Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

07/07/2015 Thứ Ba Tuần XIV Mùa Thường Niên Năm B



PHÚC ÂM: Mt 9, 32-38
"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, người ta đem đến Chúa Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi đã trừ quỷ, thì người câm nói được, đám đông dân chúng kinh ngạc và nói rằng: "Chưa bao giờ thấy xảy ra như vậy trong dân Israel". Nhưng các người biệt phái nói rằng: "Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ".
Và Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Người liền bảo môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Nhờ tiếp xúc với người dân, Chúa Giêsu có thể nhận thấy đời sống thực tế của họ. Thánh sử Mátthêu nói rõ: "Thấy dân chúng đông đảo, Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than, vất vưởng, như chiên không người chăn dắt". Ðứng trước thảm trạng này, Chúa Giêsu gợi ý để các môn đệ của Ngài suy tư: "Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít".
Quan niệm Cựu Ước về các chủ chăn của dân là quan niệm rộng rãi và ám chỉ vừa các thẩm phán, vừa các tư tế và tiên tri. Hình ảnh rất quen thuộc với nền văn hóa của các dân du mục. Chính tổ tiên của họ cũng là những người chăn chiên, như Môsê, Ðavít. Yêrêmia và Êzêkiel đã báo trước là chính Thiên Chúa sẽ trở nên người chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Lời tiên tri này đã được thực hiện đầy đủ nơi Chúa Giêsu, vị Mục Tử nhân lành chạnh thương và chăm sóc các con chiên của Ngài, đến nỗi hy sinh cả mạng sống cho chúng. Như vậy, các Kitô hữu có thể tin tưởng tiến bước, bởi vì họ biết rằng Chúa là mục tử của họ.
Hình ảnh về mùa gặt hái đã được các Tiên Tri dùng để chỉ Nước Chúa Cứu Thế sau này. Thời kỳ sau cùng là thời kỳ gặt hái thu lượm, nghĩa là lúc Thiên Chúa đến phán xét trong ngày tận thế. Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa. Giai đoạn sau cùng của lịch sử đã bắt đầu với việc Nước Thiên Chúa đến; tất cả đều sẵn sàng, nhưng thiếu thợ gặt. Thế giới ngày nay như một cánh đồng mênh mông, nơi có rất nhiều linh hồn sẵn sàng đón nhận Nước Trời nhưng phải có người chỉ đường cho họ. Chúa muốn cứu thế gian và Ngài kêu gọi sự cộng tác của con người. Lời kêu gọi của Ngài vẫn có giá trị và khẩn cấp trong mọi thời đại.
Là người Kitô hữu, chúng ta có lo lắng để Nước Chúa được lan rộng tới các tâm hồn không? Ðức tin của chúng ta có sống động bằng việc làm cụ thể hay chỉ là đức tin chết?
Xin Chúa đổ tràn tâm hồn chúng ta lửa nhiệt tâm truyền giáo. Xin cho chúng ta thực sự trở nên chứng nhân của Chúa bằng lời nói, việc làm, nhất là bằng lời cầu nguyện và gương sáng.AMEN.

Thiên Chúa Trong Ánh Mắt


Theo một câu chuyện cổ tích của người Nhật Bản, ngày xưa, có một đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc bên cạnh một đứa con gái nhỏ. Người chồng là một hiệp sĩ samourai, nhưng anh chỉ sống khiêm tốn trong một khu vườn nhỏ ở đồng quê. Người vợ là một người trầm lặng đến độ nhút nhát. Chị không bao giờ muốn ra khỏi nhà.
Một hôm, nhân dịp lễ đăng quang của Nhật hoàng, với tư cách là một hiệp sĩ, người chồng cảm thấy có bổn phận phải về kinh đô để bái lạy quân vương. Sau khi đã làm xong nghĩa vụ của một hiệp sĩ, anh ghé ra chợ mua quà cho vợ con. Riêng cho người vợ, anh mua một tấm gương soi mặt bằng bạc...
Đón nhận món quà, ngời đàn bà bỡ ngỡ vô cùng: chị chưa bao giờ trông thấy một tấm gương, chị chưa một lần nhìn thấy mặt mình. Do đó, vừa nhìn thấy mặt mình trong gương, người vợ mới ngạc nhiên hỏi chồng: "Người đàn bà này là ai?". Người đàn ông mỉm cười đáp: "Mình không đoán được đó là gương mặt kiều diễm của mình sao?".
Một thời gian sau, người đàn bà lâm bệnh nặng. Trước khi chết, bà cầm tay đứa con gái và nói nhỏ: "Mẹ không còn sống trên mặt đất này nữa. Sáng chiều, con hãy nhìn vào tấm gương này và sẽ thấy mẹ".
Sau khi người mẹ qua đời, sớm tối, lúc nào đứa con gái ngây ngô cũng nhìn vào tấm gương và nói chuyện với chính hình ảnh của nó. Nó nói chuyện với hình trong tấm gương như với chính mẹ nó.
Ngày kia, bắt gặp đứa con gái đáng nói chuyện với chính mình nó trong tấm gương, người cha tra hỏi, đứa con gái mới trả lời: "Ba nhìn kìa, mẹ con không có vẻ mệt mỏi và xanh xao như lúc bị bệnh. Mẹ lúc nào cũng trẻ và cũng mỉm cười với con".
Nghe thế, người đàn ông không cầm nổi nước mắt, nhưng không muốn cho nó biết sự thật, ông nói với nó: "Nếu con nhìn vào gương để thấy mẹ con, thì ba cũng nhìn vào con để thấy mẹ con".
Tha nhân chính là tấm gương phản chiếu gương mặt của chúng ta. Khi chúng ta lạc quan, khi chúng ta vui tươi, khi chúng ta yêu đời, khi chúng ta hòa nhã chúng ta sẽ nhận ra nét đó trên khuôn mặt của những người xung quanh. Trái lại, khi chúng ta cau có, khi chúng ta giận dữ, khi chúng ta buồn phiền, khi chúng ta thất vọng, chúng ta cũng sẽ thấy được những nét ấy trên gương mặt của người khác...
Tha nhân cũng chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu đứa con có thể nhìn thấy gương mặt khỏe mạnh, vui tươi của người mẹ trong tấm gương, nếu người cha nhìn thấy hình ảnh của người vợ trong đứa con, thì với ánh mắt của tin yêu chúng ta cũng có thể nhìn thấy gương mặt Tình Yêu của Thiên Chúa trong mọi người.
Có Thiên Chúa trong ánh mắt, nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi người, chúng ta sẽ thấy rằng đời có ý nghĩa, tha nhân không phải là hỏa ngục đáng xa lánh...

Chúng ta hãy nhìn vào tấm gương của tha nhân với nụ cười của trẻ thơ để luôn luôn nhận ra được bộ mặt Tình Yêu của Thiên Chúa trong mọi người.

