ta làm cho người khác, tức là làm cho chính mình vậy". Từ ngày đó trở đi, mỗi lần đi ngang qua người phong cùi ăn xin bên vệ đường, người ấy luôn rút trong túi ra hai đồng tiền, một đồng để làm phúc bác ái cho người phong cùi, còn một đồng để tỏ lòng biết ơn người ấy.

* * *

Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng vội vàng và dễ dàng xét đoán cách nông cạn và sai lầm về việc làm của những người khác. Lời nói của người phong cùi nghe như lời nói của kẻ vô ơn, tệ bạc là lời thức tỉnh lòng ích kỷ tự nhiên của con người và nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải quan tâm đến những người chung quanh chúng ta. Lắm khi chính chúng ta sai lầm khi nghĩ rằng thực thi đức bác ái chỉ là một lời khuyên bảo tốt, một việc làm thêm có thể làm hoặc cũng có thể bỏ qua. Trái lại, theo tinh thần Phúc Âm Chúa Kitô thì thực thi đức bác ái là một bổn phận nòng cốt trong đời sống người tín hữu. Trong Phúc Âm Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng: "Các con phải thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con". Hơn thế nữa, lòng bác ái thương người là một vinh dự của các môn đệ Chúa, bởi vì "Hễ điều gì các con làm cho một trong những người hèn mọn là các con làm cho chính Thầy vậy" (Mt 26,45).

Lòng bác ái theo tinh thần Phúc Âm còn đi xa hơn cán cân công bằng của người thế trần: mắt đền mắt, răng thế răng, trái lại, "Cần phải yêu thương cả thù địch và làm điều tốt cho những người thù ghét các con nữa, có như thế những người khác mới nhận biết rằng các con là môn đệ của Thầy được". Chúa Giêsu dạy chúng ta cần phải nhắm cao và nhìn xa thấy rộng hơn trên con đường của đức bác ái. Có lần Chúa Giêsu nói với người đã mời Ngài tới dùng bữa rằng "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông. Và như thế ông được đáp lễ rồi. Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật và què quặt đui mù. Họ sẽ không có gì đáp lễ và như thế ông mới thật có phúc vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại".

Tình thương nhưng không và vô vị lợi của Chúa Giêsu được thể hiện ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm cứu độ. Tin mừng Ðấng cứu thế giáng trần đã không được loan báo cho những người giàu sang, quyền cao, chức trọng, nhưng trước tiên là cho các mục đồng, những tâm hồn đơn thành luôn rộng mở tâm hồn đón nhận tình thương của Chúa. Họ không có gì để đáp đền tình thương Chúa ngoài việc hiến dâng cho Ngài sự khó nghèo của họ. Giữa đêm khuya giá lạnh họ đã tới sưởi ấm cho Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn biết ơn của họ.

Lạy Chúa Giêsu là thái tử hòa bình, là vua tình thương.
Xin ban cho con quả tim quảng đại như Chúa, luôn vươn lên cao, vượt qua mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình của Chúa. Xin ban cho con trái tim đủ lớn để con biết khiêm tốn đến với người con không ưa và để tỏ lòng biết ơn với cả những người vô ơn nữa. Amen



Hai người đàn ông





Hai người đàn ông cùng bắt đầu một cuộc hành trình. Họ đem theo một con lừa để chở hành lý, một ngọn đuốc để soi đường khi đêm xuống và một con gà để làm bạn với chú lừa. Trong hai người đàn ông, một người thì rất sùngđạo, người còn lại thì theo chủ nghĩa hoài nghi. Trên cuộc hành trình hai người chỉ nói về Thiên Chúa. Người thứ nhất nói:

- Trong mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng tốt lành.
Người thứ hai nói:
- Rồi chúng ta hãy xem lời ông nói có ứng nghiệm trong cuộc hành trình này không.
Họ bắt đầu khởi hành. Chẳng bao lâu đã đến một thành phố. Màn đêm buông xuống, họ đi tới đi lui để tìm chỗ trọ qua đêm nhưng chẳng ai thèm để ý đến và chẳng có ai nhường chỗ cho họ nghỉ lại qua đêm. Cuối cùng, họ lại tiếp tục đi. Một lúc sau, hai người đã ra khỏi thành phố. Ðến một nơi vắng vẻ họ quyết định dừng lại nghỉ đêm tại đó. Liền sau đó, người theo chủ nghĩa hoài nghi nói với bạn đồng hành của mình một cách mỉa mai:
- Ô, Thiên Chúa anh nói thì luôn tốt lành mới để cho chúng ta phải ở ngoài như thế này.
Người bạn thứ hai trả lời:
- Thiên Chúa đã quyết định đây là chỗ nghỉ đêm tốt nhất cho chúng ta.
Ðêm đó, họ cùng nhau ngủ trên một cây cao làm mốc ngăn cách nội và ngoại thành bên cạnh con đường chính dẫn vào thành phố. Họ buộc con lừa ở một nơi xa họ một đoạn, sau đó cũng để con gà bên cạnh con lừa. Họ leo lên cây và ngủ. Khi họ vừa leo lên cây đã nghe tiếng của con sư tử, nó đang bắt lấy con lừa của họ và lôi đi. Ngay lập tức, chẳng co ai bảo ai, hai người cùng leo cao hơn nữa để cùng nhau tránh sư tử. Hai người chưa hoàn hồn thì người theo chủ nghĩa hoài nghi hỏi bạn đồng hành của mình trong sự bực tức:
- Này anh bạn, Thiên Chúa vẫn còn là Ðấng tốt lành đấy chứ? Bây giờ thì con lừa của chúng ta đã bị nộp cho sư tử rồi.
Người bạn thứ hai trả lời:
- Nếu sư tử không bắt con lừa thì chắc hẳn nó đã tấn công chúng ta rồi. Thiên Chúa luôn là Ðấng tốt lành nên chọn điều tốt nhất cho chúng ta.
Sau đó họ quyết định đi ngủ không tranh luận gì nữa. Khi hai người đồng ý im lặng thì họ nghe tiếng kêu của con gà. Nhìn xuống đã thấy con mèo rừng đang cắp con gà của họ và cấu xé. Người theo chủ nghĩa hoài nghi chưa kịp lên tiếng thì người bạn đã nói:
- Tiếng kêu của con gà lại một lần nữa cho chúng ta biết chúng ta vẫn được an toàn. Thiên Chúa thật là Ðấng tốt lành.
Vài phút sau đó, một cơn gió mạnh thổi đến dập tắt ngọn đuốc. Hai người chẳng biết làm gì chỉ nằm im trong bóng đêm dầy đặc. Người theo chủ nghĩa hoài nghi lại tiếp tục chế giễu:
- A ha, một lần nữa, sự biểu lộ sự tốt lành của Thiên Chúa lại lộ rõ. Có lẽ sự tốt lành ấy sẽ liên tục hành hạ chúng ta, tước khỏi chúng ta mọi sự.
Người thứ hai đáp lại bằng sự thinh lặng. Rồi cả hai cùng chìm vào giấc ngủ lúc nào cũng không hay biết. Sáng hôm sau, hai người trở lại thành phố để tìm mua thức ăn. Chẳng mấy chốc, họ nhận ta đêm qua một toán cướp đông đảo và hùng mạnh đã đột nhập vào thành phố và cướp đoạt hết tất cả của cải của dân chúng trong thành. Nghe biết điều đó, người bạn thứ hai nói:
- Cuối cùng. Mọi sự đã sáng tỏ và đã được chứng minh Thiên Chúa tốt lành. Nếu đêm qua chúng ta tìm được một chỗ trọ trong thành thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng còn sống cho tới lúc này. Và nếu ngọn đuốc của chúng ta không bị tắt thì có lẽ toán cướp đã nhận ra chúng ta và cũng chẳng để cho chúng ta yên.
Thiên Chúa mãi mãi là tốt lành. Ðó là sự xác tín của những người tin theo Chúa. Ước gì đó không chỉ là một lời tuyên xưng ngoài miệng của mỗi người chúng ta, của mỗi tín hữu kitô, mà nó phải là một lời tâm niệm, một động lực để chúng ta vượt qua những gian nan thử thách của cuộc sống vì biết rằng trong mọi hoàn cảnh và qua từng biến cố của cuộc đời, Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và Ngài vẫn chọn cho chúng ta phần tốt nhất.
Mùa Chay là thời gian để thanh luyện. Chúng ta thanh luyện con mắt, thanh luyện miệng lưỡi, quả tim, khối óc và toàn bộ con người của chúng ta trong tình yêu của Thiên Chúa, để chúng ta nhận ra sự hoàn hảo và tình thương quan phòng của Ngài. Chỉ khi chúng ta bị cuốn hút bởi sự tốt lành thánh thiện của Thiên Chúa, con người và cuộc sống của chúng ta mới thực sự được tỏ tường sự hoàn thiện của Thiên Chúa qua những việc làm, lời nói và cả con người của chúng ta.
Lạy Chúa
Xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con được thanh luyện và đổi mới, nhờ đó chúng con biết nhận ra Chúa và sự lành thánh của Ngài trong mọi biến cố của cuộc đời, để luôn ngợi ca và loan truyền sự công minh của Chúa cho mọi người.Amen

