Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVIII Thường Niên


CỨ AN TÂM ĐỪNG SỢ

LỜI CHÚA: Mt 14, 22-36
22Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.24Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió.25Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. 27Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”28Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. 29Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu.30Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” 31Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin!” Sao lại hoài nghi?” 32Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng.33Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”. 34Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35Dân địa phương nhận ra Đức Giêsu, liền tung tin khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người Thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.
SUY NIỆM
Giả sử có lần nào đó chúng ta thực hiện chuyến du thuyền trên biển. Đang vui chơi thì bất ngờ biển nổi cơn sóng gió khiến chiếc thuyền chao đảo. Mỗi người sẽ ứng phó như thế nào: la hét, sợ hãi kêu cứu hay để mặc cho cơn sóng dập vùi đẩy đưa. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một kinh nghiệm để vượt qua những hoàn cảnh khó khăn đó.
Thánh sử Matthêu thuật lại rằng: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núiriêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”. Đang đi giữa biển thì cuồng phong nổi lên như muốn nhận chìm con thuyền nhỏ khiến các môn đệ vô cùng hoảng sợ, trong khi đó Đức Giêsu vẫn bình tĩnh cầu nguyện như không có chuyện gì xảy ra. Vốn là những ngư dân đầy kinh nghiệm trên Biển Hồ,các môn đệ thuộc từng con sóng,biết được chỗ nào nước sâu có nhiều cá. Vì thế dù có ra giữa biển, các ông vẫn tự tin lướt sóng. Thế nhưng khi phải đối diện với cơn sóng gió ập đến bất ngờ, các ông không có cách chi chèo chống và hoảng sợ la lên.Chúa Giêsu đã để sóng gió nổi lên như muốn thử thách đức tin yếu kém của các ông. Thái độ hoài nghi đã làm con mắt các môn đệ trở nên mờ tối khiến các ông không còn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Các ông chỉ còn nhìn thấy bóng ma của sự tối tăm và chết chóc. Sau khi nghe các môn đệ cầu cứu, Đức Giêsu đã đi trên mặt biển đến trấn an các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” Sau đó Đức Giêsu truyền cho ông Phêrô đi trên mặt nước mà đến với Người. Mặc dù vậy, ông Phêrô vẫn hoảng sợ kêu cứu đến nỗi Đức Giêsu phải đưa tay ra nắm lấy ông.Qua biến cố này, Đức Giêsu biểu lộ cho các môn đệ thấy quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa khiến mọi thế lực trần gian phải khuất phục, đồng thời Người cũng cho các ông biết sự yếu đuối của loài người.
Sau khi sóng yên biển lặng, mọi người trong thuyền đều phải bái phục Đức Giêsu và tuyên xưng: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” Với tư cách là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu có sứ mạng quan trọng là đến trần gian để cứu chuộc nhân loại. Vì thế khi Đức Giêsu vừa vào tới đất liền, dân chúng tuôn đến đem theo tất cả những người đau ốm đểđược chữa lành.
Đứng trước cơn sóng biển bất ngờ, Phêrô tỏ ra hoảng sợ nhưng ông đã có được một kinh nghiệm quý báu, đó là nhận biết mình yếu đuối và tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Khi mặc lấy thân phận con người, Đức Giêsu thấu hiểu những yếu đuối của loài người, trong đó có Phêrô. Người không bỏ rơi Phêrô nhưng muốn ông thức tỉnh để ông đừng cậy dựa vào sức mình, đừng hoảng sợ mà đánh mất niềm tin. Chúa Giêsu luôn xuất hiện và cứu Phêrô vào những phút cuối cùng nguy hiểm nhất.
Kinh nghiệm của Phêrô cũng là kinh nghiệm cho mỗi người chúng ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Đức Giêsu không bao giờ bỏ rơi các môn đệ, Người vẫn hiện diện bên cạnh để giáo huấn và nâng đỡ đức tin cho các ông. Chúa Giêsu đã đưa tay ra nắm lấy tay Phêrô như người cha luôn nắm chặt bàn tay của đứa con nhỏ.Thiên Chúa không chơi trò cút bắt, đôi lúc Người để cho chúng ta mất tất cả không còn chỗ nào bám víu, lúc đó chúng ta mới biết cậy dựa vào Thiên Chúa.
Thiên Chúa không bao giờ từ chối lời cầu xin của chúng ta bởi chúng ta là đối tượng được Người yêu thương và cứu chuộc. Tình yêu Thiên Chúa có sức mạnh kỳ diệu, mạnh hơn sự chết, cao hơn những suy tưởng và sâu hơn những yếu đuối của loài người. Nói như thánh Gioan tông đồ “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại một tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1 Ga 4, 18). Đức Giêsu đã yêu chúng ta bằng một tình yêu nhưng không, Ngài gánh lấy mọi tội lỗi và chịu chết để đem ơn cứu độ cho chúng ta. Nếu thực sự yêu mến và tin tưởng Thiên Chúa,cho dù hoàn cảnh nào chúng ta không bao giờ sợ hãi thất vọng.
Đã bao lần trong đời sống chúng ta từ chối tình yêu Thiên Chúa, đó là lúc chúng ta từ chối cái “nắm tay” của Người. Chúng ta tự mãn nghĩ mình có đủ tài năng chèo chống con thuyền của cuộc đời mình bằng tiền bạc vật chất, bằng sức mạnh của thế gian để rồi bị trượt ngã thảm thương. Chúng ta tự quyết định con đường tương lai và vận mệnh đời mình mà không cần đến sự trợ giúp của Chúa. Chúng ta không phải là thiên thần để bước đi theo Chúa một cách thanh thoát. Chúng ta bước đi bằng đôi chân nặng nề của đam mê tội lỗi khiến đôi chân ấy cứ lún sâu xuống và muốn ngã quỵ. Chúng ta không dám tin tưởng để cho Chúa dẫn dắt mà chỉ lo bám vào thế lực của con người, ngó ngác trông đợi mong tìm vào một nhánh cây khô mục ruỗng. Chúng ta không nhìn lên phía trước để tiến bước mà cứ nhìn xuống vực sâu, nhìn vào dòng nước cuồn cuộn để rồi sợ hãi khốn khổ.
Tội lỗi, yếu đuối vốn là bản tính của loài người. Vì thế Thiên Chúa hằng trợ giúp chúng ta bằng những lời giáo huấn, bằng ân sủng thiêng liêng qua các bí tích. Điều quan trọng là chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối và luôn cần đến lòng thương xót của Chúa. Nói như thánh Phaolô tông đồ, chỉ khi nhận biết mình yếu đuối, chúng ta mới chấp nhận để cho quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động. Thiên Chúa luôn ban ơn cần thiết và vừa đủ để chúng ta thắng vượt mọi sự yếu đuối “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12, 9).
Nhân loại và Giáo Hội hôm nay cũng đang đối mặt với nhiều sóng gió của thế lực trần gian, nhiều tư tưởng sai lạc khiến niềm tin chao đảo. Người tín hữu đang phải gánh chịu những bất công xã hội,sự hận thù chia rẽ, luân lý đạo đức xuống dốc. Đời sống các gia đình đang gặp nhiều khủng hoảng khiến hạnh phúc gia đình rạn nứt. Chúng ta đang phải đối diện với nhiều nỗi sợ hãi: sợ thiếu ăn thiếu mặc, sợ già, sợ cô đơn, sợ bị bỏ rơi...và trên hết mọi nỗi sợ đó là sợ chết. Ước gì chúng ta biết đặt trọn niềm tin cậy nơi Thiên Chúa để được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi. Ước gì chúng ta trung thành sống theo những giá trị của Tin Mừng để tìm thấy nguồn sự sống và hạnh phúc đích thực.
Lạy Chúa Giêsu, đường đời chúng con không phải lúc nào cũng bằng phẳng, chiếc thuyền đời con không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, xin cho chúng con biết tin tưởng Chúa luôn hiện diện và đồng hành để chúng con an tâm tiến bước. Lạy Chúa Giêsu, có nhiều lúc chúng con cũng chao đảo bởi những khó khăn thử thách, xin hãy giang rộng cánh tay của Ngài cho con nắm giữ. Không, sức con yếu đuối, bàn tay con quá nhỏ bé không thể nắm chặt tay Chúa. Cái nắm tay của con lỏng lẻo dễ dàng tuột mất, còn cái nắm tay của Chúa chắc chắn khiến con an lòng. Xin Chúa hãy nắm lấy tay con, tay con trong tay Chúa dù biển đời có sóng gió thì thuyền con vẫn về tới bến bờ bình an. Amen.
Nt. Maria Anh Thư. OP

04/08/2015 Thứ Ba Tuần XVIII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 14, 22-36
"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.

Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa" và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ". Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến". Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con". Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!"

Khi đã sang qua biển hồ, các ngài lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa phương liền loan tin đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết mọi kẻ ốm đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai đã rờ đến thì đều được chữa lành. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả niềm tin vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Ðiều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng thấu suốt lòng người. Chúa biết rõ chúng con đang ước muốn gì. Xin thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi những ước ao bất chính, và thay thế bằng những ước muốn đạo đức, tốt lành.AMEN.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XVIII Thường Niên

03/8. Thứ Hai. Ds 11,4b-15; Mt 14,13-21

Bài Ðọc I - Ds 11,4b-15

Trong những ngày ấy, con cái Israel nói rằng: "Ai sẽ cho chúng tôi thịt ăn? Chúng tôi nhớ lại hồi còn ở Ai-cập, cá thì được ăn không, rồi có dưa chuột, dưa gang, rau cải, hành tỏi. Giờ thì chúng tôi suy nhược, thiếu hết mọi thứ: quay đi ngó lại chỉ thấy manna".

