Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

02/07/2015 thứ năm tuần 13 tn

02/07/2015 thứ năm tuần 13 tn
Lời Chúa: Mt 9, 1-8
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!” Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.” Nhưng Đức Giêsu biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?” Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà!” Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.


Suy niệm: Chứng bệnh bại liệt tuy không ghê sợ như bệnh phong hủi, nhưng nó cũng là đáng sợ, khi làm cho người bệnh tê liệt, không còn khả năng tự mình hoạt động như mình muốn. Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta một bài học thật cảm kích: tấm lòng nhân ái của những người khiêng bệnh nhân đến với Chúa Giê-su, tình thương của họ đã bù đắp những khiếm khuyết nơi người bại liệt và nhờ đó anh ta đã đến được với Chúa Giê-su và được chữa lành.
Ngày nay, bại liệt hầu như không còn là một chứng bệnh hiểm nghèo: người ta được tiêm chủng phòng ngừa ngay khi còn là trẻ sơ sinh. Thế nhưng, chứng bại liệt tinh thần vẫn còn là một căn bệnh đáng sợ, khi mà con người ngày nay dễ dàng mất đi khả năng phân định tốt xấu, không đủ sức mạnh để chọn lựa, bênh vực cho chân lý và sự thật, kéo theo biết bao vấn đề xã hội: bất công, tham nhũng, hối lộ, nạo phá thai, ăn chơi truỵ lạc… Bao kế hoạch hành động chỉ là “phong trào” nếu không trị tận căn chứng bại liệt tinh thần này.
Tại môi trường ta đang sinh sống và làm việc vẫn có những người đang mắc những chứng bệnh bại liệt đối với những giá trị Tin Mừng? Ta hãy cùng với vài người thiện chí “khiêng” họ đến với Chúa Giê-su bằng những lời nói chân thành, nụ cười cảm thông và hành động giúp đỡ thiết thực..
Lạy Chúa Giê-su, Vua Tình Yêu! Thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con thật quá nhỏ, xin ban cho chúng con trái tim bén nhạy và đôi tay rộng mở để chúng con luôn sẵn sàng đến với những anh chị em đang cần tình thương và sự nâng đỡ. Amen.



02.07.2015 – Thứ năm Tuần 13 Thường niên


Lời Chúa: Mt 9, 1-8
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!” Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.” Nhưng Đức Giêsu biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?” Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà!” Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.
Suy niệm
Khi thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng : "Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi". Chúa Giêsu gắn liền việc chữa lành với lời tha tội, Ngài chứng minh điều Cựu ước đã nói nay đã ứng nghiệm: thời sau hết là đây, và chính Ngài là Con Người nắm quyền xét xử trong thời gian sau hết, và ở dười đất Ngài dùng quyền đó để tha tội cho con người. Bằng chứng là Chúa Giêsu đến đưa con người ra khỏi bệnh tật và tội lỗi. Tuy nhiên, Ngài không ám chỉ tội của người bệnh là nguyên nhân gây bệnh và Ngài cũng không cho rằng tội của anh bại liệt nặng hơn những người khác. Chính Ngài chữa và tha tội cho người bất toại, là cách Ngài công khai tỏ mình là Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội.
Chúa đã ra lệnh cho anh bất toại trỗi dậy, anh được sống lại bằng đời sống mới và không còn trong kiếp tội nhân. Hôm nay, Chúa cũng truyền lệnh cho mỗi chúng ta cũng hãy trỗi dậy từ sự bất toại của mình. Đó là bất toại do tội lỗi và hệ lụy của nó. Việc Chúa Giêsu xác nhận niềm tin của thân hữu bệnh nhân và tha tội cho bệnh nhân là lời mời gọi mỗi người Kitô hữu cũng phải biết cầu nguyện cho tội nhân được ơn trở lại, để được ơn tha thứ. Đồng thời, những việc làm, lời nói biểu lộ lòng tin vào Thiên Chúa trong cuộc sống đời thường của mỗi chúng ta cũng có ảnh hưởng đến anh chị em mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết chạy đến với Chúa mỗi ngày, để nhờ đó chúng con cần lấy ánh sáng niềm tin, lòng cậy và lòng mến để thoát ra khỏi sự bất toại của lòng mình và bước vào một đời sống mới trong ơn nghĩa Chúa. Amen.



CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN


Chúa Giê-su đối phó với định kiến
  (Mác-cô 6:1-6)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mác-cô
1Khi ấy, Đức Giêsu trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3Ông ta không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria và là anh em với các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Giu-đa và Si-môn sao? Và họ vấp ngã vì Người. 4Đức Giêsu bảo họ: “Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên vài 
bệnh nhân và chữa lành họ. 6Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
Đó là Lời Chúa.
Suy niệm :
          Trên đường thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su có dịp trở về Na-da-rét, nơi Người đã lớn lên và sinh sống.  Không cần biết lý do gì khiến Người ghé lại quê nhà, đây vẫn là một cơ hội để sống lại tình thân và những kỷ niệm êm đềm.  Mặc dù Chúa Giê-su đã là người của công chúng, nhưng Người không quên mình luôn là một người con của Na-da-rét.  Do đó phố xá và người dân Na-da-rét là những gì thân thương của Người.  Tuy nhiên giữa lòng Na-da-rét còn một nơi đáng ghi nhớ nhất, đó là hội đường, nơi Chúa Giê-su đã vun trồng đời sống thiêng liêng của mình qua những buổi chia sẻ lời Chúa với anh chị em tại hội đường.  Những lời giảng dạy và chia sẻ của Người đầy khôn ngoan làm cho nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên.  Ngạc nhiên về sự khôn ngoan của Chúa Giê-su, người dân Na-da-rét bắt đầu có vấn đề, vấn đề định kiến.
          Việc Chúa Giê-su thi hành sứ vụ đã làm cho Người nổi tiếng.  Dân làng Na-da-rét nghe đồn về Người.  Hôm nay Người trở về quê nhà và sau khi Người giảng dạy tại hội đường, dân chúng thấy quả thực lời đồn không sai.  Sự đố kỵ khiến họ nêu lên một thắc mắc chung:  “Bởi đâu ông ta được như thế?” và họ muốn có câu trả lời thỏa đáng.  Nhưng đố kỵ và định kiến đã che mất tầm nhìn của họ, để họ không thấy được sự khôn ngoan và quyền năng của Chúa Giê-su là từ Thiên Chúa mà có.  Họ nhìn Người không vượt qua những liên hệ nhân loại như bác thợ, con bà Ma-ri-a, anh em với một số người tại Na-da-rét.  Rồi vì không thấy được nguồn gốc Thiên Chúa của Chúa Giê-su, họ coi Người chỉ là con người họ đã từng gặp trước đây, điều mà thánh sử Mác-cô gọi là “họ vấp ngã vì Người”.  Việc vấp ngã của dân làng Na-da-rét chính là định kiến về xuất xứ của Chúa Giê-su. Với họ, Chúa Giê-su không phải là người Thiên Chúa đã sai đến với con cái Ít-ra-en (Ê-dê-ki-en 2:3), cũng không phải là một ngôn sứ đang ở giữa họ (2:5), mà đơn thuần chỉ là một con người tầm thường.
          Tuy nhiên điều quan trọng chúng ta học được ở câu chuyện Tin Mừng hôm nay không phải từ nơi dân làng Na-da-rét, mà là cách Chúa Giê-su ứng phó với thử thách do định kiến và ghen tương của họ.  Trước hết Người không sử dụng quyền năng Thiên Chúa của mình để sai lửa từ trời xuống thiêu hủy Na-da-rét (xem Lu-ca 9:51-56).  Người chỉ bình tĩnh nói lên một sự thật bình thường:  bụt nhà không thiêng!  Lòng tin là điều kiện tất yếu để phép lạ xảy ra, cho nên sự kiện Người “không thể làm được phép lạ nào tại đó” không phải vì Người không đủ quyền năng,  nhưng vì họ thiếu lòng tin.  Chúng ta có thể nghĩ là Người cảm thấy buồn và lấy làm lạ vì họ không tin.  Nhưng sự kiên nhẫn đã giúp Người dừng lại ở đó và tìm cách giải quyết sao cho thích hợp với việc thi hành sứ vụ, đó là “đi các làng chung quanh mà giảng dạy”.  Ưu tiên của Người là rao giảng Tin Mừng chứ không phải là chỉ tìm kiếm thành công và làm cho người khác ngưỡng mộ.  Người coi nhu cầu đón nhận Tin Mừng của những người dân các làng chung quanh lớn hơn cả danh thơm tiếng tốt của cá nhân Người đã bị dân làng Na-da-rét coi thường.  Không những Người vững lòng tiếp tục thi hành sứ vụ, mà còn “gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một” để họ nâng đỡ nhau mà đối phó với thử thách (Mác-cô 6:7-13).
 Sống sứ điệp Tin Mừng
          Đối phó với thử thách do ghen tương, đố kỵ là điều chúng ta không ai tránh khỏi.  Nhưng chúng ta thường đối phó theo cảm tính hoặc với não trạng bảo vệ hay trả thù. Không thiếu những trường hợp chúng ta tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng hay giáo xứ và trở thành nạn nhân của đố kỵ và ghen tương.  Một ca viên nổi trong ca đoàn có thể bị ca viên khác chê bai.  Một thành viên đắc lực của hội đồng mục vụ có thể bị đổ oan là muốn quảng cáo cho dịch vụ của mình.  Biết bao nhiêu ví dụ nữa khi chúng ta đóng góp xây dựng cộng đoàn.  Đố kỵ ganh ghét là con đẻ của lòng kiêu căng.  Vì thế chúng ta hãy tập cách đối xử của Chúa Giê-su, Đấng mời gọi chúng ta hãy học với Người, vì Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, luôn bỏ đi thái độ tự ái để tiếp tục chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa trao ban.
                     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi