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

01/08/2015 Thứ Bảy Tuần XVII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 14, 1-12"Hêrôđê sai người đi chặt đầu Gioan, và các môn đệ của Gioan đi báo tin cho Chúa Giêsu".Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.Khi ấy quận vương Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: "Người này là Gioan Tẩy Giả, ông từ cõi chết sống lại, nên mới làm được các phép lạ như vậy". Tại vì Hêrôđia vợ của anh mình mà vua Hêrôđê đã bắt trói Gioan tống ngục, bởi Gioan đã nói với vua rằng: "Nhà vua không được lấy bà ấy làm vợ". Vua muốn giết Gioan, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi Gioan như một tiên tri. Nhân ngày sinh nhật của Hêrôđê, con gái Hêrôđia nhảy múa trước mặt mọi người, và đã làm cho Hêrôđê vui thích. Bởi đấy vua thề hứa sẽ ban cho nó bất cứ điều gì nó xin. Được mẹ nó dặn trước, nên nó nói: "Xin vua đặt đầu Gioan Tẩy Giả trên đĩa này cho con". Vua lo buồn, nhưng vì đã trót thề rồi, và vì các người đang dự tiệc, nên đã truyền làm như vậy. Ông sai người đi chặt đầu Gioan trong ngục, và để đầu Gioan trên đĩa đem trao cho cô gái, và nó đem cho mẹ nó. Các môn đồ của Gioan đến lấy xác thầy và chôn cất, rồi đi báo tin cho Chúa Giêsu. Đó là lời Chúa.CHIA SẺ PHÚC ÂM:Trong Tin Mừng hôm nay, tác giả hai lần nhắc đến Gioan Tẩy giả trong tương quan với Chúa Giêsu.Ở khởi đầu trình thuật, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì ông cho đó chính là Gioan Tẩy giả, người mà ông đã cho chém đầu nay sống lại. Ơn gọi của Gioan Tẩy giả như chính miệng ông Zacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho con mình: "Con là tiên tri của Ðấng tối cao, con sẽ đi trước dọn đường cho Ngài". Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn một cách tốt đẹp. Gioan chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến, không những bằng việc rao giảng thống hối, mà còn bằng chính cái chết vì trung thành với sự thật. Dung mạo của Gioan Tẩy giả loan báo dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu xuất hiện, vua Hêrôđê tưởng Ngài là hiện thân của Gioan Tẩy giả sống lại."Các con sẽ làm chứng về Thầy", đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: "Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng".Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm và trung thành với sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống mình, để giúp người khác đến với Chúa và tin nhận Chúa.Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã vượt qua những nỗi sợ cho bản thân để sống trọn thánh ý Chúa Cha. Xin cho chúng con biết noi gương Chúa, cũng vượt lên trên những nỗi sợ vu vơ của dư luận chê cười, của “ném đá” chê bai vì dám nói lên sự thật về Chúa và về con người. Xin cho chúng con không vì sợ mà đi xa đường lối Chúa. Amen.

01.08.2015 – Thứ bảy Tuần 17 Thường niên


"Lời Chúa: Mt 14, 1-12
Thời ấy, tiểu vương Hêrôđê nghe danh tiếng Ðức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: “Ðó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên quyền làm phép lạ mới tác động nơi ông.” Số là vua Hêrôđê đã bắt trói ông Gioan và tống ngục vì bà Hêrôđia, là vợ ông Philipphê, anh của nhà vua. Ông Gioan có nói với nhà vua: “Ngài không được phép lấy bà ấy.” Vua muốn giết ông Gioan, nhưng lại sợ đám đông, vì họ coi ông là ngôn sứ. Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hêrôđê, con gái bà Hêrôđia đã biểu diễn một vài điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gioan tẩy Giả đặt trên mâm.” Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem chôn, rồi đi báo cho Ðức Giêsu.