Manna hình giống hạt ngò, sắc giống hạt châu. Dân chúng đi rảo quanh mà hốt, rồi cho vào cối mà xay hoặc lấy chày mà giã; sau cùng, bỏ vào nồi nấu thành bánh. Mùi vị nó như bánh chiên dầu. Cứ thường đêm, khi sương sa xuống trại thì manna cũng rơi xuống.

Môsê nghe dân chúng than khóc, nhà nào cũng đứng ở cửa lều. Chúa bừng bừng nổi giận. Môsê rất đỗi bực mình. Ông thưa cùng Chúa rằng: "Sao Chúa làm khổ tôi tớ Chúa? Sao con không được nghĩa với Chúa? Sao Chúa bắt con phải mang cả dân này? Con đâu có cưu mang cả đám dân này, con đâu có sinh ra nó, mà Chúa bảo con: "Hãy ẵm nó vào lòng, như vú nuôi ẵm trẻ thơ, hãy mang nó vào đất Ta đã thề hứa ban cho tổ tiên nó?" Con biết tìm đâu ra thịt để cho cả đám dân này? Họ kêu khóc với con rằng: "Hãy cho chúng tôi ăn thịt". Một mình con không mang nổi dân này vì là gánh nặng nề đối với con. Nếu Chúa muốn xử với con như thế, thì xin giết con đi, và cho con được nghĩa với Chúa, kẻo con phải khốn cực dường này".

Tin Mừng - Mt 14,13-21

Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ và chữa những người bệnh tật trong họ.

Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi: xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn".

Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy".

Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.

Suy Niệm

Lời Chúa hôm nay nhắc cho tôi về thái độ khi đối diện với khó khăn và cách giải quyết của Thiên Chúa.

Mang sứ mạng giải thoát và dẫn đưa dân Chúa vào miền Đất Hứa, Môsê phải lắm phen cực khổ vì đối diện với khó khăn từ đám dân mà ông cưu mang. Họ đòi uống khi khát, đòi ăn khi đói,…và hồi tưởng lại kiếp sống nô lệ nhưng được no bụng: “Chúng tôi nhớ lại hồi còn ở Ai-cập, cá thì được ăn không, rồi có dưa chuột, dưa gang, rau cải, hành tỏi. Giờ thì chúng tôi suy nhược, thiếu hết mọi thứ: quay đi ngó lại chỉ thấy manna”. Môsê than thở với Chúa: "Sao Chúa làm khổ tôi tớ Chúa? Sao con không được nghĩa với Chúa? Sao Chúa bắt con phải mang cả dân này? Con đâu có cưu mang cả đám dân này, con đâu có sinh ra nó”. Lời kể khổ này hàm chứa sự bất lực; vì cảm thấy có một mình, cảm thấy yếu kém trước trách nhiệm nặng nề.

Tôi gặp lại thái độ yếu kém này của các môn đệ Chúa Giêsu khi họ trình này với Ngài: “Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá”. Các ông cũng nói lên sự yếu kém của mình trước nhu cầu quá lớn của đám đông dân chúng.

Tuy nhiên, khi ý thức sự yếu kém của mình, các ông lại kinh nghiệm được sự can thiệp huyền nhiệm của Thiên Chúa. Sự yếu kém của con người nếu đặt trong tay Chúa sẽ trở nên lớn lao. Chúa Giêsu kêu các môn đệ đem cá và bánh cho Ngài. Và từ 5 chiếc bánh và 2 con cá, Ngài đã làm thỏa cơn đói của năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ và dư 12 thúng đầy.

Điều này hướng tôi đến sự tín thác vào Chúa. Tôi yếu kém và nhỏ nhoi, nhưng “có thể làm được mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Lạy Chúa, đôi khi con thấy mình nhỏ nhoi, yếu kém không đủ điều kiện để làm việc này việc kia… Xin dạy con biết tín thác vào Chúa, vì đối với Chúa không có gì là không thể. Amen.

NGÀY 3-8-2015 THỨ HAI TUẦN XVIII THƯỜNG NIÊN

Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (Mt 14,13-21)

Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ và chữa những người bệnh tật trong họ.
Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi: xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn". Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy". Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ. Đó là Lời Chúa.

Đức Thánh cha Phanxicô trong tông chiếu: “Gương mặt của lòng thương xót Chúa”, đã nói rõ Chúa Giêsu chính là gương mặt đó.  Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, và lòng thương xót đó đã được biểu tỏ một cách tụ thể tỏ tường qua Đức Giêsu Kitô. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã khẳng định: Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa trở nên hữu hình trong lòng thương xót của Ngài. Và có thể nói:
Đức Kitô chính là lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Matthêu đã trình bày về lòng thương xót của Thiên Chúa qua Đức Giêsu khi ngài diễn tả: Đức Kitô đưa mắt nhìn và chạnh lòng thương  đoàn dân đang đi theo Người. Chạnh lòng thương vì dân bơ vơ như không có người chăn, chạnh lòng thương vì dân đang đói khát sự công chính mà không ai chỉ dẫn, chạnh long thương vì dân đang trong cảng túng thiêu mà không ai quan tâm. Sự chạnh long thương  bắt nguồn từ một Thiên Chúa đầy lòng xót thương. Mang lấy trái tim hiền phụ của Cha, Chúa Giêsu đã lệnh cho các môn đệ hãy cho họ ăn, cho dẫu Chúa biết ở giữa vùng hoang vắng nầy lấy đâu lương thực cho đủ hơn 5000 người ăn. Sự chạnh lòng thương  vượt xa khỏi tính toán của trí khôn con người, chỉ còn lại sự định lượng của trái tim. Vâng, những khó khăn của cuộc sống sẽ được giải quyết nếu có sự rộng lượng của con người đóng góp vào với lòng thương  xót của Thiên Chúa, phép lạ sẽ xảy ra.  Hai con cá và 5 chiéc bánh nuôi hơn 5000 người ăn, vượt ra khỏi tính toán của trí khôn, đó là hệ quả của lòng thương  xót Chúa. Chỉ có tình yêu mới có thể làm cho điều kỳ diệu xuất hiện.

Lạy Chúa, người thời đại đang ra sức học hỏi đủ thứ về các kỹ thuật mà khoa học mang tới, và họ hãnh diện  về những phát minh cúa khoa học, thế nhưng sự phát triển đó chẳng mang lại một sự kỳ diệu nào ngoài việc xuất hiện nhiều hơn sự hận thù, chiến tranh và giết hại lẫn nhau. Tệ hơn nữa con người càng ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ với tha nhân, mối tương giao giữa người với người ngày càng trở nên khó khăn vì một lối sống hưởng thụ ích ký, thiếu xẻ chia. Khoa học không kiến tạo lòng thương xót, vì vậy lạy Chúa, xin chỉ bảo chúng con luôn nỗ lực học  yêu, vì chỉ có tình yêu mới đem lại những điều kỳ diệu trong cuộc sống . Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

03.08.2015 – Thứ hai Tuần 18 Thường niên



Lời Chúa: Mt 14, 13-21
Khi được tin ông Gioan Tẩy giả đã bị giết chết, Ðức Giêsu lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông từ các thành đi bộ mà theo Người. Ra khỏi thuyền, Ðức Giêsu trông thấy một đám người đông đúc thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.
Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”. Ðức Giêsu bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” Các ông đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!” Người bảo: “Ðem lại đây cho Thầy!” Rồi sau đó, Người truyền cho đám đông ngả mình trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được ăn no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ em.
Suy niệm
Sau khi nghe biết về cái chết bi thảm của ông Gioan Tiền hô, Chúa Giêsu xuống thuyền và lánh đi đến một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông dân chúng lũ lượt theo Người, và họ còn đến nơi trước cả Người. Trông thấy họ, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương "vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt" (Mt 9,36). Thế là Người lại hòa mình vào giữa đám đông để chữa bệnh cho họ. Điều này gợi lên hình ảnh người mục tử tốt lành nơi Chúa Giêsu : Người mục tử đã hết lòng vì đoàn chiên, không nỡ để con chiên phải chịu đau khổ và phải nhịn đói khi đến với mình. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cộng tác với Người để cung cấp thức ăn cho dân chúng. Cũng như những lần làm phép lạ, Chúa Giêsu đều muốn cho con người cộng tác với Người để phép lạ xảy ra, thì ở đây Chúa cũng muốn chính các môn đệ cộng tác. Dù chỉ là chút lương thực với năm chiếc bánh và hai con cá cũng đủ để Người thực hiện phép lạ hóa bánh và cá cho năm ngàn người ăn no nê.
Là kitô hữu, chúng ta cần noi theo cách cư xử của Chúa Giêsu để giúp đỡ người khác. Chúng ta cần có trái tim của Chúa, trái tim đập những nhịp đập yêu thương. Bằng sự thương cảm sâu sắc trước những tình cảnh của anh chị em, chúng ta hãy quan tâm đến những hoàn cảnh sống của họ với trái tim đầy tình yêu thương. Trong thế giới ngày nay, sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn đến độ "người ăn không hết kẻ lần không ra". Do đó, cơm bánh vật chất càng trở nên thiết yếu hơn cho con người. Chính vì thế, chúng ta không được thu vén cho riêng bản thân mình mà quên người bên cạnh, vì ta đang sống giữa anh chị em thiếu thốn chờ đợi ta chia sẻ. Chúng ta cần phải ra khỏi tình trạng cô lập để chia sẻ hiệp thông với mọi người.
Lạy Chúa Giêsu, khi thấy đoàn lũ dân chúng lầm than vất vưởng, Chúa đã chạnh lòng thương: chăm sóc, chữa lành các bệnh nhân và cho từng người được ăn no. Khi làm như thế, Chúa muốn chúng con cộng tác với Chúa để giúp đỡ anh chị em đang thiếu thốn không chỉ về vật chất nhưng quan trọng hơn là những người đang đói khát sự sống thiêng liêng. Xin cho chúng con luôn biết tín thác vào Chúa. Xin Chúa biến đổi con tim chúng con trở nên con tim của Chúa để chúng con luôn biết cảm thông với anh chị em. Amen.