– Thứ Ba, ngày 07.07.2015, Tuần 14 Thường Niên Năm B



Mt 9,32-38
Khi Đức người ta đem đến cho Đức Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Israel, chưa hề thấy thế bao giờ!” Nhưng người Pharisêu lại bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.” Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”
Suy niệm
Thánh sử Matthêu cho thấy nơi Chúa Giêsu, lời tiên báo của tiên tri Isaia đã được ứng nghiệm: “Đẹp thay, trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bô sơn cứu độ” (Is 52,7). Không quản khó nhọc, vất vả ngược xuôi trên những chặng đường dài khắp xứ Palestina, Chúa Giêsu “rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9, 35). Làm biết bao việc tốt lành như thế, nhưng dường như Chúa Giêsu cảm thấy mình vẫn chưa đáp ứng hết mọi nhu cầu của con người. Chúa Giêsu “động lòng thương xót” đoàn lũ dân chúng đông đảo, vì Người thấy họ “tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn” (Mt 9,36). Tất cả thể hiện tấm lòng của Vị Mục Tử Nhân Lành Giêsu (x. Ga 10,1-30), tấm lòng thương xót của một Vì Thiên Chúa.
Sống trong một thế giới đang có nhiều biến động bởi sự tục hoá, khủng bố, chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật,… con người dễ trở nên vô cảm, dửng dưng với tha nhân. Nhưng đồng thời, con người thời đại cũng cần biết bao những tấm lòng như Chúa Giêsu. Điều này mời gọi chúng ta: “đi ra khỏi chính mình và dấn thân vào đời sống xã hội mà ta đang thuộc về, đặc biệt với người nghèo và những ai ở xa”, như Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi. Hơn nữa, là môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta hãy trở nên dấu chứng tình yêu của Thiên Chúa cho con người hôm nay. “Tình thương của Thiên Chúa phá vỡ thái độ khép kín chết chóc là sự dửng dưng, tình thương ấy được Giáo Hội trao tặng cho chúng ta qua giáo huấn, và nhất là qua chứng tá của Giáo Hội. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm chứng về điều mà trước đó chúng ta cảm nghiệm. Kitô hữu là người để Thiên Chúa mặc cho chiếc áo lòng từ nhân và thương xót của Ngài, mặc lấy Chúa Kitô, để trở nên giống Chúa, là Tôi Tớ của Thiên Chúa và loài người”. (ĐTC Phanxicô, Sứ điệp Mùa Chay 2015, số 1).
Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã nói: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa” (Mt 9,38). Chúng con xin Chúa ban cho Giáo Hội và thế giới hôm nay những thợ gặt lành nghề trên cánh đồng truyền giáo. Xin Chúa cũng ban cho chúng con trái tim của Chúa, để theo gương Chúa, chúng con cũng biết “động lòng thương xót” trước những cảnh đời khổ đau mà anh chị em chúng con đang gặp phải. Amen.



07/07/2015 THỨ BA TUẦN 14 TN


Mt 9,32-38
Khi Đức người ta đem đến cho Đức Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Israel, chưa hề thấy thế bao giờ!” Nhưng người Pharisêu lại bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.” Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”
Suy niệm:
Thiên Chúa là tình yêu, thánh Gioan định nghĩa như thế (x. 1Ga 4,8.16). Tự bản chất tình yêu là hướng đến tha nhân, quan tâm đến họ và làm cho họ được hạnh phúc. Trong cuộc đời công khai,Chúa Giêsu chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ, loan báo Tin Mừng cứu độ; đó là những việc làm cụ thể biểu hiện tình yêu của Thiên Chúa. Những hành động yêu thương này làm dân chúng chứng kiến hôm đó phải ngạc nhiên: “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ.” Trái tim Chúa vẫn chạnh thương trước đám đông lầm than vất vưởng như chiên không người chăn dắt. Bởi đó, Chúa lại kêu gọi các môn đệ trở nên hiện thân của Chúa trong hành động yêu thương này.
Được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, nên cuộc sống con người gắn liền với việc yêu thương. Tình yêu phát sinh và gắn kết nhau trong những mối quan hệ: vợ chồng, cha mẹ-con cái, anh em, bạn hữu. Nhưng yêu thương đích thực hệ tại ở cách thức yêu: Yêu thương như Thầy đã yêu mới là yêu đích thực. Khi chúng ta mang tâm tình của Đấng là Tình Yêu, thì cách thức yêu thương của chúng ta sẽ hoạ lại cách yêu thương của Chúa. Lúc bấy giờ người ta nhìn vào và sẽ nói: tôi chưa hề thấy ai có tình yêu như thế.
Chúng ta cũng cảm nhận niềm vui khi bạn thực hiện những hành vi yêu thương như Chúa yêu ta
Lạy Chúa là tình yêu. Xin cho chúng con cảm nhận được tấm lòng rộng mở của Chúa, để chúng con mở lòng ra chia sẻ lại tình yêu đối với

NGÀY 06-07-2015 THỨ HAI TUẦN XIV THƯỜNG NIÊN

 Mt 9, 18-26

18 Người còn đang nói với họ như thế, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói: "Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống."19 Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người. 20 Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người,21 vì bà nghĩ bụng: "Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu! "22 Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói: "Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con." Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa. 23 Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh; thấy phường kèn và đám đông xôn xao, Người nói:24"Lui ra! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " Nhưng họ chế nhạo Người.25Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy.26 Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.SUY NIỆMBài Tin Mừng hôm nay là một trình thuật phép lạ “hai trong một”: hai phép lạ, hai tình huống cùng bộc lộ một niềm tin. Người cha tin rằng, con mình có thể được Chúa chữa lành. Người phụ nữ bị băng huyết tin rằng: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu”.Cuối cùng, hiệu quả của lòng tin đã diễn ra:- Người phụ nữ bị băng huyết không những sờ được áo mà còn chạm đến lòng thương xót của Chúa. Chính nhờ lòng thương xót ấy, bà đã hết bệnh.- Lời kêu xin đầy xác tín của người cha: “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống” cũng đủ để “hối thúc” Chúa Giêsu đứng dậy - đi vào - cầm tay nâng cô bé chỗi dậy. Người đã cho cô bé được sống.Qua những phép lạ, Chúa Giêsu cho thấy, Người là Đấng trao ban sự sống, Người loan báo rằng, trong Nước Thiên Chúa, sự chết phải nhường chỗ cho sự sống. Để lãnh nhận sự sống ấy, điều kiện tiên quyết là tin vào Ngài.Lạy Chúa, xin cho con “dám” chạm đến lòng thương xót Chúa với tấm lòng chân thành, khiêm tốn và cậy trông, để quyền năng và lòng nhân hậu của Chúa chữa lành và cải biến cuộc sống con. Amen.
 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

DÁM HAY KHÔNG ?