Suy niệm
 Hêrôđê với sức mạnh và uy quyền trong tay, ông đã làm một điều trái luân thường đạo lý là dụ dỗ và lấy chị dâu của mình làm vợ. Ông đã không nghe lời khuyên của Gioan Tẩy giả. Trái lại, ông còn bắt trói Gioan tống ngục và thủ tiêu. Điều này nói lên rằng, tâm hồn ông bất an, lương tâm ông không còn trong sáng. Ông đã không ngần ngại dùng những thủ đoạn gian ác để nhằm đạt được thỏa mãn cho riêng mình. Vì những hành động đó, ta thấy ông cũng là một con người yếu hèn: sợ hành vi sai trái của mình, sợ dân chúng và sợ mất danh dự. Còn Gioan Tẩy giả là một vị ngôn sứ sống trung thành với sứ mạng tiền hô của mình, được dân chúng kính nể. Ông đã can đảm nói lên sự thật dù biết rằng điều đó đe dọa đến chính mạng sống của mình. Ông thật xứng đáng là người dọn đường cho "Đấng là sự thật". Hêrôđê cảm thấy sợ khi phải đối diện với Gioan Tẩy giả, người tiền hô cho Đấng lả Chân Lý.
 Con người hôm nay đang sống trong hoàn cảnh xã hội mà vàng thau lẫn lộn, thật giả khó lường, cán cân công lý bị chi phối bởi sức mạnh của quyền lực và vật chất. Nhiều người chạy theo mục đích trước mắt bất chấp những phương tiện xấu. Xã hội được vận hành bằng sự dối trá, lừa lọc và muốn hất văng những gì là sự thật, chân lý. Tuy nhiên, vẫn còn đó những con người dám làm chứng cho sự thật và chân lý thì lại bị những quyền lưc cao nhất trong xã hội tấn công và loại trừ. Sống trong hoàn cảnh như thế, ta có thái độ như thế nào trước những bất công, sai trái? Ta có dám thẳng thắn, can đảm đối diện với sự thật hay ta im lặng, né tránh hay thoái lui trước sức mạnh của quyền lực? Sứ mạng của người làm chứng cho Tin Mừng Chúa Giêsu không gì khác hơn là dám nói sự thật, sống sự thật và làm chứng cho sự thật trong mọi biến cố của cuộc sống. Ta hãy nhìn vào cuộc đời của thánh Gioan Tẩy giả như một mẫu gương sống động trên hành trình bước theo Thầy Giêsu, Đấng là đường, là sự thật và là sự sống.

Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Xin ban cho chúng con được ơn can đảm sống theo tiếng lương tâm, dám đón nhận sự thật và làm chứng cho sự thật. Dù có phải chịu thiệt thòi, mất mát, hy sinh, thì chỉ khi sống theo sự thật, chúng con mới thuộc về Đấng là Ánh Sáng và Chân Lý. Amen.

CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN - B


Xh 16,2-4.12-15; Eph 4,17.20-24; Ga 6,24-35
T
ÍN THÁC NƠI CHÚA
“Chính tôi là bánh trường sinh. 
Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6,35)
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1: Xh 16,2-4.12-15
    Sách Xuất Hành là quyển thứ hai trong bộ Ngũ Thư, tức 5 quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh (Sáng Thế – Xuất Hành – Lê-vi – Dân Số và Đệ Nhị Luật). Về nội dung, sách Xuất Hành ghi lại hai cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu độ: Cuộc Xuất Hành của dân Israel khỏi Ai-cập (chương 1-18), và việc Thiên Chúa thiết lập Giao Ước với họ tại Núi Sinai (chương 19-40). Đây là hai sự kiện nền tảng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại. Có thể nói được, phần lớn các sách còn lại của Kinh Thánh phản ánh sự tương tác, giải thích, ứng dụng, hay kiện toàn chương trình cứu độ của Thiên Chúa như đã được Người mặc khải trong sách Xuất Hành. 
    Trong cuộc Xuất Hành khỏi Ai-cập, dân Israel đã gặp phải ba vấn nạn chính mà bất cứ ai đi trong sa mạc thường phải đối diện: vấn nạn về nước uống (Xh 15,22-27; 17,1-7), vấn nạn về lương thực (Xh 16), và vấn nạn về quân thù (Xh 17,8-16). Khi gặp phải những vấn nạn này, dân Israel thường kêu trách Moses và Aharon là hai nhà lãnh đạo Thiên Chúa đã đặt lên để dẫn dắt họ tiến về Đất Hứa. Xh 16, 3 ghi lại nội dung một trong những lời than trách đó: 
    “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!”
    Lời than trách này hàm ý: cuộc sống tại sa mạc này tồi tệ hơn nhiều so với cuộc sống tại Ai-cập; tại sao phải bỏ lại sau lưng cuộc sống tốt đẹp hơn để nhận về một cuộc sống cơ cực? Tại sao lại bỏ “sự sống” tại Ai-cập để ôm lấy “cái chết” tại sa mạc này ? 
    Đành rằng cuộc sống tại sa mạc bao giờ cũng khó khăn và đầy thử thách. Nhưng cuộc sống của dân Israel trước đó tại Ai-cập không phải là mầu hồng như họ cường điệu ở đây. Làm gì có cảnh dân Israel bình an “ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê”. Các chương đầu của Sách Xuất Hành cho chúng ta thấy rõ cuộc sống của họ tại đó thật cơ cực và tủi nhục. Hơn nữa, dân tộc của họ đang phải đối diện với nguy cơ bị diệt vong tại Ai-cập sau những chính sách tàn bạo của Pharaoh (x. chương 1 và chương 5). Như thế, đằng sau những lời than trách này là thái độ thiếu niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng vừa cho họ thấy cánh tay hùng mạnh của Người, khi Người dìm đoàn hùng binh của Pharaoh xuống lòng Biển Đỏ (x. Xh 14, 15-31). 
    Đứng trước lời than trách mang đậm tính kết án và thiếu niềm tin này, Thiên Chúa đã không đánh phạt dân, nhưng tỏ lòng xót thương họ, vì họ như một cậu thanh niên đang trong giai đoạn nổi loạn, rất cần nhận được sự tha thứ và kiên nhẫn từ phía cha mẹ trước khi cậu đạt đến độ tuổi trưởng thành. Thiên Chúa đã đáp trả những lời than trách ấy bằng việc Người hứa ban “bánh từ trời cho họ” (x. c4). 
    Thật vậy, Thiên Chúa đã ban cho dân thức ăn: chim cút vào ban chiều, và manna vào ban sáng. Ở đây, manna được mô tả chi tiết hơn, tạo được sự hứng thú nhiều hơn đối với dân Israel. Chi tiết văn chương này hàm ý: Manna sẽ có một vị thế quan trọng trong các bữa ăn thường ngày của dân Israel trên hành trình tiến về Đất Hứa. Còn chim cút thỉnh thoảng được ban, chứ không thường nhật như manna (x. Ds 11). Sách Giôsuê cho chúng ta biết, dân Israel dùng manna làm lương thực hằng ngày mãi cho đến khi họ cử hành xong đại lễ Vượt Qua tại vùng thảo nguyên Giêrikhô. Vào thời điểm đó, manna không còn nữa, và dân Israel bắt đầu dùng thổ sản trong đất Canaan (x. Gs 5,10-12). 
2. Bài đọc 2: Eph 4,17.20-24
    Thư gửi tín hữu Êphêsô có lẽ được thánh Phaolô viết khi ngài bị cầm tù tại Roma (x. Cv 28). Qua lá thư này, thánh Phaolô nhắc chúng ta về một chân lý quan trọng: Nhờ máu của Chúa Giêsu Kitô mà các tín hữu, dù là Do thái hay dân ngoại, đã được hiệp nhất thành một dân mới, thành một nhân loại mới (x. Ep 2,11-22). Vậy để chúng ta sống xứng đáng hơn với tư cách thành viên cao quí này, thánh Phaolô, qua Ep 4,17.20-24, khuyên các tín hữu cần phải biết cởi bỏ con người cũ, vốn bị những ham muốn lừa dối, để mặc lấy con người mới, vốn được thể hiện qua việc sống công chính và thánh thiện.  
3. Bài Tin Mừng: Ga 6,24-35
    Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu minh định: không ai khác nhưng chính Cha Ngài đã ban bánh từ trời xuống nuôi dân Israel trên hành trình họ tiến về Đất Hứa, như chúng ta đã tìm hiểu ở bài đọc 1. Hơn nữa, trong cách nói của mình, Chúa Giêsu còn đi xa hơn việc đề cập đến manna vật chất, khi Ngài đề cập đến “bánh đích thực”, “bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Bánh đích thực và trường sinh này chính là Ngài, để những ai thành tâm đến với Ngài, sẽ “không hề phải đói”, và ai tin vào Ngài, sẽ “chẳng khát bao giờ”. Như thế, Chúa Giêsu trở nên nguồn suối sự sống cho con người ở mọi thời. Cuộc sống của con người nhờ Ngài sẽ không còn bị giới hạn vào thế giới này, không còn bị đóng khung vào không gian và thời gian, nhưng vươn tới sự sống vĩnh cửu trường tồn. 
    Điều kiện để chúng ta có thể tiếp nhận được nguồn suối sự sống là chính Ngài, chính là việc chúng ta tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời Nhập Thể, là Đấng được Chúa Cha sai đến cứu độ trần gian. Niềm tin ấy, tuy nhiên, cần phải được thể hiện trong cuộc sống thường ngày của chúng ta bằng những hành động tốt đẹp, nhằm sinh hoa kết trái chân thiện mỹ ngay từ cuộc sống đời này, vì “đức tin mà không có hành động là đức tin chết” (x. Gc 2,17).