Người phong cùi




Có một người phong cùi quần áo rách nát hằng ngày ngồi xin bố thí bên vệ đường. Thỉnh thoảng cũng có những người qua đường mủi lòng để rơi một vài đồng xu vào trong cái mũ lá đặt bên chân người ấy. Có điều lạ là người ăn xin đó không hề tỏ dấu hiệu biết ơn nào, không một lời nói cũng không một nụ cười, hoặc một cái gật đầu.

Một hôm, có người thường xuyên đi ngang qua lối đó thấy vậy liền dừng lại và không khỏi ngạc nhiên lên tiếng hỏi người phong cùi xin bố thí:
- Tại sao ông không một lời hoặc một cử chỉ biết ơn nào đối với những người tỏ lòng trắc ẩn bố thí cho ông?

Người phong cùi thản nhiên đáp:

- Nhưng tại sao tôi phải cám ơn họ? Thiên Chúa đã muốn dùng tôi như cơ hội tốt đẹp để họ có dịp làm việc thiện, làm một cử chỉ nhân từ, một hành động bác ái. Có lẽ tốt hơn là họ phải cám ơn Chúa vì sự bất hạnh khốn cùng của tôi để nhờ đó mà họ có công nghiệp đáng được vào Nước Trời.

Nghe vậy, khách qua đường mỉm cười mỉa mai bỏ đi trong lòng thầm nghĩ người ấy hoặc là mất trí hoặc là vô ơn. Nhưng câu trả lời của người phong cùi cứ văng vẳng bên tai làm cho vị khách qua đường phải hồi tâm suy nghĩ. Sau cùng, người ấy tự nhủ: "Xét cho kỹ thì người phong cùi hẳn có lý. Thực ra, bất kỳ việc tốt gì chúng ta làm cho người khác, tức là làm cho chính mình vậy". Từ ngày đó trở đi, mỗi lần đi ngang qua người phong cùi ăn xin bên vệ đường, người ấy luôn rút trong túi ra hai đồng tiền, một đồng để làm phúc bác ái cho người phong cùi, còn một đồng để tỏ lòng biết ơn người ấy.

* * *

Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng vội vàng và dễ dàng xét đoán cách nông cạn và sai lầm về việc làm của những người khác. Lời nói của người phong cùi nghe như lời nói của kẻ vô ơn, tệ bạc là lời thức tỉnh lòng ích kỷ tự nhiên của con người và nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải quan tâm đến những người chung quanh chúng ta. Lắm khi chính chúng ta sai lầm khi nghĩ rằng thực thi đức bác ái chỉ là một lời khuyên bảo tốt, một việc làm thêm có thể làm hoặc cũng có thể bỏ qua. Trái lại, theo tinh thần Phúc Âm Chúa Kitô thì thực thi đức bác ái là một bổn phận nòng cốt trong đời sống người tín hữu. Trong Phúc Âm Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng: "Các con phải thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con". Hơn thế nữa, lòng bác ái thương người là một vinh dự của các môn đệ Chúa, bởi vì "Hễ điều gì các con làm cho một trong những người hèn mọn là các con làm cho chính Thầy vậy" (Mt 26,45).

Lòng bác ái theo tinh thần Phúc Âm còn đi xa hơn cán cân công bằng của người thế trần: mắt đền mắt, răng thế răng, trái lại, "Cần phải yêu thương cả thù địch và làm điều tốt cho những người thù ghét các con nữa, có như thế những người khác mới nhận biết rằng các con là môn đệ của Thầy được". Chúa Giêsu dạy chúng ta cần phải nhắm cao và nhìn xa thấy rộng hơn trên con đường của đức bác ái. Có lần Chúa Giêsu nói với người đã mời Ngài tới dùng bữa rằng "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông. Và như thế ông được đáp lễ rồi. Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật và què quặt đui mù. Họ sẽ không có gì đáp lễ và như thế ông mới thật có phúc vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại".

Tình thương nhưng không và vô vị lợi của Chúa Giêsu được thể hiện ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm cứu độ. Tin mừng Ðấng cứu thế giáng trần đã không được loan báo cho những người giàu sang, quyền cao, chức trọng, nhưng trước tiên là cho các mục đồng, những tâm hồn đơn thành luôn rộng mở tâm hồn đón nhận tình thương của Chúa. Họ không có gì để đáp đền tình thương Chúa ngoài việc hiến dâng cho Ngài sự khó nghèo của họ. Giữa đêm khuya giá lạnh họ đã tới sưởi ấm cho Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn biết ơn của họ.

Lạy Chúa Giêsu là thái tử hòa bình, là vua tình thương.
Xin ban cho con quả tim quảng đại như Chúa, luôn vươn lên cao, vượt qua mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình của Chúa. Xin ban cho con trái tim đủ lớn để con biết khiêm tốn đến với người con không ưa và để tỏ lòng biết ơn với cả những người vô ơn nữa. Amen



Hai người đàn ông





Hai người đàn ông cùng bắt đầu một cuộc hành trình. Họ đem theo một con lừa để chở hành lý, một ngọn đuốc để soi đường khi đêm xuống và một con gà để làm bạn với chú lừa. Trong hai người đàn ông, một người thì rất sùngđạo, người còn lại thì theo chủ nghĩa hoài nghi. Trên cuộc hành trình hai người chỉ nói về Thiên Chúa. Người thứ nhất nói:

- Trong mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng tốt lành.
Người thứ hai nói:
- Rồi chúng ta hãy xem lời ông nói có ứng nghiệm trong cuộc hành trình này không.
Họ bắt đầu khởi hành. Chẳng bao lâu đã đến một thành phố. Màn đêm buông xuống, họ đi tới đi lui để tìm chỗ trọ qua đêm nhưng chẳng ai thèm để ý đến và chẳng có ai nhường chỗ cho họ nghỉ lại qua đêm. Cuối cùng, họ lại tiếp tục đi. Một lúc sau, hai người đã ra khỏi thành phố. Ðến một nơi vắng vẻ họ quyết định dừng lại nghỉ đêm tại đó. Liền sau đó, người theo chủ nghĩa hoài nghi nói với bạn đồng hành của mình một cách mỉa mai:
- Ô, Thiên Chúa anh nói thì luôn tốt lành mới để cho chúng ta phải ở ngoài như thế này.
Người bạn thứ hai trả lời:
- Thiên Chúa đã quyết định đây là chỗ nghỉ đêm tốt nhất cho chúng ta.
Ðêm đó, họ cùng nhau ngủ trên một cây cao làm mốc ngăn cách nội và ngoại thành bên cạnh con đường chính dẫn vào thành phố. Họ buộc con lừa ở một nơi xa họ một đoạn, sau đó cũng để con gà bên cạnh con lừa. Họ leo lên cây và ngủ. Khi họ vừa leo lên cây đã nghe tiếng của con sư tử, nó đang bắt lấy con lừa của họ và lôi đi. Ngay lập tức, chẳng co ai bảo ai, hai người cùng leo cao hơn nữa để cùng nhau tránh sư tử. Hai người chưa hoàn hồn thì người theo chủ nghĩa hoài nghi hỏi bạn đồng hành của mình trong sự bực tức:
- Này anh bạn, Thiên Chúa vẫn còn là Ðấng tốt lành đấy chứ? Bây giờ thì con lừa của chúng ta đã bị nộp cho sư tử rồi.
Người bạn thứ hai trả lời:
- Nếu sư tử không bắt con lừa thì chắc hẳn nó đã tấn công chúng ta rồi. Thiên Chúa luôn là Ðấng tốt lành nên chọn điều tốt nhất cho chúng ta.
Sau đó họ quyết định đi ngủ không tranh luận gì nữa. Khi hai người đồng ý im lặng thì họ nghe tiếng kêu của con gà. Nhìn xuống đã thấy con mèo rừng đang cắp con gà của họ và cấu xé. Người theo chủ nghĩa hoài nghi chưa kịp lên tiếng thì người bạn đã nói:
- Tiếng kêu của con gà lại một lần nữa cho chúng ta biết chúng ta vẫn được an toàn. Thiên Chúa thật là Ðấng tốt lành.
Vài phút sau đó, một cơn gió mạnh thổi đến dập tắt ngọn đuốc. Hai người chẳng biết làm gì chỉ nằm im trong bóng đêm dầy đặc. Người theo chủ nghĩa hoài nghi lại tiếp tục chế giễu:
- A ha, một lần nữa, sự biểu lộ sự tốt lành của Thiên Chúa lại lộ rõ. Có lẽ sự tốt lành ấy sẽ liên tục hành hạ chúng ta, tước khỏi chúng ta mọi sự.
Người thứ hai đáp lại bằng sự thinh lặng. Rồi cả hai cùng chìm vào giấc ngủ lúc nào cũng không hay biết. Sáng hôm sau, hai người trở lại thành phố để tìm mua thức ăn. Chẳng mấy chốc, họ nhận ta đêm qua một toán cướp đông đảo và hùng mạnh đã đột nhập vào thành phố và cướp đoạt hết tất cả của cải của dân chúng trong thành. Nghe biết điều đó, người bạn thứ hai nói:
- Cuối cùng. Mọi sự đã sáng tỏ và đã được chứng minh Thiên Chúa tốt lành. Nếu đêm qua chúng ta tìm được một chỗ trọ trong thành thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng còn sống cho tới lúc này. Và nếu ngọn đuốc của chúng ta không bị tắt thì có lẽ toán cướp đã nhận ra chúng ta và cũng chẳng để cho chúng ta yên.
Thiên Chúa mãi mãi là tốt lành. Ðó là sự xác tín của những người tin theo Chúa. Ước gì đó không chỉ là một lời tuyên xưng ngoài miệng của mỗi người chúng ta, của mỗi tín hữu kitô, mà nó phải là một lời tâm niệm, một động lực để chúng ta vượt qua những gian nan thử thách của cuộc sống vì biết rằng trong mọi hoàn cảnh và qua từng biến cố của cuộc đời, Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và Ngài vẫn chọn cho chúng ta phần tốt nhất.
Mùa Chay là thời gian để thanh luyện. Chúng ta thanh luyện con mắt, thanh luyện miệng lưỡi, quả tim, khối óc và toàn bộ con người của chúng ta trong tình yêu của Thiên Chúa, để chúng ta nhận ra sự hoàn hảo và tình thương quan phòng của Ngài. Chỉ khi chúng ta bị cuốn hút bởi sự tốt lành thánh thiện của Thiên Chúa, con người và cuộc sống của chúng ta mới thực sự được tỏ tường sự hoàn thiện của Thiên Chúa qua những việc làm, lời nói và cả con người của chúng ta.
Lạy Chúa
Xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con được thanh luyện và đổi mới, nhờ đó chúng con biết nhận ra Chúa và sự lành thánh của Ngài trong mọi biến cố của cuộc đời, để luôn ngợi ca và loan truyền sự công minh của Chúa cho mọi người.Amen