Chúa Nhật XIV Thường Niên B                           

Nt. M. Paul Kiền Thu, FMSR

Tin mừng Maccô hôm nay thuật lại cho chúng ta một sự kiện không mấy vẻ vang gì trong sứ vụ của Chúa Giêsu :Người bị từ chối ngay chính nơi quê hương và cả trong họ hàng của mình.Thế nhưng có một nghịch lý thú vị là người nhận thất bại không phải là người bị từ chối mà chính là những kẻ từ chối.
     Tin Mừng cho chúng ta biết “họ vấp ngã vì Người”.Vì thế câu “Ngôn sứ có bị rẻ rúng,thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình,hay giữa đám bà con thân thuộc,và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6,4) không phải là lời bào chữa để tự an ủi,mà là một lời chất vấn về thái độ đón nhận Tin Mừng của mỗi người.Hẳn nhiên Chúa Giêsu nói lên câu đó theo kinh ngiệm lich sử của các tiên tri, song trình thuật Tin Mừng lại giải thích cho chúng ta tại sao những người đồng hương lại không chấp nhận,hay đúng hơn họ không thể tin vào Đức Giêsu.Bởi lẽ trong khi Chúa Giêsu cố gắng mặc khải cho họ về nguồn gốc thiên sai của người qua những lời giảng dạy khôn ngoan và các phép lạ,thì họ lại chỉ bám lấy nguồn gốc nhân loại của Ngài “Ông ta không phi là bác thợ con bà Maria …Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?”(Mc 6,3)Chính thái độ bám ghì lấy,không dám buông bỏ những hiểu biết giới hạn của mình mà họ đã không thể nhận biết Đấng thiên sai, đang ở giữa họ để rồi nhờ đó được đón nhận ơn cứu độ, bởi Chúa Giêsu đã không thể làm được phép lạ nào tại đó vì họ không tin .
 Chúng ta có thể cho rằng những người đồng hương của Chúa Giêsu thật “dại”, bời thay vì “ một người làm quan cả họ được nhờ”thì họ lại đánh mất cơ hội khi quan niệm “bụt nhà không thiêng”.Thật dễ để nhận ra hay để nói về sai lầm của người khác, nhưng thực tế cái nhìn của chúng ta nhiều lúc cũng rất giới hạn.Cái định kiến kiểu “nhìn mặt là biết số nhà” khiến chúng ta không ít lần rơi vào sai lầm như những đồng hương của Chúa Giêsu hôm nay.Có bao giờ việc một người ngoại đạo nhận được phép lạ (mà chúng ta được nghe kể rất nhiều hay đã được chứng kiến) khi họ cầu xin với Chúa Giêsu hoặc với Mẹ Maria khiến chúng ta suy nghĩ? Hay trước họ chúng ta lại cảm thấy hãnh diện vì Chúa của mình làm được phép lạ,và có thể nói không dứt với những hiểu biết của chúng ta về “Chúa của mình”, song lại chẳng bao giờ thấy có một phép lạ nào xảy ra trong cuộc đời mình.Thật ra,mỗi hiện hữu của chúng ta đã là một phép lạ,và mỗi ngày Chúa vẫn đang tiếp tục thực hiện những phép lạ trong cuộc đời của mỗi người.Thánh lể với Bí Tích Thánh Thể không là một phép lạ nhãn tiền cho chúng ta đó sao ?Song để nhận ra phép lạ,cần phải có đức tin, và để nhận ra được hiệu quả của những phép lạ, cần phải dám tin.Thế mà đức tin lại đòi chúng ta phải vượt lên trên những gì ta có thể biết,cảm, nếm,sờ,thấy bằng giác quan.Như chính Chúa Giêsu đã nói với Phêrô khi ông tuyên xưng Người là Đấng Kitô “không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy,nhưng là Cha của Thầy”(Mt 16, 17).

  Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại cách thức và thái độ của chúng ta khi lắng nghe lời Chúa cũng như những giáo huấn của Giáo Hội.Khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội,chúng ta được đón nhận hạt giống đức tin,và phải có bổn phận làm cho hạt giống đức tin đó được lớn lên.Mà đức tin thì luôn luôn đòi chúng ta làm một cuộc ra khỏi mình là ta đã đi được rất xa trên hành trình đức tin.Vấn đề là mỗi người có dám hay không để làm cuộc hành trình này.   

Chúa nhật XIV Quanh năm B


 ( Mc 6,1-6 )
Nghịch lý là dư luận hay thực tế đi ngược lại những gì cách chung đã được chấp nhận, hay là những gì đi ngược lại những gì bình thường phải có. Trong đời sống xã hội, hay trong sinh hoạt tôn giáo, đạo đức, cũng có nhiều nghịch lý. Lời Chúa hôm nay đề ra hai nghịch lý điển hình.
Truớc hết là việc Chúa Giêsu bị ruồng bỏ bởi những người thân. Chúa Giêsu trở về quê nhà sau khi đã đi một vòng bên ngoài. Người ta đã nghe nói nhiều điều tốt đẹp về ngài. Ngài giảng dạy như là chưa từng có ai giảng dạy như ngài. Ngài thực hiện những phép lạ. Ngài chữa lành nhiều bệnh nhân. Ngày ngài trở về quê, người ta chờ đón ngài như đón một ngày lễ lớn, ở trong hội đường.
Ấy thế mà, “ đứa con của quê hương” lại được đón tiếp một cách lạnh nhạt. Người ta khó lòng mà hình dung ra, con của một bác thợ mộc và bà Maria lại có thể là một nhân vật mà người ta đồn thổi, giảng hay và làm nhiều phép lạ. Và họ đã vấp phạm vì ngài.
Điều này khiến chúng ta liên tưởng đến việc chúng ta có khuynh hướng là khó lòng nhìn nhận những tài năng, không phải của con cái, hay của những người trong gia đình, mà là của những người hàng xóm, láng giềng, hay của đồng bào. Thái độ ti tiện không phải là không có những hậu quả, bởi vì nó làm tổn thương anh em, và cản trở những dự án giá trị được thực hiện.
Nó cũng khiến chúng ta nghĩ đến cách thế mà chúng ta đón nhận hoặc không đón nhận, lắng nghe hoặc không lắng nghe những người, rất gần gũi với chúng ta, lại là những chứng nhân của Thiên Chúa. Đó có thể là một đứa trẻ, do sự sốt sắng, đã chất vấn chúng ta. Đó có thể là một người hàng xóm nói với chúng ta về tôn giáo. Đó có thể là một thanh niên phản kháng những cái mà anh ta cho là những giá trị giả trá. Đó có thể là vị linh mục, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cáo giác một vài cách thế hành động và cách nghĩ không đúng của chúng ta. Bởi vì chúng ta biết tất cả những người này, có thể là quá biết. Bởi vì chúng ta biết rõ những khuyết điểm và yếu đuối của họ, vì thế chúng ta đánh giá thấp chứng từ của họ.
Chúa Giêsu đã khẳng định: “ Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình”. Nếu chúng ta thuộc vào số những người không có quyền ăn nói, không được tiếp đón ân cần trong nhà riêng của họ, trong cộng đoàn của họ, trong môi trường của họ, thì chúng ta hãy nhớ, Chúa Giêsu cũng đã trải qua hoàn cảnh đó. Và môn đệ không cao trọng hơn thầy mình.

Nghịch lý thứ hai là thánh Phaolô, khi phát biểu lời Thiên Chúa: “ Sức mạnh của Ta được bày tỏ trong sự yếu đuối”. Như thế, Con người càng mạnh mẽ, kiêu hãnh và chắc chắn về mình, càng ý thức được những khả năng của mình, thì sức mạnh của Thiên Chúa vượt qua khỏi người ấy. Ngược lại, người đó càng khiêm nhường, nhỏ bé, ý thức được những giới hạn của mình, nhưng hoàn toàn trông cậy vào Chúa, thì bấy giờ sức mạnh của Thiên Chúa có thể được tỏ bày nơi người ấy.
Rõ ràng là một nghịch lý, hoàn toàn đi ngược lại với những gì mà chúng ta nghe nói hằng ngày, và đi ngược với những gì mà chúng ta nhiều phen tin tưởng. Cần phải thông thái, giàu có, thống trị kẻ khác… để thành công trong cuộc đời. Đó là cái triết lý hiện hành. Hoàn toàn trái ngược những gì mà Thiên Chúa nghĩ. Thiên Chúa vui lòng thực hiện những việc vĩ đại thông qua những người nhỏ bé, nghèo hèn, yếu đuối, tầm thường; những con người không ví mình là những vĩ nhân, những người xác tín rằng, nếu họ làm được điều gì lớn lao, thì không phải là do sự quan trọng của họ, mà là do sự vĩ đại của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi họ.
Chúng ta còn nhớ Đức Maria. Người ta không chú ý đến ngài. Thế mà biết bao điều kỳ diệu Thiên Chúa đã thực hiện nơi ngài và nhờ ngài. Thánh Phaolô, một con người kiêu hãnh và tự phụ, đã bị thử thách rất nhiều và đã bị tổn thương trong thân xác của ngài… và đã trở thành một người khiêm nhường. Nơi ngài và nhờ ngài, Thiên Chúa đã thực hiện những việc vĩ đại.
Luôn luôn là như thế. Những người đau bệnh, Thiên Chúa thích làm việc qua họ. Những người có vẻ không là gì, chính những người đó Thiên Chúa rất thường chọn để thực hiện những chương trình và dự án tốt đẹp nhất.
Chúng ta hãy nhìn về chính chúng ta. Nếu chúng ta đau khổ về những yếu đuối của chúng ta, về những nỗi nhút nhát, lo sợ, những bất tài của chúng ta, thì chúng ta đừng chìm đắm trong nỗi chán nản. Tốt hơn hết là chúng ta hãy phục vụ Thiên Chúa với tất cả tấm lòng, và nài xin ngài thực hiện trọn vẹn cho chúng ta những gì mà ngài đã hòan tất cho những người khác.
Chớ gì sự tòan năng của Thiên Chúa trao bao cho chúng ta tất cả những năng lực của ngài, trong sự yếu đuối của chúng ta. 


Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

THỨ BẢY 04.07 - Tuần XIII Thường Niên


St
27:1-5.15-29; Mt 9:14-17
Mt 9, 14-17
Khi ấy, các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Ðức Giêsu rằng: “Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” Ðức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể đã bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế mới giữ được cả

ĐỔI MỚI
Sau 6 tháng trị vì, đức giáo hoàng Phanxicô đã bắt đầu công cuộc cải cách giáo triều với một cuộc họp lịch sử cùng với 8 vị hồng y cố vấn.
Đức Giêsu kể dụ ngôn vải mới – áo cũ, rượu mới – bầu da cũ. Nếu lấy vải mới vá vào áo cũ, miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng rách to hơn; nếu lấy rượu mới đổ vào bầu da cũ, bầu da sẽ nứt.
Qua dụ ngôn ngắn gọn này, Đức Giêsu muốn dạy cho các môn đệ của ông Gioan cũng như tất cả chúng ta một bài học: Để hiểu được những việc Chúa làm và những giá trị của Tin Mừng, chúng ta cần có một tư tưởng, một cái nhìn mới. Không thể dùng tư tưởng “lỗi thời” của Cựu Ước, cũng như tư tưởng “hẹp hòi” của mỗi chúng ta để tiếp nhận giáo huấn mới mẻ của Đức Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết thành tâm hoán cải, để tư tưởng chúng con được biến đổi, được trở nên tươi mới và rộng mở, hầu có thể đón nhận “rượu mới” là Tin Mừng của Ngài.


04/07/2015 Thứ Bảy Tuần VIII Mùa Thường Niên Năm B



PHÚC ÂM: Mt 9, 14-17
"Làm sao các phù rể có thể buồn rầu khi tân lang còn đang ở với họ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô, các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi: "Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?" Chúa Giêsu nói với họ rằng: "Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Thánh Phanxicô được mệnh danh là người nghèo của Thiên Chúa, đã làm một cuộc đoạn tuyệt với tất cả những gì thuộc về thế gian để nên giống Chúa Giêsu trong mọi sự.
Trên bước đường theo Ngài, Chúa Giêsu không chấp nhận bất cứ thỏa hiệp nào nơi người môn đệ: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình". Nếu chính bản thân mà còn phải từ bỏ, thì huống chi những gì thuộc về thế gian. Thái độ dứt khoát này được Chúa Giêsu làm nổi bật trong cách xử thế của Ngài đối với một số những luật lệ Cựu ước. Trong khi các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và những người Biệt phái tuân giữ một số ngày chay tịnh, thì Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài tự miễn chước. Hành động như thế, Chúa Giêsu muốn nói lên sự độc lập của Ngài và của các môn đệ đối với một số truyền thống cũ. Chúa Giêsu đã minh định thái độ của Ngài khi tuyên bố về sự hiện diện của Tân lang. Ngài chính là Tân lang, là Ðấng Cứu Thế mà con người mong đợi.
Theo truyền thống Do thái giáo, việc giữ chay được liên kết chặt chẽ với việc chờ đợi Ðấng Cứu Thế. Ăn chay có nghĩa là nói lên niềm trông đợi Ðấng Cứu Thế. Căn cứ trên ý nghĩa và mục đích của việc giữ chay như thế, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Ðấng Cứu Thế, do đó các môn đệ không cần giữ chay, bởi vì họ không cần phải trông đợi nữa. Ðó là thái độ hợp thời và hợp lý: họ đang sống bên Chúa Giêsu: thái độ của họ không phải là thái độ buồn sầu, khóc lóc. Thời của Ðấng Cứu Thế không phải là thời của tang chế, ủ dột, mà là thời của hân hoan.
Làm môn đệ Chúa Giêsu, sống với Chúa Giêsu, thái độ của người theo Chúa phải là sống tất cả cho Ngài và vì Ngài. Ðưa ra dụ ngôn chiếc áo và bình rượu, Chúa Giêsu muốn nói rằng thái độ của người môn đệ phải là thái độ dứt khoát tận căn, một thái độ không pha lẫn Tin Mừng với tinh thần thế tục.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xét lại tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu. Mang danh hiệu của Ngài, làm môn đệ của Ngài có nghĩa là phải sống trọn cho Ngài. Nói như thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi". AMEN.
04/07/2015 THỨ BẢY TUẦN 13 TN


Mt 9, 14-17
Khi ấy, các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Ðức Giêsu rằng: “Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” Ðức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể đã bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế mới giữ được cả hai.”


CANH TÂN ĐỜI SỐNG ĐẠO

Suy niệm: “Rượu mới bầu da mới” đã thành một qui luật tồn tại. Qua mọi thời, Giáo Hội vẫn luôn đi tìm những hình thức mới chuyển tải sứ điệp Phúc Âm để người đương thời có thể tiếp nhận được. Cũng trong ý hướng đó mà vào ngày 25/01/1959, khi được bầu làm Giáo Hoàng mới chỉ có ba tháng, đức chân phước Gioan XXIII đã triệu tập công nghị giáo phận Rôma, rồi công đồng chung của Giáo Hội toàn cầu và canh tân giáo luật. Ngài muốn cập nhật (aggiornamento) đời sống Giáo Hội cho thích hợp với một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Đây cũng chính là ý hướng chủ đạo của công đồng chung Vatican II mà chúng ta sắp cử hành kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc.
sống chung quanh ta đang diễn ra với những thay đổi sâu rộng và nhanh chóng: làm ăn, mua sắm học hành, vui chơi, xây cất… Cần tìm ra những cách sống đạo, làm việc tông đồ, sinh hoạt đoàn thể phù hợp với hoàn cảnh mới, bằng không có nguy cơ xơ cứng, xói mòn, lạc hậu, không hiệu quả.
Chúng ta  tránh thái độ bảo thủ, nhưng biết cởi mở, sẵn sàng lắng nghe những phản biện, những đề xuất mới mẻ giúp cho đời sống đạo mỗi ngày một sống động hơn, linh hoạt hơn.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến đổi mới tâm hồn con  trong ân sủng Chúa và giúp chúng con đổi mới cuộc sống chung quanh con.