II. GỢI Ý SUY TƯ PHẢN TỈNH
1/ Thiên Chúa luôn tỏ lòng xót thương Dân Người. Dù họ kêu trách và chống đối hai nhà lãnh đạo Moses và Aharon, tức là chống đối chính Người, Người vẫn ban bánh từ trời xuống nuôi sống họ trong suốt 40 năm hành trình trong sa mạc để tiến về Đất Hứa. Có khi nào tôi thấy nơi mình cũng có thái độ trách móc, oán than Thiên Chúa, như dân Do-thái xưa kia, nhưng đồng thời cũng nghiệm thấy lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa đối với mình ?
2/ Thánh Phaolô khuyên chúng ta phải cởi bỏ “con người cũ” vốn bị những ham muốn lừa dối, vậy “con người cũ” là gì đối với tôi, và những ham muốn nào đang lừa dối tôi vào lúc này ? Làm thế nào để tôi có thể chiến thắng được con người cũ nơi mình ?
3/ Đức tin của tôi vào Chúa Giêsu Kitô hiện đang ở mức nào ? Ngài có thực sự là nguồn sống trường sinh của tôi vào lúc này, hay là tôi đang cậy dựa vào những thứ khác ? Nếu có, thì đâu là những thứ tôi đang bám vào ? Chúng có thực sự giúp tôi sống viên mãn không ? Làm thế nào niềm tin của tôi vào Chúa Giêsu mỗi ngày được thêm củng cố ?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa tình thương đã ban chính Con Một yêu dấu của Người làm “bánh ban sự sống” cho nhân loại. Cộng đoàn chúng ta hãy thành tâm cảm tạ Chúa và tin tưởng tha thiết nài xin.
1. “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.” - Chúng ta cùng cầu xin cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn ý thức chăm sóc đoàn chiên Chúa trao bằng lương thực thần linh, qua việc cử hành và cổ vũ lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể.
2. Chúa Giêsu nói :“Các ngươi hãy tin vào Ðấng Thiên Chúa sai đến.” - Chúng ta cùng cầu xin cho các dân tộc và quốc gia chưa đón nhận hay có thành kiến với niềm tin Kitô giáo, biết khao khát tìm kiếm chân lý và mở lòng trước Tin Mừng cứu độ mà Chúa Giêsu loan báo.
3. “Hãy ra công làm việc vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời.” - Chúng ta cùng cầu xin cho những ai đang chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, biết trân trọng và quan tâm đến những nhu cầu thiêng liêng để tìm thấy hạnh phúc đích thực và trường tồn.
4. “Hãy lột bỏ con người cũ và trở nên mới trong lòng trí anh em.” - Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, khi siêng năng tham dự thánh lễ và sốt sắng rước Chúa, được ơn thánh biến đổi trở nên những con người mới trong đời sống chứng tá.
Chủ tế: Lạy Chúa là nguồn mạch sự sống đời đời. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và rộng ban muôn ơn lành giúp chúng con biết nhiệt tâm phụng sự Chúa và phục vụ mọi người, hầu đáng được thông phần sự sống Chúa ban qua Đức Giêsu Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