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

01/08/2015 Thứ Bảy Tuần XVII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Mt 14, 1-12"Hêrôđê sai người đi chặt đầu Gioan, và các môn đệ của Gioan đi báo tin cho Chúa Giêsu".Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.Khi ấy quận vương Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: "Người này là Gioan Tẩy Giả, ông từ cõi chết sống lại, nên mới làm được các phép lạ như vậy". Tại vì Hêrôđia vợ của anh mình mà vua Hêrôđê đã bắt trói Gioan tống ngục, bởi Gioan đã nói với vua rằng: "Nhà vua không được lấy bà ấy làm vợ". Vua muốn giết Gioan, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi Gioan như một tiên tri. Nhân ngày sinh nhật của Hêrôđê, con gái Hêrôđia nhảy múa trước mặt mọi người, và đã làm cho Hêrôđê vui thích. Bởi đấy vua thề hứa sẽ ban cho nó bất cứ điều gì nó xin. Được mẹ nó dặn trước, nên nó nói: "Xin vua đặt đầu Gioan Tẩy Giả trên đĩa này cho con". Vua lo buồn, nhưng vì đã trót thề rồi, và vì các người đang dự tiệc, nên đã truyền làm như vậy. Ông sai người đi chặt đầu Gioan trong ngục, và để đầu Gioan trên đĩa đem trao cho cô gái, và nó đem cho mẹ nó. Các môn đồ của Gioan đến lấy xác thầy và chôn cất, rồi đi báo tin cho Chúa Giêsu. Đó là lời Chúa.CHIA SẺ PHÚC ÂM:Trong Tin Mừng hôm nay, tác giả hai lần nhắc đến Gioan Tẩy giả trong tương quan với Chúa Giêsu.Ở khởi đầu trình thuật, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì ông cho đó chính là Gioan Tẩy giả, người mà ông đã cho chém đầu nay sống lại. Ơn gọi của Gioan Tẩy giả như chính miệng ông Zacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho con mình: "Con là tiên tri của Ðấng tối cao, con sẽ đi trước dọn đường cho Ngài". Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn một cách tốt đẹp. Gioan chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến, không những bằng việc rao giảng thống hối, mà còn bằng chính cái chết vì trung thành với sự thật. Dung mạo của Gioan Tẩy giả loan báo dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu xuất hiện, vua Hêrôđê tưởng Ngài là hiện thân của Gioan Tẩy giả sống lại."Các con sẽ làm chứng về Thầy", đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: "Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng".Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm và trung thành với sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống mình, để giúp người khác đến với Chúa và tin nhận Chúa.Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã vượt qua những nỗi sợ cho bản thân để sống trọn thánh ý Chúa Cha. Xin cho chúng con biết noi gương Chúa, cũng vượt lên trên những nỗi sợ vu vơ của dư luận chê cười, của “ném đá” chê bai vì dám nói lên sự thật về Chúa và về con người. Xin cho chúng con không vì sợ mà đi xa đường lối Chúa. Amen.

01.08.2015 – Thứ bảy Tuần 17 Thường niên


"Lời Chúa: Mt 14, 1-12
Thời ấy, tiểu vương Hêrôđê nghe danh tiếng Ðức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: “Ðó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên quyền làm phép lạ mới tác động nơi ông.” Số là vua Hêrôđê đã bắt trói ông Gioan và tống ngục vì bà Hêrôđia, là vợ ông Philipphê, anh của nhà vua. Ông Gioan có nói với nhà vua: “Ngài không được phép lấy bà ấy.” Vua muốn giết ông Gioan, nhưng lại sợ đám đông, vì họ coi ông là ngôn sứ. Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hêrôđê, con gái bà Hêrôđia đã biểu diễn một vài điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gioan tẩy Giả đặt trên mâm.” Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem chôn, rồi đi báo cho Ðức Giêsu.

Suy niệm
 Hêrôđê với sức mạnh và uy quyền trong tay, ông đã làm một điều trái luân thường đạo lý là dụ dỗ và lấy chị dâu của mình làm vợ. Ông đã không nghe lời khuyên của Gioan Tẩy giả. Trái lại, ông còn bắt trói Gioan tống ngục và thủ tiêu. Điều này nói lên rằng, tâm hồn ông bất an, lương tâm ông không còn trong sáng. Ông đã không ngần ngại dùng những thủ đoạn gian ác để nhằm đạt được thỏa mãn cho riêng mình. Vì những hành động đó, ta thấy ông cũng là một con người yếu hèn: sợ hành vi sai trái của mình, sợ dân chúng và sợ mất danh dự. Còn Gioan Tẩy giả là một vị ngôn sứ sống trung thành với sứ mạng tiền hô của mình, được dân chúng kính nể. Ông đã can đảm nói lên sự thật dù biết rằng điều đó đe dọa đến chính mạng sống của mình. Ông thật xứng đáng là người dọn đường cho "Đấng là sự thật". Hêrôđê cảm thấy sợ khi phải đối diện với Gioan Tẩy giả, người tiền hô cho Đấng lả Chân Lý.
 Con người hôm nay đang sống trong hoàn cảnh xã hội mà vàng thau lẫn lộn, thật giả khó lường, cán cân công lý bị chi phối bởi sức mạnh của quyền lực và vật chất. Nhiều người chạy theo mục đích trước mắt bất chấp những phương tiện xấu. Xã hội được vận hành bằng sự dối trá, lừa lọc và muốn hất văng những gì là sự thật, chân lý. Tuy nhiên, vẫn còn đó những con người dám làm chứng cho sự thật và chân lý thì lại bị những quyền lưc cao nhất trong xã hội tấn công và loại trừ. Sống trong hoàn cảnh như thế, ta có thái độ như thế nào trước những bất công, sai trái? Ta có dám thẳng thắn, can đảm đối diện với sự thật hay ta im lặng, né tránh hay thoái lui trước sức mạnh của quyền lực? Sứ mạng của người làm chứng cho Tin Mừng Chúa Giêsu không gì khác hơn là dám nói sự thật, sống sự thật và làm chứng cho sự thật trong mọi biến cố của cuộc sống. Ta hãy nhìn vào cuộc đời của thánh Gioan Tẩy giả như một mẫu gương sống động trên hành trình bước theo Thầy Giêsu, Đấng là đường, là sự thật và là sự sống.

Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Xin ban cho chúng con được ơn can đảm sống theo tiếng lương tâm, dám đón nhận sự thật và làm chứng cho sự thật. Dù có phải chịu thiệt thòi, mất mát, hy sinh, thì chỉ khi sống theo sự thật, chúng con mới thuộc về Đấng là Ánh Sáng và Chân Lý. Amen.

CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN - B


Xh 16,2-4.12-15; Eph 4,17.20-24; Ga 6,24-35
T
ÍN THÁC NƠI CHÚA
“Chính tôi là bánh trường sinh. 
Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6,35)
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1: Xh 16,2-4.12-15
    Sách Xuất Hành là quyển thứ hai trong bộ Ngũ Thư, tức 5 quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh (Sáng Thế – Xuất Hành – Lê-vi – Dân Số và Đệ Nhị Luật). Về nội dung, sách Xuất Hành ghi lại hai cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu độ: Cuộc Xuất Hành của dân Israel khỏi Ai-cập (chương 1-18), và việc Thiên Chúa thiết lập Giao Ước với họ tại Núi Sinai (chương 19-40). Đây là hai sự kiện nền tảng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại. Có thể nói được, phần lớn các sách còn lại của Kinh Thánh phản ánh sự tương tác, giải thích, ứng dụng, hay kiện toàn chương trình cứu độ của Thiên Chúa như đã được Người mặc khải trong sách Xuất Hành. 
    Trong cuộc Xuất Hành khỏi Ai-cập, dân Israel đã gặp phải ba vấn nạn chính mà bất cứ ai đi trong sa mạc thường phải đối diện: vấn nạn về nước uống (Xh 15,22-27; 17,1-7), vấn nạn về lương thực (Xh 16), và vấn nạn về quân thù (Xh 17,8-16). Khi gặp phải những vấn nạn này, dân Israel thường kêu trách Moses và Aharon là hai nhà lãnh đạo Thiên Chúa đã đặt lên để dẫn dắt họ tiến về Đất Hứa. Xh 16, 3 ghi lại nội dung một trong những lời than trách đó: 
    “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!”
    Lời than trách này hàm ý: cuộc sống tại sa mạc này tồi tệ hơn nhiều so với cuộc sống tại Ai-cập; tại sao phải bỏ lại sau lưng cuộc sống tốt đẹp hơn để nhận về một cuộc sống cơ cực? Tại sao lại bỏ “sự sống” tại Ai-cập để ôm lấy “cái chết” tại sa mạc này ? 
    Đành rằng cuộc sống tại sa mạc bao giờ cũng khó khăn và đầy thử thách. Nhưng cuộc sống của dân Israel trước đó tại Ai-cập không phải là mầu hồng như họ cường điệu ở đây. Làm gì có cảnh dân Israel bình an “ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê”. Các chương đầu của Sách Xuất Hành cho chúng ta thấy rõ cuộc sống của họ tại đó thật cơ cực và tủi nhục. Hơn nữa, dân tộc của họ đang phải đối diện với nguy cơ bị diệt vong tại Ai-cập sau những chính sách tàn bạo của Pharaoh (x. chương 1 và chương 5). Như thế, đằng sau những lời than trách này là thái độ thiếu niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng vừa cho họ thấy cánh tay hùng mạnh của Người, khi Người dìm đoàn hùng binh của Pharaoh xuống lòng Biển Đỏ (x. Xh 14, 15-31). 
    Đứng trước lời than trách mang đậm tính kết án và thiếu niềm tin này, Thiên Chúa đã không đánh phạt dân, nhưng tỏ lòng xót thương họ, vì họ như một cậu thanh niên đang trong giai đoạn nổi loạn, rất cần nhận được sự tha thứ và kiên nhẫn từ phía cha mẹ trước khi cậu đạt đến độ tuổi trưởng thành. Thiên Chúa đã đáp trả những lời than trách ấy bằng việc Người hứa ban “bánh từ trời cho họ” (x. c4). 
    Thật vậy, Thiên Chúa đã ban cho dân thức ăn: chim cút vào ban chiều, và manna vào ban sáng. Ở đây, manna được mô tả chi tiết hơn, tạo được sự hứng thú nhiều hơn đối với dân Israel. Chi tiết văn chương này hàm ý: Manna sẽ có một vị thế quan trọng trong các bữa ăn thường ngày của dân Israel trên hành trình tiến về Đất Hứa. Còn chim cút thỉnh thoảng được ban, chứ không thường nhật như manna (x. Ds 11). Sách Giôsuê cho chúng ta biết, dân Israel dùng manna làm lương thực hằng ngày mãi cho đến khi họ cử hành xong đại lễ Vượt Qua tại vùng thảo nguyên Giêrikhô. Vào thời điểm đó, manna không còn nữa, và dân Israel bắt đầu dùng thổ sản trong đất Canaan (x. Gs 5,10-12). 
2. Bài đọc 2: Eph 4,17.20-24
    Thư gửi tín hữu Êphêsô có lẽ được thánh Phaolô viết khi ngài bị cầm tù tại Roma (x. Cv 28). Qua lá thư này, thánh Phaolô nhắc chúng ta về một chân lý quan trọng: Nhờ máu của Chúa Giêsu Kitô mà các tín hữu, dù là Do thái hay dân ngoại, đã được hiệp nhất thành một dân mới, thành một nhân loại mới (x. Ep 2,11-22). Vậy để chúng ta sống xứng đáng hơn với tư cách thành viên cao quí này, thánh Phaolô, qua Ep 4,17.20-24, khuyên các tín hữu cần phải biết cởi bỏ con người cũ, vốn bị những ham muốn lừa dối, để mặc lấy con người mới, vốn được thể hiện qua việc sống công chính và thánh thiện.  
3. Bài Tin Mừng: Ga 6,24-35
    Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu minh định: không ai khác nhưng chính Cha Ngài đã ban bánh từ trời xuống nuôi dân Israel trên hành trình họ tiến về Đất Hứa, như chúng ta đã tìm hiểu ở bài đọc 1. Hơn nữa, trong cách nói của mình, Chúa Giêsu còn đi xa hơn việc đề cập đến manna vật chất, khi Ngài đề cập đến “bánh đích thực”, “bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Bánh đích thực và trường sinh này chính là Ngài, để những ai thành tâm đến với Ngài, sẽ “không hề phải đói”, và ai tin vào Ngài, sẽ “chẳng khát bao giờ”. Như thế, Chúa Giêsu trở nên nguồn suối sự sống cho con người ở mọi thời. Cuộc sống của con người nhờ Ngài sẽ không còn bị giới hạn vào thế giới này, không còn bị đóng khung vào không gian và thời gian, nhưng vươn tới sự sống vĩnh cửu trường tồn. 
    Điều kiện để chúng ta có thể tiếp nhận được nguồn suối sự sống là chính Ngài, chính là việc chúng ta tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời Nhập Thể, là Đấng được Chúa Cha sai đến cứu độ trần gian. Niềm tin ấy, tuy nhiên, cần phải được thể hiện trong cuộc sống thường ngày của chúng ta bằng những hành động tốt đẹp, nhằm sinh hoa kết trái chân thiện mỹ ngay từ cuộc sống đời này, vì “đức tin mà không có hành động là đức tin chết” (x. Gc 2,17).

II. GỢI Ý SUY TƯ PHẢN TỈNH
1/ Thiên Chúa luôn tỏ lòng xót thương Dân Người. Dù họ kêu trách và chống đối hai nhà lãnh đạo Moses và Aharon, tức là chống đối chính Người, Người vẫn ban bánh từ trời xuống nuôi sống họ trong suốt 40 năm hành trình trong sa mạc để tiến về Đất Hứa. Có khi nào tôi thấy nơi mình cũng có thái độ trách móc, oán than Thiên Chúa, như dân Do-thái xưa kia, nhưng đồng thời cũng nghiệm thấy lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa đối với mình ?
2/ Thánh Phaolô khuyên chúng ta phải cởi bỏ “con người cũ” vốn bị những ham muốn lừa dối, vậy “con người cũ” là gì đối với tôi, và những ham muốn nào đang lừa dối tôi vào lúc này ? Làm thế nào để tôi có thể chiến thắng được con người cũ nơi mình ?
3/ Đức tin của tôi vào Chúa Giêsu Kitô hiện đang ở mức nào ? Ngài có thực sự là nguồn sống trường sinh của tôi vào lúc này, hay là tôi đang cậy dựa vào những thứ khác ? Nếu có, thì đâu là những thứ tôi đang bám vào ? Chúng có thực sự giúp tôi sống viên mãn không ? Làm thế nào niềm tin của tôi vào Chúa Giêsu mỗi ngày được thêm củng cố ?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa tình thương đã ban chính Con Một yêu dấu của Người làm “bánh ban sự sống” cho nhân loại. Cộng đoàn chúng ta hãy thành tâm cảm tạ Chúa và tin tưởng tha thiết nài xin.
1. “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.” - Chúng ta cùng cầu xin cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn ý thức chăm sóc đoàn chiên Chúa trao bằng lương thực thần linh, qua việc cử hành và cổ vũ lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể.
2. Chúa Giêsu nói :“Các ngươi hãy tin vào Ðấng Thiên Chúa sai đến.” - Chúng ta cùng cầu xin cho các dân tộc và quốc gia chưa đón nhận hay có thành kiến với niềm tin Kitô giáo, biết khao khát tìm kiếm chân lý và mở lòng trước Tin Mừng cứu độ mà Chúa Giêsu loan báo.
3. “Hãy ra công làm việc vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời.” - Chúng ta cùng cầu xin cho những ai đang chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, biết trân trọng và quan tâm đến những nhu cầu thiêng liêng để tìm thấy hạnh phúc đích thực và trường tồn.
4. “Hãy lột bỏ con người cũ và trở nên mới trong lòng trí anh em.” - Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, khi siêng năng tham dự thánh lễ và sốt sắng rước Chúa, được ơn thánh biến đổi trở nên những con người mới trong đời sống chứng tá.
Chủ tế: Lạy Chúa là nguồn mạch sự sống đời đời. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và rộng ban muôn ơn lành giúp chúng con biết nhiệt tâm phụng sự Chúa và phục vụ mọi người, hầu đáng được thông phần sự sống Chúa ban qua Đức Giêsu Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