CHÚA NHẬT XIV / TN / B



CĐ: TIN MỪNG ĐƯỢC LOAN BÁO CHO NGƯỜI NGHÈO HÈN 
*Bài đọc 1: Ed 2,2-5 
Khi gọi Ê-dê-ki-en làm tiên tri, Thiên Chúa ban Thần Khí cho ông, để ông có đủ khả năng thực thi sứ vụ. Chúa đòi hỏi Tiên tri phải tin tưởng, can đảm đứng vững, nói những lời Chúa muốn, nếu cần, phải ngăm đe, để người ta ăn năn sám hối... Cụ thể như khi được sai đến với dân Ít-ra-en, một dân cứng đầu, phản nghịch, đang nổi loạn chống lại Chúa. Dù biết chúng chẳng nghe lời, thậm chí còn hãm hại mình, nhưng Tiên tri vẫn phải nhẫn nại rao giảng cho họ. Tiên tri Ê-dê-kien là tấm gương kiên trì sống đức tin cho chúng ta ngày nay! 

**Bài đọc 2: 2Cr 12,7-10
Thánh Phaolô thú nhận về những sự yếu đuối nơi bản thân mình mà Người phải chịu, khi thi hành sứ vụ: “Một cái dằm đâm vào thân xác tôi và thủ hạ của Satan được sai đến để vả vào mặt tôi”… Nhưng đó lại là những cơ hội Chúa ban ơn cho Người. Vì thế, khi Người xin Chúa cất chúng đi, thì Chúa bảo: “Không cần, Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Như vậy, khi ta cảm thấy mình yếu đuối, thì đừng thất vọng, nhưng hãy khiêm nhường và phó thác cho Chúa, nghĩa là để cho Chúa được toàn quyền hành động nơi mình. 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mác-cô
 Mc 6,1-6
1Khi ấy, Đức Giêsu trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3Ông ta không phải là con bác thợ mộc, con bà Maria và là anh em với các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Giu-đa và Si-môn sao? Và họ vấp ngã vì Người. 4Đức Giêsu bảo họ: “Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên vài 
bệnh nhân và chữa lành họ. 6Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
Đó là Lời Chúa.
Suy Niệm Tin Mừng 
Tin Mừng chỉ được loan báo cho người nghèo hèn.
Đại ý: Đức Giêsu trở về quê nhà giảng dạy, nhưng những người đồng hương không tin Người, vì óc hẹp hòi, thiển cận, ganh tị, nhất là vì họ kiêu căng... Vì chỉ ai có tâm hồn khiêm nhường nghèo khó mới có khả năng đón nhận được Tin Mừng mà thôi. Ta Suy Niệm hai điều:
1-TIN YÊU và CHIA SẺ với những Đấng được Chúa sai đến với ta? 
Các Giám mục, linh mục… cũng chỉ là những con người, thể chất yếu đuối bệnh tật và phải chết, tri thức hạn chế, tâm hồn tội lỗi, như chúng ta, nhưng Chúa trao các ngài BA NHIỆM VỤ NẶNG NỀ phải làm cho dân Chúa: Một là, RAO GIẢNG Tin Mừng Nước Trời; Hai là, DẪN DẮT đi trên đường cứu độ; Ba là, THÁNH HÓA bằng các Bí tích và Cầu nguyện.
Đó là BA Nhiệm vụ thánh Chúa Giêsu đã trao cho Phêrô và các tông đồ để chăn dắt Đoàn Chiên của Chúa. (Ga20,22-23+21,15-19Mt 16,19) Bạn đã TIN YÊU VÀ CHIA SẺ với Giáo Hội về ba nhiệm vụ nặng nề đó thế nào?
2-LẮNG NGHE VÀ CỘNG TÁC…. Nếu đồng cảm và chia sẻ, các kitô hữu sẽ biết “lắng nghe” Lời các Đấng nhân danh Chúa “rao giảng”. Vì đó không phải là nghe lời của người phàm, mà là Lời Chúa, Lời cứu rỗi linh hồn. Chúa Giêsu đã nói: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” (Lc 10,16). Và như thế, các kitô hữu sẽ vui lòng “cộng tác” với các Đấng trong những công việc và hoàn cảnh cho phép, hầu giúp cho chính mình và nhiều anh em khác được ơn cứu độ. Đó là truyền giáo! 
*“ĐÂY XÈM VÀO!” Một linh mục cao niên đức độ kể lại rằng: tại một Giáo xứ nọ, cha chính xứ và cha phụ tá thường thay phiên nhau ngồi tòa giải tội. Một hôm, bà Cố, Dì Ghẻ của cha phụ tá tưởng là Cha xứ đang ngồi tòa, nên vui vẻ vào xưng tội. Đến khi nghe cha đọc lời ban Bí tích tha tội: “Cha tha tội cho con Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,” thì bà mới biết là cha phụ tá, nên thay vì, như mọi người thưa: “Amen, tạ ơn Chúa”… thì bà đùng đùng “nổi đóa” lên, “phán” một câu xanh rờn: “Tưởng là Cha xứ, chứ biết… thì đây “xèm” vào,” rồi bà quay ngắt ra!!! 
Tội nghiệp: Khuôn mặt của Chúa Giêsu trong tòa giải tội đã bị “bóp méo” thành mặt của người “con chồng” đáng ghét đối với bà dì ghẻ, đến nỗi bà không “xèm” nhìn nữa!… Có lẽ trong nhiều tòa giải tội khác nữa, khuôn mặt của Chúa Giêsu cũng bị “bóp méo” như thế, nên “người ta” mới phải đi tận “chân trời góc bể xa xôi” để xưng tội, để “sinh hoạt phục vụ” vv… đang khi Chúa luôn ở bên cạnh họ, hằng ngày đợi chờ họ đến! Có lẽ vì: “bụt chùa nhà không thiêng!” “quen quá hóa nhàm”, “cần thay đổi khẩu vị”, nên họ đã tìm đến với bụt ở tận “chân trời góc bể” “linh thiêng” hơn, “hấp dẫn” hơn! Cũng có lẽ vì họï thiếu BA nhân đức căn bản này: Một là, thiếu Đức Tin vào các linh mục, bởi không biết rằng: dù là linh mục dòng hay triều, dù được họ “vo tròn” hay “bóp méo” thế nào, thì linh mục cũng chỉ là những “dụng cụ” của Thiên Chúa để “chuyển giao” Ơn cứu độ cho loài người!… Hai là, họ thiếu “Đức Ái”, vì họ đã “loại trừ” và “chối bỏ” Con Người Chúa sai đến với họ! Ba là, thiếu “Đức khiêm nhường sám hối” nhân đức không thể thiếu để được ơn tha thứ. Vì họ không tìm đến với linh mục “như là người của Thiên Chúa”, nhưng tìm đến với linh mục như là “người phàm mà họ ưa thích!” Thật nguy hiểm, vì người phàm thì “không thể tha tội cho ai!” Họï cũng không để Chúa Thánh Thần soi dẫn, nhưng để lòng “ganh tị, óc thiển cận” dẫn dắt và điều khiển! Mà Kinh thánh nói: “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết xâm nhập thế gian, Những ai về phe nó đều phải chết ” (Kn2,24).
Họ đã sa vào vết xe ganh tị của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Họ chính là những người “đồng hương khác” của Chúa Giêsu hôm nay! 
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm Đức tin cho chúng con,
để chúng con nhận ra Chúa trong Hội Thánh
và trong những Người Chúa sai đến
để phục vụ, giảng dạy, dẫn dắt và thánh hóa chúng con.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