ĐỨC GIÊSU, BÁNH TRƯỜNG SINH

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

(Ga 6,24-35).
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
1. Từ lương thực “mau hư nát”... đến lương thực “trường tồn":
       Sau phép lạ hóa bánh, Đức Giêsu “đã lánh mặt đi lên núi một mình”. “Chiều đến”, các môn đệ Người xuống thuyền đi sang “bên kia Biển Hồ”, còn Đức Giêsu lát sau đó “đi trên mặt biển” mà đến với các ông. Hôm sau đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển Hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Mọi người sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc “vượt qua” khác, sâu xa hơn nhiều: vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là bánh trường sinh.
- Trước tiên Chúa cảnh giác đánh thính giả của Người về mong muốn lệch lạc của họ. Họ có sự hiểu lầm về lương thực (xem sự hiểu lầm của phụ nữ Samari về nước uống): “Các ông đi tìm tôi, Chúa nói với họ, không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. X.Léon-Dufour nhận xét: “Động cơ thúc đẩy họ vẫn là mùi vị của bánh trần gian: họ đã không nhìn thấy trong ân huệ bánh dư thừa, dấu chỉ của một lương thực khác phải tìm kiếm, thứ lương thực thường tồn ban phúc trường sinh mà Con Người sẽ ban cho” (“Lecture de l'Evangile de Jean”, cuốn II, Seuil, trang 132). Chính thứ lương thực này mà con người phải khao khát được ăn; chính vì lương thực ấy mà con người phải “làm việc” để kiếm tìm.
- Ngộ nhận mới do những từ ngữ “làm”, “những việc” gợi nên. Dân chúng hỏi: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Theo họ nghĩ, đó là những việc bên ngoài mà Chúa đòi hỏi nơi những kẻ thờ phượng Người, như những nghi lễ và một số những việc khác.
Lập tức Đức Giêsu bắt họ bỏ qua “những việc” (số nhiều) để nghĩ đến “Việc Thiên Chúa” (số ít); bởi lẽ “việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”.
2. Từ “bánh bởi trời”... đến chính Đấng là “bánh trường sinh"
Những người đàm đạo với Chúa xem ra sẵn lòng tin nhận Người là Đấng Thiên Chúa sai đến, nhưng dẫu sao cũng có điều kiện: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?”.
Dân chúng vừa mới được thấy dấu lạ là bánh hóa nhiều, thế mà họ còn đòi xem một dấu lạ khác, thì kể cũng là lạ thường. Nhưng ta đừng quên câu chuyện mới xảy ra gần đây, khi những người miền Galilê này đã coi Đức Giêsu như Vị Ngôn sứ, đó là: theo truyền thống tiên tri, một dấu lạ được chứng thực là đúng thì phải được người thực hiện nó loan báo trước. X. Léon-Dufour còn nhấn mạnh: “Thực ra người ta không đòi hỏi Chúa thực hiện ngay dấu lạ, mà chỉ cần nói cho biết Người sẽ làm dấu lạ nào” (O.C., trang 134).
Giống như phụ nữ Samari nại đến tổ phụ Giacóp (4,12), những người Do Thái nại đến tổ phụ Ápraham, thì đám đông người miền Galilê nại đến Môsê, người đã bầu cử với Chúa ban cho có manna: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc”.
- Đức Giêsu đã bài bác lối giải thích của họ, dựa vào lời họ trưng dẫn trong sách Xuất hành mà làm bằng cứ:
+ Người ban manna, “bánh bởi trời” không phải là Môsê, như ý họ muốn nói, nhưng là Đấng mà Người gọi là “Cha” của Người.
+ Điều cải chính trên về ai là kẻ ban phát manna không chỉ nói về thời dĩ vãng xa xưa của cha ông họ khi Xuất Hành, mà còn liên quan tới thời buổi này đối với những kẻ đang nghe Chúa nói. Ân huệ manna đó được ban cho chính họ ngay lúc này, ơn huệ đó là đích thực. Lương thực Chúa Cha ban cho hôm nay làm cho hình ảnh manna tiên báo và những lời hứa của Luật được ứng nghiệm. X.Léon-Dufour viết tiếp: “Giữa quá khứ và tương lai thì đây là “hiện tại” của Thiên Chúa. Từ việc nhớ lại “manna trong sa mạc” (hồi ức) và khao khát “được ăn mãi thứ bánh ấy” (trông mong) người ta đạt tới thực tại mang tính bản thể” (O.C., trang 137).
+ Sau cùng “Bánh Thiên Chúa ban, bánh từ trời xuống” không chỉ dành riêng cho một mình dân Israel thôi. “Bánh đem lại sự sống cho thế gian” ấy, hết mọi dân tộc trên trái đất đều có quyền được hưởng.
- “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”, dân chúng liền nói, giống như phụ nữ Samari đã nói với Đức Giêsu bên bờ giếng Giacóp: “Thưa Ngài, xin Ngài cho tôi thứ nước ấy” (4,15).
- Với lời lẽ trang trọng Chúa nói với họ “chính tôi đây là bánh trường sinh”, bánh các ông ao ước ăn đó, là chính tôi đây. “Đức Giêsu làm ứng nghiệm nơi Người hình ảnh manna mang tính cánh chung vậy” (X.Léon-Dufour, Sđd, trang 136).
Bởi vậy, điều kiện duy nhất để được ăn bánh đó là “đến” với Người và “tin” vào Người. Vì tự coi mình là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa (Kn 9,1: bài đọc I Chúa nhật 20), là Nguồn sống đáp ứng được sự đói, khát của con người, Đức Giêsu trân trọng mời gọi anh em Người tới dùng bữa: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”.