NGÀY 04-07-2015 THỨ BẢY TUẦN XIII THƯỜNG NIÊN


LỜI CHÚA: Mt 9,14-17
14 Bấy giờ, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? "15 Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay.16 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm.17 Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai."
SUY NIỆM
Qua những hình ảnh đời thường: “rượu mới phải đựng trong bầu da mới, áo mới phải vá bằng vải mới”, được sử dụng để làm dụ ngôn, Chúa Giêsu dẫn chúng ta đến một nhận thức về ơn gọi làm con Thiên Chúa. Người cũng dạy giáo lý về ơn cứu độ nhằm giải thoát con người khỏi vòng thống trị của ma quỷ, của tội lỗi.
Và những điều “mới”: áo mới, vải mới hoặc rượu mới, bình mới, đối nghịch với những hình ảnh: áo cũ, rượu cũ, vải cũ, bình cũ.
Những cái “cũ” là những kiểu sống chỉ biết dựa trên kinh sách, lễ nghi hoặc truyền thống, nhưng không sống lòng mến, không có tình bác ái, không đem con người đến gần hơn với Thiên Chúa, không làm cho con người sống yêu thương với anh chị em.
Với tinh thần mới này, một cách cụ thể, Chúa dạy người ta ăn chay bằng cả tấm lòng, bằng tình yêu mến, bằng sự hy sinh, bằng dấn thân cho công bằng, cho chân lý…
Người ta phải loại trừ kiểu ăn chay hình thức: ăn chay nhưng xoi mói, thiếu bác ái, thiếu tình yêu, thiếu lòng chân thành…
Vậy chúng ta rút ra hai kết luận này:
- Ăn chay không phải là để khoe khoang, nhưng là để sửa chữa những thói quen bất công và tập sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân.
- Bằng việc chay tịnh, chúng ta tập sống khắc khổ, sống khiêm nhường và nâng cao tình yêu của mình chứ không phải xoi mói, phê phán anh chị em.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con ý thức rằng, Chúa luôn hiện diện trong cuộc sống chúng con, vì thế xin đừng để chúng con sống và giữ đạo với bộ mặt bên ngoài mà thiếu tấm lòng. Xin giúp chúng con chay tịnh lòng mình, nghĩa là nhìn thấy mình còn nhiều lỗi lầm, nhiều khuyết điểm mà ăn năn đền tội cho xứng với ơn nghĩa và tình yêu của Chúa.  Amen.


CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN


Có tin mới thấy
(Mác-cô 6:1-6)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mác-cô1Khi ấy, Đức Giêsu trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3Ông ta không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria và là anh em với các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Giu-đa và Si-môn sao? Và họ vấp ngã vì Người. 4Đức Giêsu bảo họ: “Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.Đó là Lời Chúa.


Tại một vùng của nước Pháp, dân chúng có tập tục rất lạ. Đó là vào sáng sớm Chúa Nhật Phục sinh khi hồi chuông đầu tiên của nhà thờ vang lên, tất cả mọi người đều trổi dậy chạy ra giếng làng để rửa mắt với giòng nước mát lạnh.
Nhiều bạn trẻ không hiểu vì sao lại chạy ra giếng rửa mắt, trong khi ngày nay gia đình nào cũng có các vòi nước trong nhà.
Lúc ấy các vị bô lão mới giải thích : Đó là hình thức cầu nguyện bằng hành động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt đức tin mới, để họ thấy Đức Giêsu Phục sinh đang hiện diện sống động giữa họ.
*
Với con mắt định kiến, thiển cận và hẹp hòi, những người đồng hương với Đức Giêsu đã không nhận ra khuôn mặt thật của Người. Họ không tin Người là một tiên tri, lại càng không thể tin Người là Đấng Cứu Thế, và chắc chắn họ chẳng ngờ mình là người đồng hương với Con Thiên Chúa.
Chính lòng ghen tỵ là một trong những nguyên nhân khiến "các tiên tri không được kính trọng ở quê hương mình" (Lc.4,24). Mc. Kenzie nói : "Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tỵ nhìn bằng kính hiển vi".
Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy quá khứ rất đỗi bình thường của Người.
Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy hiện tại của Người không một chút hào quang.
Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy nơi Người một bác thợ mộc rất mực âm thầm, khiêm tốn.
Chính vì không tin nên họ đã không thấy. Thấy đây là thấy toàn vẹn khuôn mặt của Thiên Chúa. Thấy đây là thấy Người bằng cái nhìn luôn đổi mới. Thấy đây là thấy với con mắt đức tin. Tác giả thư Do thái viết : "Đức tin là bảo đảm cho những gì ta hy vọng, là bằng chứng cho những gì ta không thấy" (Dt.11,1). James Woodbridge viết : "Đức tin là con mắt để nhìn thấy Chúa, là bàn tay để nắm lấy Người, là sức mạnh giúp ta tự hiến cho Người".
Cho dù Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Người có thể làm được mọi sự. Nhưng Người phải bó tay trước sự cứng lòng của con người. Người đã trở nên bất lực trước những kẻ thiếu niềm tin. Và quả thật, "Người đã không thể làm được phép lạ nào" tại quê hương mình. Thế mới biết con người có khả năng cản trở Thiên Chúa, con người có toàn quyền từ chối quà tặng của Người.
Nếu Phép lạ là quà tặng của Thiên Chúa, cần được đón nhận với Niềm tin ; thì chính Niềm tin là ân huệ của Thiên Chúa chỉ có thể nhận được với lời cầu nguyện. Cần phải cầu nguyện để có Niềm tin. Nhà bác học kiêm triết gia Pascal đã nói : "Để có niềm tin con người phải quì gối cầu xin".
*
Lạy Chúa, còn bao nhiêu việc lạ lùng Chúa muốn làm cho đời chúng con, xin Chúa ban thêm Niềm tin cho chúng con, để nhờ đó Chúa được tự do thực hiện những kỳ công của Người. Xin giúp chúng con cũng biết gieo rắc Niềm tin Chúa trong lòng mọi người. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")


Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XIII Thường Niên


03/7. Thứ Sáu. Thánh Tôma Tông đồ. Ep 2,19-22; Ga 20,24-29
Bài đọc I - Ep 2,19-22
Anh em thân mến, anh em không còn là khách trọ và khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Ðức Giêsu Kitô làm đá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa; trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.
Tin mừng - Ga 20,24-29
Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ði-đy-mô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!"
Suy niệm
Nhắc đến Tôma, ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh của môt người kém tin, cứng tin. Trước lời chứng của các Tông đồ về việc Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với họ, Tôma vẫn cứng tin, đòi kiểm nghiệm thực tiễn bằng chính mắt mình, tay mình. Chính Đức Giêsu Phục sinh lại hiện đến, cách riêng cho Tôma, và sẵn sàng để ông kiểm chứng bằng giác quan của ông.
Như Tôma, nhiều khi tôi trở nên cứng tin trước những mầu nhiệm về Thiên Chúa, muốn tìm kiếm, muốn đụng chạm đến Chúa bằng trí khôn hạn hẹp, đầy giới hạn của con người.
Mong sao, lòng tôi mềm mại hơn, để dễ đón nhận ý Chúa, những chân lý về Chúa qua những giáo huấn của Giáo hội hướng dẫn đời sống tôi.
Mong sao, tôi qua những tháng ngày gắn bó với Chúa, tôi có được cảm nhận như các Tông đồ xưa, khi các ông “khoe” với Tôma: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”.

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

THỨ SÁU 03.07


THÁNH TÔ-MA, TÔNG ĐỒ. Lễ kính

Ep 2:19-22; Ga 20:24-29
Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an.” Rồi Người bảo Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ðức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”

LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Vào ngày 22/02/1931, Chúa Giêsu đã truyền cho chị nữ tu Faustina Kowalska người Ba Lan thông điệp Lòng Thương Xót Chúa.
Chúa Phục Sinh là một biến cố vĩ đại và vượt quá sự hiểu biết của con người. Vì thế, ông Tôma đòi phải có chứng cứ về mặt thể lý do chính ông xác nghiệm, ông mới tin. Nhiều người xem ông là kẻ chậm tin.
Vì thương xót, Đức Giêsu đã đích thân hiện ra để củng cố đức tin của ông Tôma. Ông đã mạnh mẽ tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là Đấng Phục Sinh và là Thiên Chúa.
Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cũng có những giây phút nghi nan và niềm tin chao đảo. Vì thương xót chúng ta, bằng cách này cách khác, Chúa cho chúng ta nhận ra dấu chứng tình yêu của Người, nhờ đó chúng ta tin tưởng vào Chúa hơn.