Lời Nói Không Mất Tiền Mua


Mahatma Gandhi, người đề xướng chủ trương tranh đấu bất bạo động, đến Phi Châu. Ông vào dùng bữa trong một quán ăn bình dân. Sau khi dùng bữa, ông trả tiền và nói với người giúp bàn: "Xin cám ơn vì sự tử tế của anh". Người giúp bàn trả lời: "Thưa ngài, tôi sẽ không bao giờ quên ngài. Từ 25 năm phục vụ ở đây, tôi chưa bao giờ nghe được một tiếng cám ơn".
"Lời nói không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Một tiếng cám ơn, một lời chào hỏi, nếu được thực thi với tất cả chân tình là một biểu lộ của một lòng tin sâu sắc. Nói một tiếng cám ơn, biểu lộ một cử chỉ thân thiện với người khác là muốn nói lên rằng tình liên đới giữa con người là một điều thiết yếu và ta cần có người chung quanh để sống với. Nói một tiếng cám ơn với người nào đó là khẳng định giá tị và nhân phẩm của người đó. Nhưng ở đời, có ai mà không cho ta một món quà hay không dạy ta bất cứ bài học nào đó.
Lời Trăn Trối Của Người Mẹ
Thời cách mạng Pháp, người ta hay nhắc đến một khuôn mặt dữ tợn, chuyên săn lùng các linh mục: đó là đại úy Laly.
Ông đã gia nhập vào đảng Jacobins đi khắp nơi để reo rắc kinh hoàng cho dân chúng. Nhiều vị linh mục đã kín đáo đến khuyên nhủ để lôi kéo ông ra khỏi tội ác. Nhưng tất cả mọi cố gắng của người khác đều vô ích. Con người độc ác đó chỉ đáp lại bằng lãnh đạm và những lời lẽ thô tục.
Thế nhưng một hôm, khi mọi người tưởng như không còn một chút hy vọng, Laly đã lần mò đến một linh mục để xin xưng tội và hòa giải với Giáo Hội. Sau đó ông đã thú nhận: "Cả đời, ngày nào tôi cũng đọc một kinh Kính Mừng, theo lời trăn trối của mẹ tôi trước khi chết".
Có những câu ca dao, có những bài hát, có những bài học làm người, chúng ta tiếp thu ngay khi còn ngồi trên gối mẹ. Trí óc non dại của chúng ta chưa đủ khả năng để lĩnh hội ý nghĩa sâu xa của những bài học đó. Nhưng dần dà với thời gian, khi bắt đầu chúng ta biết suy nghĩ, những bài học đó trồi lên một cách trong sáng trong kiến thức của chúng ta. Có lẽ người mẹ nào cũng hiểu được giá trị của câu: "Dạy con từ thuở còn thơ...".
Mẹ Maria, Hiền Mẫu của chúng ta, vừa là một mẫu gương vừa là một nhà giáo dục tuyệt hảo trong Đức Tin. Lời kinh dâng Mẹ mà chúng ta bập bẹ khi vừa biết nói là bài ca dao đẹp nhất không ngừng ngân vang trong cuộc sống Kitô chúng ta. Có thể, đôi lúc chúng ta cũng ngâm nga một cách máy móc, nhưng Mẹ vẫn có đó và Mẹ vẫn đeo đuổi, ấp ủ chúng ta trong Tình Yêu bao la của Mẹ.

Những Niềm Vui Nhỏ


Biết tận hưởng những niềm vui nhỏ trong cuộc sống: đó là một trong những bí quyết của hạnh phúc.
Người Nhật Bản thường kể câu chuyện như sau: Một người đàn ông nọ đi qua một cánh đồng, thình lình bị cọp đuổi... Anh ta chạy bán sống bán chết mà vẫn không tìm ra chỗ dung thân. Anh chạy mãi để rồi cuối cùng thấy mình đứng bên bờ vực thẳm. Phía sau lưng, con cọp vẫn không buông tha. Không còn biết làm gì nữa, người đàn ông phải lấy sức để đu lên một cành cây bắc qua vực thẳm. Nhìn xuống dưới thung lũng, anh ta lại thấy một con cọp khác cũng đang nằm chờ chực. Người đàn ông đáng thương chỉ còn niềm hy vọng duy nhất: đó là nằm chờ đợi cho đến khi hai thú vật mệt mỏi bỏ đi... Chờ đợi trong lo sợ vẫn là cực hình lớn lao nhất đối với con người.
Giữa lúc anh ta đang phải chiến đấu với sợ hãi và mệt mỏi, thì tình cờ bỗng có hai con chuột bỗng từ đâu xuất hiện trên chính cành cây anh đang đu vào. Hai con vật bắt đầu gặm nhấm lớp vỏ xung quanh cành cây. Bình thường, chuột là một trong những loài thú mà anh gớm ghiếc nhất vì sự dơ bẩn của nó. Tiếng kêu của nó cũng là một âm thanh làm cho lỗ tai anh khó chịu. Thế nhưng, trong cơn sợ hãi tột cùng này, người đàn ông bỗng nhìn thấy hai con chuột thật đáng yêu. Những hàm răng mũm mĩm của chúng trông dễ thương làm sao! Tiếng kêu của hai con vật cũng trở thành một âm thanh êm dịu hơn tiếng gầm thét của hai con cọp.
Giữa lúc anh đang theo dõi từng động tác của hai con chuột, thì một con chim bỗng từ đâu bay lại, thả rớt trên cành cây một trái dâu rừng. Anh đưa tay nhặt lấy trái dâu và thưởng thức hương vị ngọt ngào của trái rừng bỗng nên thơ đáng yêu lạ lùng.
Thiên Chúa tạo dựng con người để được sống hạnh phúc và hạnh phúc ngay từ trên cõi đời này. Do đó, hạnh phúc không chỉ đến trong cuộc sống mai hậu, hạnh phúc không hẳn nằm ở ngoài tầm tay với con người. Kitô giáo không chỉ hướng chúng ta đến hạnh phúc đời sau, nhưng còn mời gọi chúng ta hưởng niềm hạnh phúc ấy trong cõi đời này.
Mang lấy thân phận con người, nhập cuộc vào trần gian này, Chúa Giêsu như mang hạnh phúc Thiên Đàng đến với con người. Ngài mời gọi chúng ta hưởng niềm hạnh phúc ấy, Ngài nói với chúng ta rằng cuộc sống trần gian này là một cuộc đời đáng sống. Chấp nhận cuộc sống, chấp nhận chính bản thân, chấp nhận ngay cả những nghịch cảnh trong cuộc sống: đó chính là bí quyết của hạnh phúc trên đời này.
Bí quyết của hạnh phúc cũng chính là biết đón nhận những niềm vui nhỏ trong cuộc sống mỗi ngày. Có những ngày tù đày, chúng ta mới thấy được giá trị của hai chữ tự do. Có sống xa gia đình, chúng ta mới nhung nhớ những ngày sống bên những người thân. Có những lúc nằm quằn quại trên giường bệnh, chúng ta mới thấy được giá trị của sức khỏe... Cuộc sống của chúng ta tràn ngập những niềm vui nhỏ mà chỉ khi nào mất đi, chúng ta mới cảm thấy luyến tiếc.
"Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống": đó là lời kêu gọi Chúa Giêsu không ngừng nhắn gửi cho chúng ta khi Ngài mời gọi chúng ta chiêm ngắm hoa huệ ngoài đồng và chim chóc trên rừng... Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống có nghĩa là đón nhận từng phút giây trong cuộc sống với cảm mến và hân hoan. Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống cũng có nghĩa là biết nhìn thấy xuyên qua những mất mát, thua thiệt, và ngay cả tội lỗi, bàn tay quan phòng nâng đỡ của Chúa... Chúa Giêsu không bao giờ loan báo cái chết một cách riêng rẽ, Ngài luôn gắn liền nó với sự Phục Sinh