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1.      “Từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Đấng mà dấu lạ biểu thị”
     (R.Josse trong “Célébrer” tạp chí của CNPL, số 240, trang 41).
Câu hỏi tỏ vẻ quan tâm ghi ở đầu trình thuật này ("Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy") cho thấy đám đông có phần nào bị lạc hướng. Họ đã tìm kiếm Đức Giêsu, nhưng không phải để hiểu biết Người: dấu lạ đã chỉ khơi dậy nơi lòng họ ước muốn có bánh ăn, chứ không phải niềm khao khát được ánh sáng soi rọi giúp hiểu biết về con người Đức Giêsu. Họ chẳng hiểu được ám chỉ về quyền năng của Con Người. Theo kiểu đối thoại, Tin Mừng Gioan lần lượt trình bày cho biết sự ngộ nhận do họ không hiểu biết.
Họ ỷ mình đã từng được biết câu chuyện manna ghi trong sách thánh. Đức Giêsu vịn vào lý lẽ của họ và hướng người nghe chú tâm đến Thiên Chúa: Môsê xưa đã cho các ngươi ăn bánh bởi trời, nhưng không phải là bánh bởi trời đích thực, mà chỉ là bánh nếm thôi. Trong Xuất Hành, manna nói lên ân huệ cụ thể thật cần thiết, là lương thực được cung cấp sáng chiều: người ta hầu như nghĩ tưởng đến trình thuật về sáng tạo, lực sáng tạo của Chúa hoạt động một cách vô cùng rộng rãi. Nhưng ân huệ ấy vì là dấu chỉ thôi thúc lòng tin, nên phải nhắc nhở (con người thụ hưởng) nhớ đến Đấng ban phát ơn tuy mắt không thấy, nhưng Ngài vẫn hiện diện và hoạt động, vẫn lèo lái con đường giải thoát. Bánh Chúa ban, lúc này đây, là chính Đấng từ trời xuống, Đấng đem lại sự sống cho thế gian.
Cuộc đối thoại sẽ còn dẫn đến một ngộ nhận mới cũng giống như ngộ nhận của phụ nữ Samari nơi Ga 4,15: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh đó!”. Nay Chúa không lấy một cái gì đó mà cho người ta, Chúa cho chính mình Người. Từ quan tâm đến việc Chúa làm, người ta chuyển quan tâm đến Người là ai. nghĩa là phải từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Đấng mà dấu lạ ấy biểu thị. Lòng tin vào Đức Kitô đòi phải có một chuyển biến sâu xa tự thâm căn con người vậy.
2.      “Lương thực đích thực”
 (Đức Cha L.Daloz, trong “Nous avons vu sa gloire”, Desclée de Brouwer, trang 81-82).

“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”. Lời khẳng định mạnh mẽ này phơi bày điều thầm kín từ đáy lòng họ. Họ đã biết đôi chút về Đức Giêsu. Họ đã muốn tôn Người làm vua, sau khi được thấy dấu lạ hóa bánh. Điều Chúa yêu cầu họ lúc này có tính cách bó buộc. Họ phải tin vào Người, phải từ bỏ những tính toán riêng tư để đem lòng tin cậy Người. Đó cũng chính là vấn đề quyết liệt được đặt ra cho tất cả những ai gặp gỡ Đức Giêsu, cho cả chính chúng ta nữa. Ta có nhận là không nhờ Người để rà xem những ý tưởng riêng tư của ta đúng hay sai, để thực hiện những chương trình của ta, mà trái lại ta biết nhờ Người giúp đi vào chương trình Người hoạch định, đi theo Người đến nơi Người muốn đưa ta đến? Những người đàm đạo với Chúa khi ấy lẫn tránh không muốn sự lựa chọn quyết liệt này. Họ muốn được kiểm chứng, họ cần phải có được một cuộc “giám định lại”, một dấu lạ khác... Họ không muốn dấn thân: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?”. Tuy họ đã được thấy dấu lạ về bánh, nhưng họ chưa lấy làm đủ. Nhân danh Sách Thánh họ từ khước Người: tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc. Cần phải có cái gì hơn thế mới có thể lay chuyển được họ, những con người được liệt vào bậc thầy về Kinh Thánh. Đối với người không tin Đức Giêsu, luôn luôn có cách tìm thoái thác. Thế nhưng Đức Giêsu vẫn tiếp tục cuộc đối thoại. Người đi cho tới cùng mặc khải Người đã bắt đầu. Người biện bác khởi đi từ chính vấn để họ đặt ra: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu. Ơn manna khi ấy chỉ là một ân huệ tạm thời, chỉ là một loan báo mà giờ đây mới có ý nghĩa đích thực. Chính việc hóa bánh ra nhiều cũng chỉ là một dấu chỉ. Chính Đức Giêsu mới là bánh đích thực, từ trời xuống để cho thế gian được sống: Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.