ĐỨC GIÊSU, BÁNH TRƯỜNG SINH

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

(Ga 6,24-35).
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
1. Từ lương thực “mau hư nát”... đến lương thực “trường tồn":
       Sau phép lạ hóa bánh, Đức Giêsu “đã lánh mặt đi lên núi một mình”. “Chiều đến”, các môn đệ Người xuống thuyền đi sang “bên kia Biển Hồ”, còn Đức Giêsu lát sau đó “đi trên mặt biển” mà đến với các ông. Hôm sau đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển Hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Mọi người sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc “vượt qua” khác, sâu xa hơn nhiều: vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là bánh trường sinh.
- Trước tiên Chúa cảnh giác đánh thính giả của Người về mong muốn lệch lạc của họ. Họ có sự hiểu lầm về lương thực (xem sự hiểu lầm của phụ nữ Samari về nước uống): “Các ông đi tìm tôi, Chúa nói với họ, không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. X.Léon-Dufour nhận xét: “Động cơ thúc đẩy họ vẫn là mùi vị của bánh trần gian: họ đã không nhìn thấy trong ân huệ bánh dư thừa, dấu chỉ của một lương thực khác phải tìm kiếm, thứ lương thực thường tồn ban phúc trường sinh mà Con Người sẽ ban cho” (“Lecture de l'Evangile de Jean”, cuốn II, Seuil, trang 132). Chính thứ lương thực này mà con người phải khao khát được ăn; chính vì lương thực ấy mà con người phải “làm việc” để kiếm tìm.
- Ngộ nhận mới do những từ ngữ “làm”, “những việc” gợi nên. Dân chúng hỏi: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Theo họ nghĩ, đó là những việc bên ngoài mà Chúa đòi hỏi nơi những kẻ thờ phượng Người, như những nghi lễ và một số những việc khác.
Lập tức Đức Giêsu bắt họ bỏ qua “những việc” (số nhiều) để nghĩ đến “Việc Thiên Chúa” (số ít); bởi lẽ “việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”.
2. Từ “bánh bởi trời”... đến chính Đấng là “bánh trường sinh"
Những người đàm đạo với Chúa xem ra sẵn lòng tin nhận Người là Đấng Thiên Chúa sai đến, nhưng dẫu sao cũng có điều kiện: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?”.
Dân chúng vừa mới được thấy dấu lạ là bánh hóa nhiều, thế mà họ còn đòi xem một dấu lạ khác, thì kể cũng là lạ thường. Nhưng ta đừng quên câu chuyện mới xảy ra gần đây, khi những người miền Galilê này đã coi Đức Giêsu như Vị Ngôn sứ, đó là: theo truyền thống tiên tri, một dấu lạ được chứng thực là đúng thì phải được người thực hiện nó loan báo trước. X. Léon-Dufour còn nhấn mạnh: “Thực ra người ta không đòi hỏi Chúa thực hiện ngay dấu lạ, mà chỉ cần nói cho biết Người sẽ làm dấu lạ nào” (O.C., trang 134).
Giống như phụ nữ Samari nại đến tổ phụ Giacóp (4,12), những người Do Thái nại đến tổ phụ Ápraham, thì đám đông người miền Galilê nại đến Môsê, người đã bầu cử với Chúa ban cho có manna: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc”.
- Đức Giêsu đã bài bác lối giải thích của họ, dựa vào lời họ trưng dẫn trong sách Xuất hành mà làm bằng cứ:
+ Người ban manna, “bánh bởi trời” không phải là Môsê, như ý họ muốn nói, nhưng là Đấng mà Người gọi là “Cha” của Người.
+ Điều cải chính trên về ai là kẻ ban phát manna không chỉ nói về thời dĩ vãng xa xưa của cha ông họ khi Xuất Hành, mà còn liên quan tới thời buổi này đối với những kẻ đang nghe Chúa nói. Ân huệ manna đó được ban cho chính họ ngay lúc này, ơn huệ đó là đích thực. Lương thực Chúa Cha ban cho hôm nay làm cho hình ảnh manna tiên báo và những lời hứa của Luật được ứng nghiệm. X.Léon-Dufour viết tiếp: “Giữa quá khứ và tương lai thì đây là “hiện tại” của Thiên Chúa. Từ việc nhớ lại “manna trong sa mạc” (hồi ức) và khao khát “được ăn mãi thứ bánh ấy” (trông mong) người ta đạt tới thực tại mang tính bản thể” (O.C., trang 137).
+ Sau cùng “Bánh Thiên Chúa ban, bánh từ trời xuống” không chỉ dành riêng cho một mình dân Israel thôi. “Bánh đem lại sự sống cho thế gian” ấy, hết mọi dân tộc trên trái đất đều có quyền được hưởng.
- “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”, dân chúng liền nói, giống như phụ nữ Samari đã nói với Đức Giêsu bên bờ giếng Giacóp: “Thưa Ngài, xin Ngài cho tôi thứ nước ấy” (4,15).
- Với lời lẽ trang trọng Chúa nói với họ “chính tôi đây là bánh trường sinh”, bánh các ông ao ước ăn đó, là chính tôi đây. “Đức Giêsu làm ứng nghiệm nơi Người hình ảnh manna mang tính cánh chung vậy” (X.Léon-Dufour, Sđd, trang 136).
Bởi vậy, điều kiện duy nhất để được ăn bánh đó là “đến” với Người và “tin” vào Người. Vì tự coi mình là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa (Kn 9,1: bài đọc I Chúa nhật 20), là Nguồn sống đáp ứng được sự đói, khát của con người, Đức Giêsu trân trọng mời gọi anh em Người tới dùng bữa: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”.

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1.      “Từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Đấng mà dấu lạ biểu thị”
     (R.Josse trong “Célébrer” tạp chí của CNPL, số 240, trang 41).
Câu hỏi tỏ vẻ quan tâm ghi ở đầu trình thuật này ("Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy") cho thấy đám đông có phần nào bị lạc hướng. Họ đã tìm kiếm Đức Giêsu, nhưng không phải để hiểu biết Người: dấu lạ đã chỉ khơi dậy nơi lòng họ ước muốn có bánh ăn, chứ không phải niềm khao khát được ánh sáng soi rọi giúp hiểu biết về con người Đức Giêsu. Họ chẳng hiểu được ám chỉ về quyền năng của Con Người. Theo kiểu đối thoại, Tin Mừng Gioan lần lượt trình bày cho biết sự ngộ nhận do họ không hiểu biết.
Họ ỷ mình đã từng được biết câu chuyện manna ghi trong sách thánh. Đức Giêsu vịn vào lý lẽ của họ và hướng người nghe chú tâm đến Thiên Chúa: Môsê xưa đã cho các ngươi ăn bánh bởi trời, nhưng không phải là bánh bởi trời đích thực, mà chỉ là bánh nếm thôi. Trong Xuất Hành, manna nói lên ân huệ cụ thể thật cần thiết, là lương thực được cung cấp sáng chiều: người ta hầu như nghĩ tưởng đến trình thuật về sáng tạo, lực sáng tạo của Chúa hoạt động một cách vô cùng rộng rãi. Nhưng ân huệ ấy vì là dấu chỉ thôi thúc lòng tin, nên phải nhắc nhở (con người thụ hưởng) nhớ đến Đấng ban phát ơn tuy mắt không thấy, nhưng Ngài vẫn hiện diện và hoạt động, vẫn lèo lái con đường giải thoát. Bánh Chúa ban, lúc này đây, là chính Đấng từ trời xuống, Đấng đem lại sự sống cho thế gian.
Cuộc đối thoại sẽ còn dẫn đến một ngộ nhận mới cũng giống như ngộ nhận của phụ nữ Samari nơi Ga 4,15: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh đó!”. Nay Chúa không lấy một cái gì đó mà cho người ta, Chúa cho chính mình Người. Từ quan tâm đến việc Chúa làm, người ta chuyển quan tâm đến Người là ai. nghĩa là phải từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Đấng mà dấu lạ ấy biểu thị. Lòng tin vào Đức Kitô đòi phải có một chuyển biến sâu xa tự thâm căn con người vậy.
2.      “Lương thực đích thực”
 (Đức Cha L.Daloz, trong “Nous avons vu sa gloire”, Desclée de Brouwer, trang 81-82).