. Quyển Sách Cao Siêu Nhất


Người ta thường mượn câu chuyện sau đây để nói đến tinh thần hy sinh, chấp nhận trong cuộc sống.
Có một người kia cứ phàn nàn trách Chúa vì đã gửi đến cho mình một thập giá quá nặng... Chúa bèn đưa người đó đến một cửa hàng có các thập giá đủ cỡ để người đó chọn lựa.
Người đó hăm hở bước vào cửa hàng và dựng cây thập giá của mình vào tường. Người đó tự nhủ trong lòng: "Đây là chuyện cả đời người, ta phải hết sức cẩn thận".
Thế là anh ta đi rảo khắp hết mọi lối đi của cửa hàng và thử hết cây thập giá này đến cây thập giá khác. Nhưng không có một cây nào làm anh vừa lòng. Cây thì quá dài, cây thì quá ngắn. Cây thì quá nhẹ, cây thì quá nặng... Anh lại tiếp tục tìm kiếm. Cuối cùng, anh đã tìm được cây thập giá mà anh cho là ưng ý nhất. Anh mang đến với Chúa và nở nụ cười mãn nguyện: "Lạy Chúa, đây chính là cây thập giá mà con hằng tìm kiếm. Con xin vác lấy". Khi anh vừa hí hửng ra khỏi cửa hàng, thì Chúa mỉm cười nói với anh: "Ta rất vui mừng vì con đã chấp nhận cây thập giá. Đây cũng chính là cây thập giá mà con đã vác vào và dựng ở tường của cửa hàng".
Hôm nay Lễ Suy Tôn Thánh Giá, Giáo Hội mời gọi chúng ta đào sâu Mầu Nhiệm Thập Giá trong đời sống Đức Tin của chúng ta. Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars bên Pháp, đã nói: "Thập giá là quyển sách cao siêu nhất... Chỉ có những ai yêu mến, nghiền ngẫm quyển sách này, những người đó mới thật sự là người thông thái".
Thập giá Chúa Giêsu là quyển sách cao siêu nhất, bởi vì, đó là dấu chứng cao cả nhất của Tình Yêu. "Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng vì người mình yêu". Từ một khí cụ độc ác đê hèn nhất của con người đã có thể nghĩ ra để hành hạ người khác, Chúa Giêsu đã biến nó thành dấu chứng của Tình Yêu: Tình Yêu vâng phục đối với Chúa Cha và Tình Yêu dâng hiến cho nhân loại...

Suy tôn Thánh Giá Chúa, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta được đi vào Mầu Nhiệm Tình Yêu của Chúa. Trong Mầu Nhiệm ấy, cuộc sống của chúng ta không còn bị đè bẹp dưới sức nặmg của những đau khổ nữa, nhưng luôn mang lấy một ý nghĩa: đó là ý nghĩa của Tình Yêu.

THỨ TƯ 01.07 - Tuần XIII Thường Niên


St 21:5.8-20; Mt 8:28-34

 Mt 8, 28-34
Khi Ðức Giêsu sang bờ bên kia, và đến miền Gađara, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. Và kìa, chúng la lên rằng: “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?” Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. Bọn quỷ nài xin Người rằng: “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia”. Người bảo: “Ði đi!” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. Các người chăn heo chạy trốn vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. Và kìa, cả thành ra đón Ðức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.

TIẾP ĐÓN CHÚA
Ở Rôma, có một ngôi nhà mang tên Nhà Hồng Ân của Đức Maria được đức giáo hoàng Gioan Phaolô II và Mẹ Têrêsa Calcutta khánh thành ngày 21-5-1988 như một nhà tiếp đón và giúp đỡ người nghèo.
Đức Giêsu trừ quỷ cho hai người bị quỷ ám dù họ không xin Người. Người giúp họ phục hồi phẩm giá con người để tái hòa nhập cộng đồng. Người đã đem lại sự sống cho hai con người dường như đã chết.
Dân làng Gađara được chứng kiến một phép lạ, nhưng họ xin Đức Giêsu rời khỏi vùng đất của họ, vì có lẽ họ sợ Người ở lại sẽ gây thêm thiệt hại vật chất cho họ chăng? Họ coi trọng vật chất hơn sự sống con người, coi trọng đàn heo hơn đồng loại. Họ khước từ sự hiện diện của Đức Giêsu, và như thế, họ đánh mất nhiều điều lớn lao hơn nữa.
Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta xem trọng lợi ích vật chất hơn sự sống của những người xung quanh. Nhiều lần, vì sợ bị thiệt, chúng ta không muốn đưa tay giúp đỡ những người đau khổ, nghèo khó. Chúng ta đánh mất cơ hội đón tiếp Chúa đến với chúng ta.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết sẵn sàng đón tiếp Chúa qua việc tiếp đón anh chị em, với lòng tôn trọng và quý mến.


Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XIII Thường Niên


01/7. Thứ Tư. St 21,5.8-20; Mt 8,28-34
Bài đọc I - St 21,5.8-20
Khi Abraham được một trăm tuổi, thì Isaac sinh ra. Ðứa trẻ lớn lên và thôi bú. Ngày Isaac thôi bú, Abraham thết tiệc linh đình.
Bà Sara thấy con của Agar, người đàn bà Ai Cập, chơi với Isaac, con của bà, liền nói với Abraham rằng: "Hãy đuổi mẹ con người tì nữ này đi, vì con của người đầy tớ không được thừa hưởng gia tài cùng với con tôi là Isaac". Abraham lấy sự ấy làm đau lòng cho con mình.
Chúa phán cùng Abraham rằng: "Người đừng buồn vì con trẻ, và con của nữ tì ngươi. Bất cứ Sara nói gì, ngươi hãy nghe theo vì nhờ Isaac, sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Nhưng Ta cũng sẽ cho con trai của nữ tì trở thành một dân tộc lớn, vì nó thuộc dòng dõi của ngươi".
Sáng sớm, Abraham chỗi dậy,lấy bánh mì và bầu nước, đặt lên vai người nữ tì, trao con trẻ cho nàng rồi bảo nàng đi.
Sau khi ra đi, nàng đến rừng Bersabê. Và khi đã uống hết bầu nước, nàng bỏ con trẻ dưới gốc cây trong rừng. Nàng ra ngồi cách xa đó khoảng tầm một tên bắn. Vì nàng nói: "Tôi chẵng nỡ thấy con tôi chết", và nàng ngồi đó, thì bên trong đứa bé cất tiếng khóc.
Chúa đã nghe tiếng khóc của đứa trẻ, và thiên thần Chúa từ trời gọi Agar mà rằng: "Agar, ngươi làm gì thế? Ngươi đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nghe tiếng đứa trẻ khóc từ chỗ nó đang nằm kia.

Ngươi hãy chỗi dậy, ẵm con đi, và giữ chặt tay nó, vì Ta sẽ cho nó trở thành một dân tộc vĩ đại". Và Thiên Chúa mở mắt cho Agar, nàng thấy một giếng nước và đến múc đầy bầu nước cho đứa trẻ uống.
Chúa phù trợ đứa trẻ; nó lớn lên, cư ngụ trong rừng vắng, và trở thành người có tài bắn cung tên.
Tin mừng - Mt 8,28-34
Khi ấy, Chúa Giêsu lên thuyền sang bờ bên kia, đến miền Giêrasa, thì gặp hai người bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra, chúng hung dữ đến nỗi không ai dám qua đường ấy.
Và chúng kêu lên rằng: "Lạy Ông Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng tôi có can chi đến ông? Ông đến đây để hành hạ chúng tôi trước hạn định sao?"
Cách đó không xa có một đàn heo lớn đang ăn. Các quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông đuổi chúng tôi ra khỏi đây, thì xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo". Người bảo chúng rằng: "Cứ đi". Chúng liền ra khỏi đi nhập vào đàn heo. Tức thì cả đàn heo, từ bờ dốc thẳng, nhào xuống biển và chết chìm dưới nước.
Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ.
Suy niệm
Cũng tiếp nối chủ đề Lời Chúa ngày hôm qua, Lời Chúa ngày hôm nay vẫn tiếp tục soi sáng, nhắc nhở cho ta về quyền năng của Thiên Chúa trước sự dữ. Trong bài đọc I, quyền năng của Chúa đã dẫn dắt, đã che chở mẹ con bà Haga khỏi sự mưu hại của người đời. Trong bài Tin mừng, quyền năng của Đức Giêsu đã làm cho ma quỷ, làm cho sự dữ phải sợ hãi, phải khuất phục trước Ngài.
Hôm nay, sự dữ, tội lỗi tràn lan vào mọi ngõ ngách của cuộc sống. Biết bao nhiêu cuộc tàn sát, tước đoạt mạng sống, chà đạp danh dự, lừa gạt, bôi nhọ nhân phẩm xảy ra hàng ngày, nhiều khi ngay cả trong gia đình những Kitô hữu. Con người trở nên mất lòng tin nơi nhau. Lòng dạ con người trở nên chai đá trước những đau khổ của tha nhân.
Mong sao, tôi đứng về phía Chúa để chiến đấu cho sự thiện.

Mong sao, Lời Chúa và Luật Chúa sẽ là vũ khí hữu hiệu, giúp tôi chiến thắng khi đương đầu trước thế lực của sự tội, sự ác.