Xin thương xót con cùng, lạy Thiên Chúa,
xin Ngài thương xót con,
này con đến ẩn náu bên Ngài. (Tv 57,2)

Ngày 03.07.2015, Thứ Sáu Tuần 13 TN



Ngày 03.07.2015, Thứ Sáu Tuần 13 TN
Th. Tôma, tông đồ

Ga 20,24-29
Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an.” Rồi Người bảo Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ðức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”

Tin lời chứng của cộng đoàn
Suy niệm: Tôma được gọi là “chuyên gia đi vắng”, bởi vì ngoài lần vắng mặt hôm nay, theo truyền thuyết, ông còn vắng mặt khi chôn cất Đức Mẹ. Lúc trở về, ông đã nằng nặc đòi mở tảng đá để nhìn xác Đức Mẹ lần cuối, và vì thế, khám phá ra trong mộ không còn xác Đức Mẹ nữa! Nhờ lần vắng mặt khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra ấy, ông được Ngài hiện ra lần nữa, đặc biệt cho riêng ông, cho thấy Ngài quan tâm đến ông biết bao, và cũng nói cho ông biết Ngài xác nhận lời chứng của các tông đồ. Ngài như muốn nói với ông, và cả chúng mình, rằng không cần phải mắt thấy tai nghe, tay đụng chạm mới tin Ngài phục sinh, chỉ cần dựa vào lời chứng của các tông đồ là đủ. Theo truyền thống, thánh nhân rao giảng Tin Mừng tại Ba Tư, Syri, Ấn Độ và tử đạo tại miền đất Á Châu xa xôi này.
Noi gương thánh Tôma: khi đã tin Đức Kitô phục sinh, thì sống hết mình với niềm tin ấy. Cách tốt nhất để sống niềm tin phục sinh là trở thành chứng nhân cho niềm tin này.
Tại sao đời tôi buồn phiền, lây lất như vậy, phải chăng vì niềm tin phục sinh chưa thật sự chi phối đời tôi?
Tôi sẽ để niềm hy vọng phục sinh chi phối cuộc đời, bằng cách mọi cư xử, chọn lựa, quyết định của tôi đều dựa vào niềm hy vọng này.
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con chân thành tuyên xưng như thánh Tôma: “Lạy Chúa Con, lạy Thiên Chúa của con” và nỗ lực hết mình để niềm tin phục sinh chi phối toàn bộ cuộc đời chúng con. Amen.


03.07.2015 – Thứ sáu - Thánh Tôma, Tông đồ



Ga 20, 24-29


Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an.” Rồi Người bảo Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ðức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”

Suy niệm


Tôma đã không tin lời chứng của các môn đệ rằng Chúa Giêsu đã sống lại qua việc Ngài hiện ra với họ. Đức tin của cộng đoàn các môn đệ, những người bạn thân thiết đã cùng ông theo Chúa nhiều năm tháng, không giúp ông tin vào sự sống lại của Chúa. Ông khẳng định mình chỉ có thể tin nếu chính ông được gặp Chúa hiện ra, để xác nhận rằng đó chính là Chúa Giêsu thật qua các vết thương của Ngài. Tuy nhiên, khi Chúa hiện ra với ông, Tôma đã không cần thực hiện việc ‘xác nhận’ đó nhưng vẫn tin Chúa đã thực sự sống lại.

“Sự hồ nghi của Tôma” là điều mà không ít Kitô hữu ngày nay đang gặp phải, đặc biệt là các bạn trẻ phải rời xa gia đình, xa cộng đoàn giáo xứ thân quen để bước vào môi trường học tập, làm việc mới, nơi có những chủ trương, lối sống, học thuyết dễ khiến đức tin của họ bị chao đảo. Khi đó, họ cũng có cùng tâm trạng với thánh Tôma khi xưa, đó là cảm thấy đức tin của cộng đoàn mà mình đã và đang sống chung không giúp gì cho họ trong việc tìm lại niềm xác tín vào Chúa. Có thể họ vẫn đi lễ, vẫn tham dự các cử hành phụng vụ cùng với cộng đoàn, nhưng lại cảm thấy lạc lõng giữa những người đang sốt sắng cầu nguyện, ca ngợi Chúa. Cái họ cần là một cảm nghiệm cá vị với Chúa. Khi xưa, Chúa đã đáp ứng “yêu cầu” chính đáng này của thánh Tôma, nhưng Ngài không hiện ra với một mình ông, nhưng là với cộng đoàn các môn đệ có Tôma ở đó. Điều này có nghĩa là hành trình tìm kiếm niềm xác tín cá nhân không thể tách rời khỏi cộng đoàn, nhưng phải được thực hiện trong cộng đoàn và nhờ sự trợ giúp của cộng đoàn. Ngày nay, có lẽ Chúa sẽ không hiện ra cách tỏ tường với mỗi cá nhân để đáp lại mọi yêu cầu phải nhìn thấy Chúa thì mới tin vào Ngài, nhưng Chúa chắc chắn cho ta gặp được Ngài qua những gương sáng sống đức tin ngay trong chính cộng đoàn: đó có thể là một cụ già ít học, lọm khọm chống gậy đến nhà thờ mỗi ngày dù trời mưa gió; hay đó cũng có thể là một người đồng trang lứa, sẵn sàng hy sinh thời gian, công sức để làm việc bác ái.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết mở lòng để nhận ra hình ảnh của Chúa nơi những người xung quanh chúng con, và xin ban cho chúng con sự nhạy bén, cảm thông và khả năng giúp đỡ những người đang gặp thử thách về đức tin. Amen.



Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

02/07/2015 thứ năm tuần 13 tn

02/07/2015 thứ năm tuần 13 tn
Lời Chúa: Mt 9, 1-8
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!” Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.” Nhưng Đức Giêsu biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?” Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà!” Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.


Suy niệm: Chứng bệnh bại liệt tuy không ghê sợ như bệnh phong hủi, nhưng nó cũng là đáng sợ, khi làm cho người bệnh tê liệt, không còn khả năng tự mình hoạt động như mình muốn. Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta một bài học thật cảm kích: tấm lòng nhân ái của những người khiêng bệnh nhân đến với Chúa Giê-su, tình thương của họ đã bù đắp những khiếm khuyết nơi người bại liệt và nhờ đó anh ta đã đến được với Chúa Giê-su và được chữa lành.
Ngày nay, bại liệt hầu như không còn là một chứng bệnh hiểm nghèo: người ta được tiêm chủng phòng ngừa ngay khi còn là trẻ sơ sinh. Thế nhưng, chứng bại liệt tinh thần vẫn còn là một căn bệnh đáng sợ, khi mà con người ngày nay dễ dàng mất đi khả năng phân định tốt xấu, không đủ sức mạnh để chọn lựa, bênh vực cho chân lý và sự thật, kéo theo biết bao vấn đề xã hội: bất công, tham nhũng, hối lộ, nạo phá thai, ăn chơi truỵ lạc… Bao kế hoạch hành động chỉ là “phong trào” nếu không trị tận căn chứng bại liệt tinh thần này.
Tại môi trường ta đang sinh sống và làm việc vẫn có những người đang mắc những chứng bệnh bại liệt đối với những giá trị Tin Mừng? Ta hãy cùng với vài người thiện chí “khiêng” họ đến với Chúa Giê-su bằng những lời nói chân thành, nụ cười cảm thông và hành động giúp đỡ thiết thực..
Lạy Chúa Giê-su, Vua Tình Yêu! Thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con thật quá nhỏ, xin ban cho chúng con trái tim bén nhạy và đôi tay rộng mở để chúng con luôn sẵn sàng đến với những anh chị em đang cần tình thương và sự nâng đỡ. Amen.