“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”. Lời khẳng định mạnh mẽ này phơi bày điều thầm kín từ đáy lòng họ. Họ đã biết đôi chút về Đức Giêsu. Họ đã muốn tôn Người làm vua, sau khi được thấy dấu lạ hóa bánh. Điều Chúa yêu cầu họ lúc này có tính cách bó buộc. Họ phải tin vào Người, phải từ bỏ những tính toán riêng tư để đem lòng tin cậy Người. Đó cũng chính là vấn đề quyết liệt được đặt ra cho tất cả những ai gặp gỡ Đức Giêsu, cho cả chính chúng ta nữa. Ta có nhận là không nhờ Người để rà xem những ý tưởng riêng tư của ta đúng hay sai, để thực hiện những chương trình của ta, mà trái lại ta biết nhờ Người giúp đi vào chương trình Người hoạch định, đi theo Người đến nơi Người muốn đưa ta đến? Những người đàm đạo với Chúa khi ấy lẫn tránh không muốn sự lựa chọn quyết liệt này. Họ muốn được kiểm chứng, họ cần phải có được một cuộc “giám định lại”, một dấu lạ khác... Họ không muốn dấn thân: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?”. Tuy họ đã được thấy dấu lạ về bánh, nhưng họ chưa lấy làm đủ. Nhân danh Sách Thánh họ từ khước Người: tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc. Cần phải có cái gì hơn thế mới có thể lay chuyển được họ, những con người được liệt vào bậc thầy về Kinh Thánh. Đối với người không tin Đức Giêsu, luôn luôn có cách tìm thoái thác. Thế nhưng Đức Giêsu vẫn tiếp tục cuộc đối thoại. Người đi cho tới cùng mặc khải Người đã bắt đầu. Người biện bác khởi đi từ chính vấn để họ đặt ra: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu. Ơn manna khi ấy chỉ là một ân huệ tạm thời, chỉ là một loan báo mà giờ đây mới có ý nghĩa đích thực. Chính việc hóa bánh ra nhiều cũng chỉ là một dấu chỉ. Chính Đức Giêsu mới là bánh đích thực, từ trời xuống để cho thế gian được sống: Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

31.0.2015 – Thứ sáu Tuần 17 Thường niên



Lời Chúa: Mt 13, 54-58

Khi ấy, Đức Giêsu về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Gioxép, Simon và Giuđa sao? và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm vói chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế?” Và họ vấp ngã vì Người. Nhưng Ðức Giêsu bảo họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.

PHÁ ĐỔ BỨC TƯỜNG THÀNH KIẾN

Suy niệm: 

Phía tây Núi Đền Thờ Giêrusalem ngày nay còn sót lại một đoạn của bức tường thành được cho là được xây dựng thời Hêrôđê, gọi là Bức Tường Than Khóc, bởi vì người Do Thái ngày nay vẫn thường tới đây than khóc cầu nguyện và nhét vào kẽ đá tường thành những mảnh giấy ghi lời cầu của họ xin Thiên Chúa sai Đấng Mêsia đến xây lại Đền Thánh, khôi phục lại vương quốc. Thế nhưng khi Mêsia mà các tiên tri loan báo là chính Con Thiên Chúa đã đến cách đây hơn hai ngàn năm thì họ đã không đón nhận, kể cả những người đồng hương Nadarét với Ngài, bởi vì họ đã không nhận ra thiên tính ẩn giấu dưới dáng vẻ tầm thường của một người thợ mộc nghèo hèn. Chính óc bảo thủ, thành kiến đã là bức tường ngăn cản họ, “và họ vấp ngã vì Ngài.”

Bức tường thành kiến vẫn thường che chắn con mắt chúng ta khiến chúng ta không nhận ra giá trị độc đáo của những người chúng ta gặp gỡ thường ngày chung quanh chúng ta. Nếu thế, làm sao chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa và thánh ý của Ngài trong cuộc sống chúng ta? Để phá đổ bức tường thành kiến cần có thái độ khiêm tốn, bao dung và hy vọng: khiêm tốn để nhận ra những ưu điểm của người khác; bao dung để đón nhận những thiếu sót của họ; và hy vọng vì tất cả chúng ta đều được mời gọi mỗi ngày một sống tốt hơn.Như vậy, ta phải tập thực hành sống khiêm tốn, bao dung, và xóa bỏ thành kiến về người khác



Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XVII Thường Niên


30/7. Thứ Năm. Thánh Phêrô Kim Ngôn, giám mục, tiến sĩ Hội thánh. Xh 40,16-21.34-38; Mt 13,47-53
Bài đọc 1 - Xh 40,16-21.34-38
Trong những ngày ấy, Môsê thi hành tất cả những điều Chúa đã truyền dạy. Vậy ngày mùng một tháng Giêng năm thứ hai, đã dựng nhà xếp xong. Ông Môsê đã dựng nhà xếp, lắp ván, đặt trụ, xà ngang và dựng cột, rồi căng mái nhà xếp và màn che trên mái như Chúa đã truyền dạy. Ông đặt bia chứng từ vào hòm, xỏ đòn khiêng vào hai bên, và để toà phán dạy trên hòm. Khi đã rước hòm bia vào nhà xếp, ông treo màn trước hòm để hoàn tất lời Chúa đã truyền dạy. Sau khi mọi việc đã hoàn tất, thì có một đám mây bao phủ nhà xếp chứng từ, và vinh quang của Chúa tràn ngập nhà xếp.
Vì mây che phủ nhà xếp, và uy linh Chúa sáng rực trong nhà, nên ông Môsê không thể vào trong nhà giao ước, vì có đám mây che phủ mọi sự. Hễ mây lên khỏi nhà xếp, thì con cái Israel kéo nhau đi từng đám, còn khi mây che phủ nhà xếp, thì họ ở lại tại chỗ. Vì ban ngày, đám mây của Chúa che phủ nhà xếp, và ban đêm, có lửa trong mây, nên toàn dân Israel trông thấy suốt thời gian xuất hành của họ.
Tin mừng - Mt 13,47-53
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá. Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Các ngươi có hiểu những điều đó không?" Họ thưa: "Có".
Người liền bảo họ: "Bởi thế, những thầy thông giáo am tường về Nước trời cũng giống như chủ nhà kia, hay lợi dụng những cái cũ, mới trong kho mình". Khi Chúa Giêsu phán các dụ ngôn đó xong, thì Người rời khỏi nơi ấy.
Suy niệm
Đoạn sách Xuất Hành kể rất chi tiết về việc ông Môsê làm theo sự hướng dẫn của Đức Chúa để cung nghinh Hòm Bia vào Nhà Tạm: “Ông Môsê làm mọi sự đúng y như Đức Chúa đã truyền cho ông”. Sau khi Môsê đã thực hiện theo sự hướng dẫn, thì “Đám mây che phủ Lều Hội Ngộ và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm”. Đức Chúa đã dùng đám mây như dấu chỉ sự hiện diện giữa dân Người; và là dấu hiệu cho dân biết ý định của Người: “Khi nào đám mây bay lên khỏi Nhà Tạm, thì con cái Israel nhổ trại. Nếu mây không bay lên, thì họ không nhổ trại cho đến ngày mây lại bay lên”.
Qua đó chúng ta thấy được tình thương của Thiên Chúa. Người luôn muốn hiện diện giữa dân Người. Điều đó cũng nhắc nhở họ có Thiên Chúa luôn hướng dẫn những hành động của họ. Vì vậy họ phải luôn nhận ra để làm theo sự hướng dẫn của Người.
Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương nên đã ban Con Một Người là Đức Giêsu Kitô nhập thể làm người để được ở với chúng ta. Sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ, Ngài tiếp tục ở với chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể để thực hiện lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Nhận ra được tình thương của Thiên Chúa, chúng ta phải biết mở lòng mình ra để Chúa ngự vào. Ông Môsê đã phải chuẩn bị, làm tất cả mọi sự để cung nghinh Đức Chúa, thì tôi cũng phải chuẩn bị tâm hồn, dọn dẹp sạch sẽ để Chúa ngự vào nhà của tôi.
Thiên Chúa đến không chỉ là hiện diện, mà Ngài còn dẫn đường cho chúng ta đi. Vì vậy tôi phải quyết tâm để nhận ra hướng dẫn của Chúa và tuyệt đối thi hành theo hướng dẫn của Ngài.
Dụ ngôn mẻ lưới bắt được nhiều cá, rồi người ta chọn lựa cát tốt cá xấu không thể hiểu theo nghĩa thông thường, vì thông thường con cá nào bị bắt cho vào giỏ là coi như tiêu đời. Nhưng ở đây phải hiểu con nào được chọn sẽ là hạnh phúc cho nó.
Tiêu chuẩn để được xếp vào hàng “cá tốt” là con cá đó có ở trong nước hay không? Vì nếu cá không ở trong nước thì chắc chắn nó phải chết. Cũng vậy con người chúng ta nếu không ở trong tình thương của Thiên Chúa thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ chết.
Tiêu chuẩn thứ hai là con cá đó có ngoan ngoãn để người ta cho vào giỏ hay không? Nếu nó vùng vẫy không chịu vào giỏ để được tự do tung tăng trong đại dương, thì lẽ đương nhiên nó không được chọn. Điều đó muốn nói lên con người chúng ta cũng rất nhiều khi muốn được tự do theo ý của mình, không làm theo ý Chúa. Nhưng tự do sống theo ý mình sẽ dễ dẫn người ta đến chỗ chết. “Ở trong giỏ” là ở trong sự bao bọc chở che của Thiên Chúa, còn ở ngoài đại dương là ở trong sự vây hãm của ma quỷ.
Lạy Chúa, xin cho con biết chuẩn bị tâm hồn, bỏ đi những điều bất xứng để Chúa ngự vào. Khi có Chúa, xin cho con luôn biết lắng nghe và thực hành theo những điều Chúa chỉ dạy. Amen.