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

THỨ BA 30.06 - Tuần XIII Thường Niên


St 19:15-29; Mt 8:23-27

Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. Các ông lại gần đánh thức Người và nói: “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất!” Đức Giêsu nói: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin!” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ. Người ta ngạc nhiên và nói: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”
CHÚA LUÔN HIỆN DIỆN
Hàng ngàn bệnh nhân trong nhà thánh Cottolengo đều có một nét mặt rất an bình, vì lâu lâu loa lại dịu dàng nhắc: “Chúng ta đang ở bên Chúa!” (Đường Hy Vọng).
Biển động mạnh, sóng ập vào thuyền, các môn đệ sợ hãi. Dù là những ngư phủ, các ông không dựa tài năng đi biển các ông vốn có. Các ông nhận ra Chúa đang hiện diện giữa các ông, và các ông cầu xin Chúa giúp đỡ. Chúa đã ngăm đe gió và biển. Biển liền lặng như tờ. Các ông được chứng kiến một phép lạ. Đức tin của các ông nhờ đó cũng lớn lên.
Trong cuộc sống, những gian nan thử thách như “bão tố” xảy đến là để thức tỉnh chúng ta. Cả trong những giây phút đen tối nhất, Thiên Chúa vẫn hiện diện bên ta, dù cho lúc đó tưởng chừng Người đang ngủ. Như các môn đệ, chúng ta đến với Người và thưa: “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất”.

Lạy Chúa, con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.
(Tv 88,8)

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XIII Thường Niên


30/6. Thứ Ba. Các Thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Rôma. St 19,15-29; Mt 8,23-27
Bài đọc I - St 19,15-29
Trong những ngày ấy, các thiên thần hối thúc ông Lót rằng: "Hãy chỗi dậy đem vợ và hai con gái của ngươi đi, kẻo chính ngươi cũng phải chết lây vì tội của thành Sôđôma!" Khi ông Lót còn đang do dự, các thiên thần nắm tay ông cùng vợ ông và hai con gái ông, vì Chúa muốn cứu thoát ông. Các thiên thần kéo ông ra ngoài thành và nói: "Ngươi muốn sống thì hãy chạy đi, đừng nhìn lại phía sau; cũng đừng dừng lại nơi nào cả trong miền quanh đây, nhưng hãy trốn lên núi, để khỏi chết lây!" Ông Lót thưa: "Lạy Chúa tôi, tôi van xin Ngài: Tôi tớ Chúa đã được Chúa thương yêu, và Chúa đã tỏ lòng khoan dung đại độ gìn giữ mạng sống tôi. Tôi không thể trốn lên núi kẻo gặp sự dữ mà chết mất. Gần đây có một thành phố nhỏ, tôi có thể chạy tới đó và thoát nạn. Thành đó chẳng nhỏ bé sao, xin cho tôi ẩn tránh tại đó để được sống". Thiên thần nói: "Thôi được, ta cũng chiều ý ngươi xin mà không tàn phá thành ngươi đã nói tới. Ngươi hãy mau mau trốn thoát tới đó, vì ta chẳng làm được gì trước khi ngươi đi tới đó". Bởi đó đã gọi tên thành ấy là Sêgor.
Mặt trời vừa mọc lên thì ông Lót vào đến thành Sêgor. Vậy Thiên Chúa cho mưa sinh diêm và lửa từ trời xuống trên thành Sôđôma và
Sáng sớm (hôm sau) ông Abraham thức dậy, đi đến nơi ông đã đứng hầu Chúa trước đây, ông nhìn về phía thành Sôđôma, và Gômôra và cả miền ấy, ông thấy khói từ đất bốc lên cao như khói một lò lửa hồng.
Khi Chúa phá huỷ các thành trong miền ấy, Người đã nhớ đến Abraham mà cứu ông Lót thoát cảnh tàn phá tại các thành mà ông đã cư ngụ.
Tin mừng - Mt 8,23-27
Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, có các môn đệ theo Người. Và đây biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ. Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: "Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" Bấy giờ Người chỗi dậy, truyền lệnh cho gió và biển. Và biển yên lặng như tờ! Cho nên những người ấy kinh ngạc mà rằng: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?"
Suy niệm
Với bài đọc I hôm nay, chúng ta nhận ra quyền năng của Đức Chúa đã cứu gia đình ông Lót khỏi chết trước tai họa mưa diêm sinh và lửa, khi Người giáng phạt thành Xơđôm và Gômôra. Và trong bài Tin mừng, ta lại tiếp tục ngỡ ngàng trước lời quyền năng của Đức Giêsu, khi Ngài khiến cơn biển động trở nên lặng như tờ.
Đức Giêsu vẫn hiện diện trong “thuyền” cuộc đời tôi. Và quyền năng của Ngài có thể dẹp tan những sóng gió trong đời tôi, khi tôi kêu cầu Ngài, khi tôi ý thức có Ngài bên cạnh. Vậy mà nhiều khi, trong những cảnh ngộ đời mình, tôi chỉ đi tìm tựa nương nơi những sức mạnh khác, không phải là Chúa.
Mong sao, tôi luôn ý thức sự hiện diện của Chúa trong đời mình. Ngài ở ngay trong con thuyền cuộc đời tôi, để tình bạn giữa Ngài và tôi luôn là một tương quan thân thiện, tin tưởng.

Mong sao, tôi luôn tin vào sức mạnh của quyền năng Chúa, để tôi kiên nhẫn hơn trước những nhu cầu của đời mình.

30.6.2015 – Thứ ba Tuần 13 Thường niên


Lời Chúa: Mt 8, 23-27
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. Các ông lại gần đánh thức Người và nói: “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất!” Đức Giêsu nói: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin!” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ. Người ta ngạc nhiên và nói: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

Suy niệm
 Thiên Chúa hằng che chở bảo vệ dân Người. Qua cuộc Xuất Hành, cảm nghiệm của dân Israel chính là lòng tri ân Thiên Chúa, Đấng giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập: "Đức Chúa, Đấng đã vượt qua các nhà của con cái Israel tại Ai-cập, khi Người đánh phạt Ai-cập và cho các nhà chúng ta thoát nạn" (Xh 12,27). Cảm nghiệm lớn lao ấy luôn được nhắc nhớ cho các thế hệ (x. Xh 12,24). Sự che chở của Thiên Chúa với dân một lần nữa được thể hiện nơi Đức Giêsu - Con Thiên Chúa. Trước cơn bão tố, dấu hiệu của sự dữ đang lộng hành, Đức Giêsu chỉ phán một lời, tức thì gió liền tắt và biển lặng như tờ. Như thế, quyền lực sự dữ phải khuất phục khi có sự hiện diện của Chúa Giêsu. Các Tông Đồ lại có được sự bình an. Hôm nay, Đức Kitô cũng đang yêu thương, che chở từng người chúng ta vì Ngài hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,20).
 Hành trình cuộc đời ta cũng có lúc chòng chành như chiếc thuyền giữa biển khơi bão tố. Dẫu biết rằng những "bão tố" trong cuộc đời là dịp để thức tỉnh ta nhưng nhiều khi chúng thật khắc nghiệt và phũ phàng. Trước những nghịch cảnh và khó khăn, chúng ta phải chèo chống vất vả và với giới hạn của phận người, sức chèo chống của ta sẽ vơi cạn dần dễ khiến ta thất vọng, sợ hãi. Những lúc đó, lời nhắc nhở, trấn an của Chúa Giêsu: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ" (Mt 14,27) là sự khích lệ và là điểm tựa vững chắc cho chúng ta. Chúa Giêsu vẫn luôn hiện diện bên ta, cả trong những giây phút tăm tối của cuộc đời; dù có lúc, ta tưởng chừng như Ngài đang "ngủ" hay "vắng mặt". Như các Tông Đồ xưa, chúng ta không đương đầu với sự dữ một mình, cũng không cậy dựa vào tài khéo hay sức riêng nhưng luôn biết khiêm tốn kêu lên cùng Chúa: "Lạy Ngài, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" (Mt 8,25).
Lạy Chúa, Ngài là núi đá, là ơn cứu độ của con, là thành luỹ chở che: con chẳng hề nao núng bao giờ (x. Tv 62,3). Amen. 


«Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống ? »


(
29.6.2015 – Thứ Hai – Lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô, tông đồ)

Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường đi đến các làng xã vùng Cêsarê Philiphê, là miền dân ngoại ở phía bắc Galilê. Đó là một nơi xa khỏi vùng mà Đức Giê-su và các môn đệ của Người thường xuyên lui tới. Dọc đường, Đức Giê-su hỏi các môn đệ hai câu hỏi liên quan đến chính căn tính của mình : câu hỏi thứ nhất « Người ta nói Thầy là ai ? » chuẩn bị cho câu hỏi thứ hai : « Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ? ».
Dường như để đặt cho nhau những câu hỏi thiết thân, nghĩa là tỏ bày cho nhau người này là ai đối với người kia, người ta cần phải giữ khoảng cách với thực tại, bằng cách đến một nơi xa lạ để sống thân tình với nhau.
1. « Người ta nói Thầy là ai ? »
Đúng là, để trả lời đích thân cho Chúa và đi vào tương quan thiết thân với Ngài, chúng ta phải vượt qua những gì « người ta » nói về Ngài, và cũng đúng là những gì người ta nói về Ngài vẫn chưa là điều Ngài thực sự là trong tương quan với Thiên Chúa và với con người. Nhưng, để giúp các môn đệ và giúp chúng ta hôm nay hiểu sâu xa hơn về mầu nhiệm Nhập Thể và nhất là về cách thức Ngài hoàn tất lịch sử cứu độ, những gì người ta nói về Ngài có một ý nghĩa thực sự quan trọng.

Thật vậy, các môn đệ trả lời : « Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ ». Như thế, Chúa Giê-su ứng xử giống như những người đi trước Ngài, mỗi người một chút : một chút của ngôn sứ Gioan, một chút của ngôn sứ Elia, một chút của ngôn sứ Giêrêmia ; Ngài hòa nhập vào một truyền thống, hay đúng hơn, Ngài xuất phát từ một truyền thống, từ lịch sử, văn hóa, tôn giáo của dân tộc Ngài. Ngài không từ trên trời « nhảy xuống » cách ngoạn mục, để mọi người thán phục, như ma quỉ gợi ý. Nếu làm thế, chắc hẳn Ngài sẽ được nhìn nhận là Con Thiên Chúa, nhưng là Con Thiên Chúa theo kiểu của ma quỉ. Ngài đến để hoàn tất, chứ không phải hủy bỏ.
Ngài ứng xử giống với nhiều người đi trước Ngài, và tất cả đều là ngôn sứ. Như chính Ngài đã nói về mình : « Không một ngôn sứ nào được đón nhận nơi quê của mình ». Số phận của các ngôn sứ loan báo số phận của Đức Giêsu, mà gần Ngài nhất là số phận của ngôn sứ Gioan. Theo mặc khải Cựu Ước, Người Tôi Tớ Đau Khổ là hình ảnh biểu tượng của tất các các ngôn sứ thuộc mọi thời đại. Đức Giêsu đến để hoàn tất cách trọn vẹn và duy nhất thân phận của Người Tôi Tớ đau khổ nơi chính cuộc đời của mình.
Thánh Phê-rô đã không hiểu ra điều này, mặc dù đã tuyên xưng đúng căn tính của Chúa. Bởi vì, điều khó vừa khó hiểu và vừa khó chấp nhận, đó là con đường Ngài chọn để bày tỏ căn tính Ki-tô và Con Thiên Chúa cho các môn đệ, cho loài người, cho từng người trong chúng ta. Chính vì thế, bao lâu mầu nhiệm Vượt Qua chưa được hoàn tất, Ngài « cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô » (c. 20).
2. « Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ? »
Sau câu hỏi thứ nhất « Người ta nói Thầy là ai ? », Ngài hỏi các môn đệ : « Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ? » Chúng ta hãy dừng lại thật lâu để lắng nghe câu hỏi này của Đức Giê-su, vì đây là câu hỏi không thể tránh né được, nhằm đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong hành trình đi theo Thầy Giê-su của các môn đệ, và vì đó cũng là câu hỏi Đức Giê-su hỏi đích thân mỗi người chúng ta. Thật vậy, trong hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta, trong đời sống gia đình hay trong ơn gọi dâng hiến, có một lúc nào đó, và có thể là lúc này, Ngài cũng đích thân hỏi chúng ta : « Còn con, con nói Thầy là ai ? ».

Với câu hỏi thứ nhất, các môn đệ đã đồng thanh trả lời. Bởi lẽ, đó là nói lại điều người khác nói về Chúa, đó là những thông tin. Đức Giêsu đặt câu hỏi thứ hai, cũng cho tất cả các môn đệ, nhưng một mình thánh Phêrô trả lời, bởi lẽ câu hỏi này đòi hỏi mỗi người phải trả lời đích thân. Và sau khi người môn đệ tuyên bố Đức Giê-su là ai đối với mình, Ngài sẽ dẫn các ông đi xa hơn và sâu hơn vào cách thức Ngài hoàn tất lịch sử cứu độ và qua đó, Ngài bày tỏ ngôi vị thần linh và tương quan duy nhất của Ngài với Thiên Chúa : “Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (c. 21)
Giống như hai người trẻ, sau một thời gian tìm hiểu, và nhất là đón nhận những ân huệ của nhau (quà tặng, thời gian, sự hiện diện và nhất là tình yêu), nhưng sẽ đến một lúc nào đó phải dừng lại, tìm một nơi thanh vắng, cách xa với môi trường sống quen thuộc, để tĩnh tâm, cầu nguyễn và suy nghĩ về việc có nên trao ban cho nhau lòng tin hay không, nghĩa là đặt cuộc đời của mình vào tay người kia, và cùng nhau suy nghĩ về một lựa chọn dứt khoát : có nên thuộc về nhau suốt đời hay không ? Mỗi người được mời gọi đưa ra quyết định : người kia là ai đối với mình suốt đời ? Cũng vậy, trong hành trình đi theo Chúa trong một ơn gọi, mỗi người được mời gọi đến một lúc nào đó, không nói theo người khác (cho dù là rất đúng, rất hay), không nói theo công thức có sẵn (cho dù đó là giáo lý, tín lý hay truyền thống), nhưng đích thân công bố Đức Giêsu là ai đối với mình; và khi công bố bằng lời Đức Giêsu là ai đối với mình, mỗi người được mời gọi cư ngụ trong câu trả lời của mình, dấn thân trong điều mình nói, đến độ mình và điều mình nói là một.
Vậy sau bằng đó năm đi theo Chúa, với tư cách là Ki-tô hữu trong ơn gọi gia đình hay dâng hiến, mỗi người chúng ta đã nghe Chúa đặt câu hỏi này cho mình chưa : « còn con, con nói Thầy là ai ? » Nếu có, chúng ta đã trả lời thực sự và dứt khoát cho Chúa chưa? Hay chúng ta chỉ nghe và trả lời giống như người ta nói về Chúa mà thôi, chứ chưa đích thân nghe được tiếng Chúa và đích thân trả lời cho Chúa như một người trưởng thành ?
Dĩ nhiên là chúng ta có thể trả lời như thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô”; nhưng những lời ngày có nghĩa gì đối với tôi? Đâu là cách thức hay con đường Ngài trở nên Đấng Kitô? Và tôi sẽ đi theo Ngài và dấn thân như thế nào để sống câu trả lời của tôi ?
3. Mối phúc và sứ mạng
“Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống”. Đây là lời tuyên xưng đức tin, qua đó thánh Phê-rô đại diện cho tất cả những người tin thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay, nhìn nhận căn tính thần linh của con người Đức Giê-su Nazareth. Lời tuyên xưng đức tin này không có nguồn gốc con người, như Đức Giê-su xác nhận : « không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy », nhưng đến từ mặc khải của Thiên Chúa, Cha của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng ngự trên trời. Và niềm tin nơi Đức Ki-tô là một mối phúc : « Này anh Simon, con ông Giô-na, anh thật là người có phúc », phúc của thánh Phê-rô đã tuyên xưng niềm tin nơi Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, nhờ mặc khải của Thiên Chúa, và phúc của chúng ta hôm nay, vì cũng tuyên xưng và sống cùng một niềm tin. 
Xin cho chúng ta cảm nhận được mối phúc này mỗi ngày và suốt đời trong niềm vui, vì niềm tin chúng ta đặt để nơi Đức Ki-tô : đức tin của chúng ta thiết yếu không phải là một hệ thống tư tưởng hay nguyên tắc luân lí, nhưng là ngôi vị sống động và thần linh, là Đấng Cứu Độ, mang lại cho chúng ta tình yêu, lòng bao dung, ý nghĩa, đường đi, sự hiểu biết, sức sống và chính sự sống.