02.07.2015 – Thứ năm Tuần 13 Thường niên


Lời Chúa: Mt 9, 1-8
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!” Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.” Nhưng Đức Giêsu biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?” Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà!” Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.
Suy niệm
Khi thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng : "Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi". Chúa Giêsu gắn liền việc chữa lành với lời tha tội, Ngài chứng minh điều Cựu ước đã nói nay đã ứng nghiệm: thời sau hết là đây, và chính Ngài là Con Người nắm quyền xét xử trong thời gian sau hết, và ở dười đất Ngài dùng quyền đó để tha tội cho con người. Bằng chứng là Chúa Giêsu đến đưa con người ra khỏi bệnh tật và tội lỗi. Tuy nhiên, Ngài không ám chỉ tội của người bệnh là nguyên nhân gây bệnh và Ngài cũng không cho rằng tội của anh bại liệt nặng hơn những người khác. Chính Ngài chữa và tha tội cho người bất toại, là cách Ngài công khai tỏ mình là Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội.
Chúa đã ra lệnh cho anh bất toại trỗi dậy, anh được sống lại bằng đời sống mới và không còn trong kiếp tội nhân. Hôm nay, Chúa cũng truyền lệnh cho mỗi chúng ta cũng hãy trỗi dậy từ sự bất toại của mình. Đó là bất toại do tội lỗi và hệ lụy của nó. Việc Chúa Giêsu xác nhận niềm tin của thân hữu bệnh nhân và tha tội cho bệnh nhân là lời mời gọi mỗi người Kitô hữu cũng phải biết cầu nguyện cho tội nhân được ơn trở lại, để được ơn tha thứ. Đồng thời, những việc làm, lời nói biểu lộ lòng tin vào Thiên Chúa trong cuộc sống đời thường của mỗi chúng ta cũng có ảnh hưởng đến anh chị em mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết chạy đến với Chúa mỗi ngày, để nhờ đó chúng con cần lấy ánh sáng niềm tin, lòng cậy và lòng mến để thoát ra khỏi sự bất toại của lòng mình và bước vào một đời sống mới trong ơn nghĩa Chúa. Amen.



CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN


Chúa Giê-su đối phó với định kiến
  (Mác-cô 6:1-6)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mác-cô
1Khi ấy, Đức Giêsu trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3Ông ta không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria và là anh em với các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Giu-đa và Si-môn sao? Và họ vấp ngã vì Người. 4Đức Giêsu bảo họ: “Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên vài 
bệnh nhân và chữa lành họ. 6Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
Đó là Lời Chúa.
Suy niệm :
          Trên đường thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su có dịp trở về Na-da-rét, nơi Người đã lớn lên và sinh sống.  Không cần biết lý do gì khiến Người ghé lại quê nhà, đây vẫn là một cơ hội để sống lại tình thân và những kỷ niệm êm đềm.  Mặc dù Chúa Giê-su đã là người của công chúng, nhưng Người không quên mình luôn là một người con của Na-da-rét.  Do đó phố xá và người dân Na-da-rét là những gì thân thương của Người.  Tuy nhiên giữa lòng Na-da-rét còn một nơi đáng ghi nhớ nhất, đó là hội đường, nơi Chúa Giê-su đã vun trồng đời sống thiêng liêng của mình qua những buổi chia sẻ lời Chúa với anh chị em tại hội đường.  Những lời giảng dạy và chia sẻ của Người đầy khôn ngoan làm cho nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên.  Ngạc nhiên về sự khôn ngoan của Chúa Giê-su, người dân Na-da-rét bắt đầu có vấn đề, vấn đề định kiến.
          Việc Chúa Giê-su thi hành sứ vụ đã làm cho Người nổi tiếng.  Dân làng Na-da-rét nghe đồn về Người.  Hôm nay Người trở về quê nhà và sau khi Người giảng dạy tại hội đường, dân chúng thấy quả thực lời đồn không sai.  Sự đố kỵ khiến họ nêu lên một thắc mắc chung:  “Bởi đâu ông ta được như thế?” và họ muốn có câu trả lời thỏa đáng.  Nhưng đố kỵ và định kiến đã che mất tầm nhìn của họ, để họ không thấy được sự khôn ngoan và quyền năng của Chúa Giê-su là từ Thiên Chúa mà có.  Họ nhìn Người không vượt qua những liên hệ nhân loại như bác thợ, con bà Ma-ri-a, anh em với một số người tại Na-da-rét.  Rồi vì không thấy được nguồn gốc Thiên Chúa của Chúa Giê-su, họ coi Người chỉ là con người họ đã từng gặp trước đây, điều mà thánh sử Mác-cô gọi là “họ vấp ngã vì Người”.  Việc vấp ngã của dân làng Na-da-rét chính là định kiến về xuất xứ của Chúa Giê-su. Với họ, Chúa Giê-su không phải là người Thiên Chúa đã sai đến với con cái Ít-ra-en (Ê-dê-ki-en 2:3), cũng không phải là một ngôn sứ đang ở giữa họ (2:5), mà đơn thuần chỉ là một con người tầm thường.
          Tuy nhiên điều quan trọng chúng ta học được ở câu chuyện Tin Mừng hôm nay không phải từ nơi dân làng Na-da-rét, mà là cách Chúa Giê-su ứng phó với thử thách do định kiến và ghen tương của họ.  Trước hết Người không sử dụng quyền năng Thiên Chúa của mình để sai lửa từ trời xuống thiêu hủy Na-da-rét (xem Lu-ca 9:51-56).  Người chỉ bình tĩnh nói lên một sự thật bình thường:  bụt nhà không thiêng!  Lòng tin là điều kiện tất yếu để phép lạ xảy ra, cho nên sự kiện Người “không thể làm được phép lạ nào tại đó” không phải vì Người không đủ quyền năng,  nhưng vì họ thiếu lòng tin.  Chúng ta có thể nghĩ là Người cảm thấy buồn và lấy làm lạ vì họ không tin.  Nhưng sự kiên nhẫn đã giúp Người dừng lại ở đó và tìm cách giải quyết sao cho thích hợp với việc thi hành sứ vụ, đó là “đi các làng chung quanh mà giảng dạy”.  Ưu tiên của Người là rao giảng Tin Mừng chứ không phải là chỉ tìm kiếm thành công và làm cho người khác ngưỡng mộ.  Người coi nhu cầu đón nhận Tin Mừng của những người dân các làng chung quanh lớn hơn cả danh thơm tiếng tốt của cá nhân Người đã bị dân làng Na-da-rét coi thường.  Không những Người vững lòng tiếp tục thi hành sứ vụ, mà còn “gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một” để họ nâng đỡ nhau mà đối phó với thử thách (Mác-cô 6:7-13).
 Sống sứ điệp Tin Mừng
          Đối phó với thử thách do ghen tương, đố kỵ là điều chúng ta không ai tránh khỏi.  Nhưng chúng ta thường đối phó theo cảm tính hoặc với não trạng bảo vệ hay trả thù. Không thiếu những trường hợp chúng ta tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng hay giáo xứ và trở thành nạn nhân của đố kỵ và ghen tương.  Một ca viên nổi trong ca đoàn có thể bị ca viên khác chê bai.  Một thành viên đắc lực của hội đồng mục vụ có thể bị đổ oan là muốn quảng cáo cho dịch vụ của mình.  Biết bao nhiêu ví dụ nữa khi chúng ta đóng góp xây dựng cộng đoàn.  Đố kỵ ganh ghét là con đẻ của lòng kiêu căng.  Vì thế chúng ta hãy tập cách đối xử của Chúa Giê-su, Đấng mời gọi chúng ta hãy học với Người, vì Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, luôn bỏ đi thái độ tự ái để tiếp tục chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa trao ban.
                     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi


CHÚA NHẬT XIV / TN / B



CĐ: TIN MỪNG ĐƯỢC LOAN BÁO CHO NGƯỜI NGHÈO HÈN 
*Bài đọc 1: Ed 2,2-5 
Khi gọi Ê-dê-ki-en làm tiên tri, Thiên Chúa ban Thần Khí cho ông, để ông có đủ khả năng thực thi sứ vụ. Chúa đòi hỏi Tiên tri phải tin tưởng, can đảm đứng vững, nói những lời Chúa muốn, nếu cần, phải ngăm đe, để người ta ăn năn sám hối... Cụ thể như khi được sai đến với dân Ít-ra-en, một dân cứng đầu, phản nghịch, đang nổi loạn chống lại Chúa. Dù biết chúng chẳng nghe lời, thậm chí còn hãm hại mình, nhưng Tiên tri vẫn phải nhẫn nại rao giảng cho họ. Tiên tri Ê-dê-kien là tấm gương kiên trì sống đức tin cho chúng ta ngày nay! 

**Bài đọc 2: 2Cr 12,7-10
Thánh Phaolô thú nhận về những sự yếu đuối nơi bản thân mình mà Người phải chịu, khi thi hành sứ vụ: “Một cái dằm đâm vào thân xác tôi và thủ hạ của Satan được sai đến để vả vào mặt tôi”… Nhưng đó lại là những cơ hội Chúa ban ơn cho Người. Vì thế, khi Người xin Chúa cất chúng đi, thì Chúa bảo: “Không cần, Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Như vậy, khi ta cảm thấy mình yếu đuối, thì đừng thất vọng, nhưng hãy khiêm nhường và phó thác cho Chúa, nghĩa là để cho Chúa được toàn quyền hành động nơi mình. 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mác-cô
 Mc 6,1-6
1Khi ấy, Đức Giêsu trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3Ông ta không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria và là anh em với các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Giu-đa và Si-môn sao? Và họ vấp ngã vì Người. 4Đức Giêsu bảo họ: “Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên vài 
bệnh nhân và chữa lành họ. 6Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
Đó là Lời Chúa.
Suy Niệm Tin Mừng 
Tin Mừng chỉ được loan báo cho người nghèo hèn.
Đại ý: Đức Giêsu trở về quê nhà giảng dạy, nhưng những người đồng hương không tin Người, vì óc hẹp hòi, thiển cận, ganh tị, nhất là vì họ kiêu căng... Vì chỉ ai có tâm hồn khiêm nhường nghèo khó mới có khả năng đón nhận được Tin Mừng mà thôi. Ta Suy Niệm hai điều:
1-TIN YÊU và CHIA SẺ với những Đấng được Chúa sai đến với ta? 
Các Giám mục, linh mục… cũng chỉ là những con người, thể chất yếu đuối bệnh tật và phải chết, tri thức hạn chế, tâm hồn tội lỗi, như chúng ta, nhưng Chúa trao các ngài BA NHIỆM VỤ NẶNG NỀ phải làm cho dân Chúa: Một là, RAO GIẢNG Tin Mừng Nước Trời; Hai là, DẪN DẮT đi trên đường cứu độ; Ba là, THÁNH HÓA bằng các Bí tích và Cầu nguyện.
Đó là BA Nhiệm vụ thánh Chúa Giêsu đã trao cho Phêrô và các tông đồ để chăn dắt Đoàn Chiên của Chúa. (Ga20,22-23+21,15-19Mt 16,19) Bạn đã TIN YÊU VÀ CHIA SẺ với Giáo Hội về ba nhiệm vụ nặng nề đó thế nào?
2-LẮNG NGHE VÀ CỘNG TÁC…. Nếu đồng cảm và chia sẻ, các kitô hữu sẽ biết “lắng nghe” Lời các Đấng nhân danh Chúa “rao giảng”. Vì đó không phải là nghe lời của người phàm, mà là Lời Chúa, Lời cứu rỗi linh hồn. Chúa Giêsu đã nói: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” (Lc 10,16). Và như thế, các kitô hữu sẽ vui lòng “cộng tác” với các Đấng trong những công việc và hoàn cảnh cho phép, hầu giúp cho chính mình và nhiều anh em khác được ơn cứu độ. Đó là truyền giáo! 
*“ĐÂY XÈM VÀO!” Một linh mục cao niên đức độ kể lại rằng: tại một Giáo xứ nọ, cha chính xứ và cha phụ tá thường thay phiên nhau ngồi tòa giải tội. Một hôm, bà Cố, Dì Ghẻ của cha phụ tá tưởng là Cha xứ đang ngồi tòa, nên vui vẻ vào xưng tội. Đến khi nghe cha đọc lời ban Bí tích tha tội: “Cha tha tội cho con Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,” thì bà mới biết là cha phụ tá, nên thay vì, như mọi người thưa: “Amen, tạ ơn Chúa”… thì bà đùng đùng “nổi đóa” lên, “phán” một câu xanh rờn: “Tưởng là Cha xứ, chứ biết… thì đây “xèm” vào,” rồi bà quay ngắt ra!!! 
Tội nghiệp: Khuôn mặt của Chúa Giêsu trong tòa giải tội đã bị “bóp méo” thành mặt của người “con chồng” đáng ghét đối với bà dì ghẻ, đến nỗi bà không “xèm” nhìn nữa!… Có lẽ trong nhiều tòa giải tội khác nữa, khuôn mặt của Chúa Giêsu cũng bị “bóp méo” như thế, nên “người ta” mới phải đi tận “chân trời góc bể xa xôi” để xưng tội, để “sinh hoạt phục vụ” vv… đang khi Chúa luôn ở bên cạnh họ, hằng ngày đợi chờ họ đến! Có lẽ vì: “bụt chùa nhà không thiêng!” “quen quá hóa nhàm”, “cần thay đổi khẩu vị”, nên họ đã tìm đến với bụt ở tận “chân trời góc bể” “linh thiêng” hơn, “hấp dẫn” hơn! Cũng có lẽ vì họï thiếu BA nhân đức căn bản này: Một là, thiếu Đức Tin vào các linh mục, bởi không biết rằng: dù là linh mục dòng hay triều, dù được họ “vo tròn” hay “bóp méo” thế nào, thì linh mục cũng chỉ là những “dụng cụ” của Thiên Chúa để “chuyển giao” Ơn cứu độ cho loài người!… Hai là, họ thiếu “Đức Ái”, vì họ đã “loại trừ” và “chối bỏ” Con Người Chúa sai đến với họ! Ba là, thiếu “Đức khiêm nhường sám hối” nhân đức không thể thiếu để được ơn tha thứ. Vì họ không tìm đến với linh mục “như là người của Thiên Chúa”, nhưng tìm đến với linh mục như là “người phàm mà họ ưa thích!” Thật nguy hiểm, vì người phàm thì “không thể tha tội cho ai!” Họï cũng không để Chúa Thánh Thần soi dẫn, nhưng để lòng “ganh tị, óc thiển cận” dẫn dắt và điều khiển! Mà Kinh thánh nói: “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết xâm nhập thế gian, Những ai về phe nó đều phải chết ” (Kn2,24).
Họ đã sa vào vết xe ganh tị của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Họ chính là những người “đồng hương khác” của Chúa Giêsu hôm nay! 
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm Đức tin cho chúng con,
để chúng con nhận ra Chúa trong Hội Thánh
và trong những Người Chúa sai đến
để phục vụ, giảng dạy, dẫn dắt và thánh hóa chúng con.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.