30.07.2015 – Thứ năm Tuần 17 Thường niên


Lời Chúa: Mt 13, 47-53
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Ðến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa hiểu.” Người bảo họ: “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ kho tàng của mình cả mới lẫn cái cũ”. Suy niệm:
Chiếc lưới thả xuống biển thu về đủ loại cá, lớn bé, tốt xấu lẫn lộn, đó là hình ảnh của Nước Trời không phải “ở trên trời” mà là Nước Trời ở trần gian này. Chiếc lưới cá có thời thả xuống biển và cũng có thời kéo lên bờ. Thả xuống biển, chiếc lưới thu gom tất cả mọi thứ tôm cá, cũng thế Nước Trời thời đón nhận mở rộng cửa cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, giai cấp, giàu nghèo, v.v…. Không chỉ những người lành thánh, mà cả những người bị coi là tội lỗi nữa, cũng được mời gọi vào Nước Trời. Thời kéo lưới là thời chọn lọc, đó chính là Nước Trời thời sau hết, thời cánh chung: đó là lúc ngồi lựa “cá tốt cho vào giỏ, cá xấu vất ra ngoài” (c. 48).
Việc chọn lựa cá tốt là việc của Chúa. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi ngày ấy, Ngài cho ta cơ hội để:
1/ gia nhập vào Nước Trời: việc này thật dễ dàng, vì Nước Trời đón nhận mọi người không loại trừ ai;
2/ lãnh nhận các bí tích là lương thực thiêng liêng giúp ta lớn lên thành “cá tốt.” Ta hãy nỗ lực tận dụng ơn thánh ngay trong thời gian hiện tại này để trở thành “cá tốt đạt chuẩn” để được chọn vào Nước Trời.
Tình trạng chung đụng người tốt kẻ xấu là điều tất yếu trong thân phận con người ở trần gian này. Làm thế nào để ta tránh được những hậu tiêu cực của tình trạng này gây nên và tận dụng những cơ hội tích cực nó đem lại?
Ta phải năng lãnh nhận các bí tích và thường xuyên cầu nguyện, đây là phương thế giúp ta tăng trưởng thiêng liêng và sống thánh thiện

29/07/2015- Thứ Tư Tuần XVII Thường Niên Năm lẻ


Lễ Thánh Nữ Mácta,Lễ Nhớ 
Ga 11, 19-27
19Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời.20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà.21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đa không chết.22 Nhưng bây giờ con biết:Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy."23 Đức Giê-su nói: "Em chị sẽ sống lại!"24 Cô Mác-ta thưa: "Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết."25 Đức Giê-su liền
phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đa chết, cũng sẽ được sống.26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin
thế không? "27 Cô Mác-ta đáp: "Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian."

Suy niệm :
Martha vất vả lo việc phục vụ Chúa Giêsu: Khi một thượng khách như Chúa Giêsu đến nhà, đó là lúc để chủ nhà biểu tỏ tài nội trợ, nấu nướng, và tính hiếu khách. Chúng ta không lạ gì khi Martha quá vất vả lo lắng tới độ cô tiến lại Chúa Giêsu và than phiền với Ngài: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!" Ngược lại với những gì Martha mong đợi, Chúa Giêsu đáp: "Martha! Martha ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." Có nhiều điều chúng ta có thể học hỏi từ câu trả lời của Chúa Giêsu:
+ Martha không hiểu rõ thứ tự ưu tiên của cuộc đời: Chúa Giêsu sữa chữa lỗi lầm cho cô khi Ngài nói: "Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." Thức ăn có ngon mấy chăng nữa rồi cũng qua đi; nhưng Lời Chúa sẽ ở lại trong tâm hồn và soi sáng cho con người biết cách sống thế nào để có hạnh phúc trong cuộc đời.
+ Martha không quan tâm đến người khác: Cô có thể nghĩ chỉ có việc của cô mới đáng làm, việc của Maria không quan trọng! Đây là một lỗi lầm mà nhiều người chúng ta mắc phải. Chúng ta đừng bắt người khác phải suy nghĩ và hành động như mình, vì mỗi người có những suy nghĩ và hành động khác nhau. Chúng ta cũng không hiểu đủ để xác quyết việc nào là việc tốt nhất, cho đến khi được tuyên bố rõ ràng bởi Thiên Chúa.
+ Martha không biết sắp xếp thời giờ: Có thể Martha không biết khi nào Chúa đến, vì ngày xưa không có thói quen có giờ hẹn như thời nay. Dù sao chăng nữa, Martha không nên lo lắng quá nhiều đến chuyện ăn uống, vì khách tới nhà để thăm viếng chứ không chỉ để ăn! Các gia đình Việt-nam chúng ta cần chú trọng điều này, để đừng làm quá nhiều thức ăn mỗi khi tiếp khách. Hầu hết trong các bữa tiệc, khách không dùng hết một nửa các thức ăn của chủ nhà bày ra. Hậu quả là gia chủ phải ăn đồ thừa hay phải lãng phí thức ăn cách không cần thiết.
- Chúng ta phải dành ưu tiên hàng đầu cho mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa bằng cách dành thời giờ để cầu nguyện, lắng nghe, học hỏi, và thực hành những gì Chúa dạy. Lạy Chúa, giữa những gian truân và thử thách, xin cho con luôn biết sống phó thác và tìm được bình an trong Chúa. Amen.

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

-28/7. Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên




 Xh 33,7-11;34,5b-9.28; Mt 13,36-43
Tin mừng - Mt 13,36-43
Khi ấy, sau khi giải tán dân chúng, Chúa Giêsu trở về nhà. Các môn đệ đến gặp Người và thưa rằng: "Xin Thầy giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe". Người đáp lại rằng: "Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai để nghe thì hãy nghe".
Suy niệm
Chỉ một mình Môsê mới có diễm phúc được “Đức Chúa đàm đạo với ông, mặt giáp mặt như hai người bạn”. Môsê chính là người hạnh phúc nhất vì được diện kiến, được đàm đạo với Thiên Chúa ngay khi còn sống. Sở dĩ có được diễm phúc này là vì ông đã chấp nhận làm việc cho Đức Chúa, làm việc thay Đức Chúa. Chính Đức Chúa đã chọn gọi ông để lãnh đạo dân Do thái, để dẫn dắt họ đến miền Đất Hứa. Là người thay mặt Chúa lãnh đạo dân nên Môsê với Đức Chúa cùng chung một thao thức, cùng chung một nỗi niềm, cùng chung một lo toan và cùng chung một ý hướng. Vì vậy ông cần phải gặp gỡ, trao đổi với Chúa…
Rõ ràng trong lúc gặp gỡ Đức Chúa, ông chỉ nói chuyện của dân, ông không nói gì đến nhu cầu của mình. Ông trình bày cho Đức Chúa những sai lỗi của dân, nhưng khi Đức Chúa muốn trừng phạt thì ông lại van xin gánh thay cho họ. Ông đã lấy tình nghĩa của mình với Đức Chúa để bảo lãnh cho dân…
Qua Môsê, chúng ta thấy một con người có mối tương quan thân tình với Đức Chúa và một tình yêu thương bao dung, quảng đại đối với anh chị em mình. Chính hai yếu tố này đã trở thành vinh quang bao phủ con người ông.
Chúa Giêsu cũng mặc khải cho chúng ta, đến ngày tận thế: “Người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ”. Đó là số sót lại của “mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác”. Hay nói cách khác những người tội lỗi sẽ bị đau khổ muôn đời, còn những người công chính thì sẽ được vinh quang muôn kiếp.
Vinh quang này có được là do một đời sống gắn bó với Chúa và yêu thương anh chị em mình. Vì gắn bó với Chúa nên họ cùng chung một thao thức, cùng chung một ý hướng và hành động một cách công chính theo đường lối của Chúa. Vì yêu thương con người nên họ sẵn sàng cộng tác với Đức Chúa để làm mọi cách cho anh chị em mình được tốt hơn.
Lạy Chúa, rất nhiều khi con tìm kiếm những vinh quang ảo. Vinh quang không xuất phát từ Chúa, mà xuất phát từ những giá trị ở cuộc đời này, vinh quang do người đời, do quyền lực, do tiền bạc. Chính vì tìm kiếm vinh quang ảo nên con đã đối xử tệ bạc với người khác, với những người không đem đến vinh quang cho con, với những người không thuộc phe nhóm của con…
Xin cho con ý thức mọi thứ ở cuộc đời này rồi sẽ qua đi để đừng tìm kiếm những vinh quang giả tạo, đừng lôi kéo thêm những người thuộc về mình để thỏa mãn những sai trái, những lệch lạc của mình. Hãy biết buông ra những thứ làm cho con tưởng rằng mình vinh quang để con được nhẹ nhàng, thanh thoát.
Xin cho con biết yêu thương, phục vụ mọi người trong tự do chứ đừng vì ích kỷ để họ lệ thuộc vào mình.
Lạy Chúa, con van xin Chúa cho con được gắn bó với Chúa và yêu thương mọi người đúng đắn. Amen.