Nhưng thế nào là một mặc khải của Thiên Chúa về Đức Ki-tô ? Chắc chắn đó không phải là một sự nhận biết bất chợt và một lần là xong ; như chính Đức Ki-tô nói với thánh Phê-rô : « Điều Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu » (Ga 13, 7). Đặt mối phúc của thánh Phê-rô trong hành trình đi theo Đức Ki-tô của ngài, chúng ta nhận ra rằng, mặc khải về căn tính thần linh của Đức Ki-tô đến từ chính kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô, đi theo, ở lại, lắng nghe, hiểu biết, để cho Người rửa chân, trao ban và yêu thương đến cùng, mỗi ngày và suốt đời. Kinh nghiệm đức tin của hai Thánh Tông Đồ giúp chúng ta nhận ra điều này : Nhưng, những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người. (Pl 3, 7-9)
Đó là lời của thánh Phao-lô, nhưng thánh phê-rô cũng có cùng một kinh nghiệm sâu đậm về hiểu biết và lòng mến đến cùng dành cho Đức Ki-tô (x. Ga 21, 1-20). Chúa tin tưởng trao ban cho thánh Phê-rô, vừa với tư cách là “Đá Tảng” và vừa với tư cách là đại diện các tông đồ và các thừa tác viên (x. Ga 20, 23) một quyền rất lớn, đó là quyền tháo cởi hay cầm buộc. Chúng ta được mời gọi nhận ra sự tin tưởng trọn vẹn mà Đức Ki-tô đặt để nơi Giáo Hội, vì quyền ở trên trời, nhưng lại được trao hết cho con người mòng dòn ở dưới đất. Nhưng trong lịch sử, đã có lúc Giáo Hội mê quyền cầm giữ hơn quyền tha tội, đã tách biệt quyền bính với sứ mạng loan báo Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô. Không gắn bó với Đức Ki-tô, không hiểu Ngài cách sâu xa, nhất là mầu nhiệm Thập Giá , không nhớ lại kinh nghiệm được thương xót, không để cho Thánh Thần dẫn dắt, chúng ta rất dễ sử dụng quyền bính Chúa ban không phải để giáo huấn, làm cho lớn lên và cứu sống, nhưng để lên án loại trừ và giết chết, theo năng động của Sự Dữ.
Giáo Hội được xây dựng trên đá tảng Phê-rô, nhưng đá tảng Phê-rô lại được nâng đỡ bởi lòng thương xót.
(Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ)

Lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô: Canh Tân Để Tồn Tại


Trong những loài chim, đại bàng là loài có tuổi thọ cao nhất. Tuổi thọ cao nhất của nó có thể đạt tới 70 tuổi. Để sống được lâu như vậy, lúc 40 tuổi, nó bắt buộc phải đưa ra một quyết định rất khó khăn nhưng vô cùng quan trọng.Khi đại bàng sống đến 40 tuổi, móng vuốt của nó đã bắt đầu bị lão hóa, sẽ không còn khả năng bắt được mồi như xưa nữa. Đôi cánh của nó cũng trở nên vô cùng nặng nề, bởi lông vũ của nó mọc vừa dài, vừa dày, vừa nhiều, mỗi khi cất cánh bay lên là cảm thấy rất tốn sức. Lúc này chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc chết, hoặc trải qua một quá trình đổi mới cực kỳ đau khổ.Quá trình đổi mới này kéo dài tới 150 ngày, đại bàng buộc phải cam chịu gian khổ để bay lên đỉnh núi, xây tổ trên vách cheo leo, tại đó nó hoàn thành sự đổi mới.Đầu tiên, nó dùng mỏ của mình mổ vào đá nham thạch cho đến khi chiếc mỏ hoàn toàn rơi xuống, sau đó yên lặng chờ đợi cho mỏ mới mọc dài ra. Thế nhưng, nó phải dùng cái mỏ mới dài ra đó nhổ từng cái móng chân của mình. Sau khi móng chân dài ra, nó lại nhổ từng sợi lông vũ đi. Sau 5 thàng, lông vũ mới mọc dài ra.Lúc này con đại bàng đã dành được sự sống mới và đã có thể bắt đầu bay lượn , tìm mồi và sống sung mãn như ngày nào.Thật đáng khen cho Đại Bàng đã biết tồn tại bằng việc đổi mới. Có bỏ cũ nó mới có cơ hội sở hữu cái mới. Có lột bỏ những thứ đang chết dần mới chiếm hữu được những sự sống mới trổ sinh. Nhìn vào cách đổi mới của Đại Bàng chúng ta càng cảm phục tính gan dạ của nó. Dám chấp nhận lột xác thật đau để nuôi dưỡng mầm sống mới. Nó phải can đảm bẻ gãy cái mỏ già nua, những móng vuốt bị lão hóa, những chiếc lông vũ dầy cộm để thay hình đổi dạng thêm trẻ trung và khỏe mạnh hơn, nhờ vậy mà nó có thể tiếp tục bay cao trên bàu trời.Hóa ra để được tồn tại không phải là bám vào cái cũ mà là phải loại bỏ cái cũ để đổi mới, để thích nghi với môi trường, nhất là cái cũ ấy là vật cản cho ta tiến thân, là nguyên do làm cho chúng ta trì trệ tinh thần lẫn thể xác.Cuộc sống con người tưởng chừng như chỉ biết vun quén, xây đắp để tồn tại, thực ra muốn tồn tại phải biết bỏ đi. Bỏ đi những cái cồng kềnh vô ích. Bỏ đi những cái cũ để có khả năng sở hữu cái mới. Bỏ đi những cái đeo bám vào ta nhưng chỉ làm ta trì trệ, yếu đuối. Bỏ đi để ta khỏe mạnh hơn, lạc quan hơn và đầy sức sống hơn.Cuộc đời của hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô là một điển hình. Các ngài có những khuyết tật, có những yếu đuối, nhưng các ngài đã dám lột bỏ con người cũ để làm lại, để dấn thân hoàn thiện con người của mình. Phê-rô đã từng sa ngã, bồng bột. Ông đã từng can ngăn Chúa bước vào tuần thương khó. Ông đã từng vấp phạm chối Chúa đến ba lần. Còn Phao-lô thì lại hăng say nhưng bồng bột. Ông nhân danh chân lý để tàn sát người theo đạo. Ông từng góp mặt trong vụ án giết Ste-pha-nô. Ông đã từng cầm tráp truy đuổi người theo Đức Ky-tô. Thế nhưng, các ngài đã cùng đứng dậy làm lại cuộc đời. Các ngài đã anh dũng đổi đời dù biết rằng cuộc đổi đời ấy sẽ dẫn đến các ngài phải đối diện với bao khó khăn thử thách cùng sự bách hại.Phê-rô đã đổi đời từ con người nhút nhát hay bàn rùn nay trở nên mạnh mẽ can trường, dám đối diện với sự bách hại mà không hề sợ hãi. Phê-rô đã từng tuyên bố với giới cầm quyền: “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta”. Phê-rô đã làm chứng cho Chúa trong sự can trường đến hơi thở cuối cùng qua cái chết cùng phận số với Thầy là đóng đinh trên thập giá, nhưng ông đã xin ngược đầu xuống đất!Phao-lô đã lội ngược dòng khi ông được Chúa đưa vào sa mạc để thực hiện cuộc đổi đời. Từ con người bách hại đạo lại trở thành người rao truyền đạo. Từ lòng nhiệt thành đi bắt bớ người theo đạo lại trở thành người ra đi đem lời Chúa đến khắp năm châu. Lòng nhiệt thành nhà Chúa đã thiêu đốt ngài đến mức độ thánh nhân đã từng nói: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng tin mừng”.Con người luôn mang thân phận yếu đuối. Càng sống lâu càng chồng chất những yếu đuối lỗi lầm. Nhưng nhìn vào hai tấm gương tông đồ Phê-rô và Phao-lô cho chúng ta một niềm hy vọng về sự trở về của chúng ta là không bao giờ chậm trễ. Sự trở về là cơ hội giúp chúng ta đổi mới con người, lột bỏ con người cũ để thay đổi đời sống. Nhất là biết cậy dựa vào ơn Chúa để thay đổi đời sống theo thánh ý Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn tạo những cơ hội thuận tiện để chúng ta thực hiện cuộc đổi đời. Thiên Chúa luôn ban những ơn cần thiết để chúng ta có khả năng thay đổi cuộc sống. Ước gì chúng ta luôn biết nhìn nhận sự yếu hèn của mình để chấp nhận cộng tác với ơn Chúa để thực hiện cuộc đổi mới. Xin cho chúng ta đừng bao giờ thất vọng về bản thân nhưng luôn can trường gột rửa con người mình nên hoàn hảo hơn. Và xin cho chúng ta cũng trở nên chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa giữa thế giới hôm nay. AmenLm.Jos Tạ Duy Tuyền

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần XIII Thường Niên



29/6. Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ. Lễ trọng. Cv 12,1-11; 1Tm 4,6-8.16b.17-18; Mt 16,13-19

Mt 16,13-19
Khi Ðức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ”. Ðức Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Simon Phêrô thưa: “Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Ðức Giêsu nói với ông: “Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Ðá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.
Suy niệm

Hôm nay, chúng ta mừng kính hai vị đại Thánh: Phêrô và Phaolô – tảng đá và cột trụ của Giáo hội. Dù hoàn cảnh của hai vị rất khác nhau, nhưng cả hai đều được Chúa gọi và trao sứ mạng dựng xây và mở mang Nước Chúa.
Với Phêrô, ông được dành riêng cho chương trình của Chúa, và chính Chúa đã dẫn đưa ông qua những nẻo đường, mà chính ông cảm nhận được trong bài đọc I: "Bây giờ tôi biết thật Chúa đã sai thiên thần cứu tôi khỏi tay Hêrôđê và khỏi mọi âm mưu của dân Do Thái". Và qua lời tuyên xưng trong bài Tin mừng hôm nay: “Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đức Giêsu đã trao cho ông sứ mạng làm Tảng Đá xây nền Giáo Hội.
Với Phaolô, qua biến cố ngã ngựa thành Đamas, Đức Giêsu đã đưa ông vào con đường của Chúa để loan truyền Tin mừng cho dân ngoại, mà chính ông xác tín trong bài đọc II: “Có Chúa phù hộ giúp sức cho cha, để nhờ cha, việc giảng đạo nên trọn, và tất cả Dân Ngoại được nghe giảng dạy”.
Thánh Phêrô và Phaolô đã sống sứ mạng của mình cách trọn hảo, nhờ đức tin và tình yêu nồng nàn vào Đức Kitô.
Hôm nay, sống giữa những trào lưu duy thế tục, Kitô hữu dễ thấy mình lạc lõng, khó giữ vững đức tin. Vì thế, Giáo Hội vẫn cần những Phêrô và Phaolô của ngày hôm nay – những Tảng Đá, những Cột Trụ xây dựng đức tin, hun đúc đức tin cho khu xóm mình, cho gia đình mình.
Mong sao, tôi có một tâm tình yêu mến Chúa như Phêrô: “Thầy biết con yêu mến Thầy”, để trở nên “đá tảng”, góp phần xây dựng Giáo Hội trong bậc sống của mình.
Mong sao, tôi có một nhiệt huyết với Tin mừng của Chúa như Phaolô: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc tôi”, để trở nên “cột trụ”, góp phần giữ vững Giáo Hội trong tinh thần của một Kitô hữu.

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

THỨ HAI, tuần XIII Thường Niên (năm lẻ)


Bài trích sách Sáng thế St 18,16-33
Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao
16Từ cụm sồi Mam-rê, ba người khách đứng dậy và nhìn xuống phía Xơ-đôm. Ông Áp-ra-ham cùng đi để tiễn khách. 17Đức Chúa phán: "Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng? 18Áp-ra-ham sẽ trở thành một dân tộc lớn mạnh và mọi dân tộc sẽ được chúc phúc nhờ nó. 19Thật vậy, Ta đã chọn nó, để nó truyền cho con cái nó và gia tộc nó sau này phải giữ đường lối của Đức Chúa mà thực hiện điều công minh chính trực; như thế Đức Chúa sẽ làm cho Áp-ra-ham điều Người đã phán về nó." 20Đức Chúa phán: "Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề! 21Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết."
22Hai người kia bỏ nơi đó mà đi về phía Xơ-đôm, nhưng Đức Chúa còn đứng lại với ông Áp-ra-ham. 23Ông lại gần và thưa: "Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? 24Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? 25Ngài làm như vậy, chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao? " 26Đức Chúa đáp: "Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó."
27Ông Áp-ra-ham lại nói: "Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa: 28Giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá huỷ cả thành sao?" Chúa đáp: "Không! Ta sẽ không phá huỷ, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người." 29Ông lại thưa một lần nữa: "Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao?" Chúa đáp: "Vì bốn mươi người đó, Ta sẽ không làm."
30Ông nói: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói tiếp: Giả như ở đó có ba mươi người thì sao?" Chúa đáp: "Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không làm." 31Ông nói: Con xin mạn phép thưa với Chúa: "Giả như tìm được hai mươi người thì sao?" Chúa đáp: "Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không phá huỷ." 32Ông nói: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?" Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm."
33Sau khi phán với ông Áp-ra-ham, Đức Chúa đi, còn ông Áp-ra-ham thì trở về nhà. Đó là Lời Chúa
Chia sẻ
20Đức Chúa phán: "Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề!
Lạy Chúa, Chúa thật sự coi Áp-ra-ham như “bạn Chúa”. Chúa tiết lộ cho ông điều chất chứa trong lòng Chúa. Chúa là Thiên Chúa thánh thiện và Chúa không thể thỏa hiệp với sự dữ. Chúa không thể chấp nhận sự ác, bất công, đồi bại, tìm làm điều dữ. Điều đó Chúa chê ghét. Lạy Chúa, Chúa quyết định tiêu diệt sự dữ đang bày ra ở Xô-đôm và Gô-mô-ra đồi bại, và Chúa tiết lộ điều đó cho Áp-ra-ham.
Lạy Chúa, con có đủ thân tình để Chúa chia sẻ cho cả con nữa, ưu tư thần linh của Chúa nhằm “chống lại sự dữ”, “phát triển sự lành”, trong thế giới, trong thành phố con sống, trong nghề nghiệp con làm. “Tội lỗi chúng quá nặng nề!”
24Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao?
Áp-ra-ham cầu bầu cho cả thành! Ông cầu Chúa cho thành “dầu sự dữ”, “quá ít sự lành”. Hàng ngàn người xấu và có lẽ được năm chục người lành?
Đức tin đặt con “vào cuộc đàm thoại với Chúa”, đưa con vào mầu nhiệm “cứu rỗi” nhân loại. Đức tin cho con nhìn thế giới dưới một góc cạnh nào đó: cho con nhìn thế giới “cần được cứu rỗi”. Một nhân loại phải được giúp đỡ để thoát khỏi sự dữ. Lạy Chúa, đức tin làm cho con chia sẻ cách nhìn của Chúa. Con khám phá ra các nẻo đường của Chúa. Lạy Chúa, con chấp nhận quan điểm của Chúa: dầu cho bề ngoài thế nào, thì từ thâm sâu, Chúa vẫn muốn cứu vớt loài người! Và những ai là bạn hữu của Chúa như Áp-ra-ham chia sẻ nỗi ưu tư của Chúa.
Hôm nay con sẽ làm gì để phục vụ người khác? Con có thể giúp đỡ ai?
"Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa.
Áp-ra-ham cũng thấy mình tội lỗi trước Thiên Chúa rất thánh, ông đứng về phía nhân loại khốn cùng, được nắn đúc từ bụi tro. Có lẽ vì đó mà ông bênh vực cho anh em mình: ông thấy mình có liên đới, có sự dữ nơi mình nữa!
Lạy Chúa, xin giúp con đừng xét đoán, cả khi “chiến đấu với sự dữ”... khi nghĩ rằng chính con cũng dự phần với tội lỗi này. Ước muốn cứu vớt người khác của con không hề là một sự kiêu ngạo mình hoàn thiện hơn, bởi vì chính con cũng muốn được hưởng nhờ ơn tha thứ với các người khác.
Lạy Chúa, chớ gì đức tin của con giúp con đào sâu tình liên đới với thế giới tội nhân. Chớ gì con thành thật nói: “Xin tha nợ chúng con”, cho tất cả “chúng con”... (trong đó chắc chắn có cả con!)
Giả như tìm được mười người thì sao?" 
Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm."
Trọn tường thuật vươn tới đó. Chính ở đó tỏ lộ “ý định sâu xa của Chúa”: cuối cùng “Chúa không muốn phạt, Chúa muốn cứu vớt” và đó là Tin Mừng: nhờ chỉ “một người công chính”, Đức Giêsu Kitô, mà mọi tội nhân được cứu vớt. Lạy Chúa, mầu nhiệm biết bao lòng nhân hậu Chúa. Vài người công chính cũng đủ cứu cả cộng đoàn.
Lạy Chúa, xin cho chúng con thuộc vào số “những người biết góp phần cứu độ”... chớ không vào số những người tạo nên cớ để phải chịu nỗi bất hạnh.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Chúa, Đấng đã hiến mạng vì chúng con.
Xin cho con đừng bao giờ, nhưng luôn luôn biết khẩn cầu cho thế giới như Áp-ra-ham bạn Chúa.
Hôm nay, trong gia đình con, trong nhóm con sống, con muốn “lôi kéo ơn tha thứ” cho mọi người. 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mat-thêu Mt 8,18-22
Anh hãy đi theo tôi.
18Khi ấy, thấy xung quanh có đám đông, Đức Giêsu ra lệnh sang bờ bên kia. 19Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. 20Đức Giêsu trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”.
21Một môn đệ khác thưa với Người: “Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã”. 22Đức Giêsu bảo: “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ”. Đó là Lời Chúa
Chia sẻ 
19Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”... Thật tuyệt vời! Một ông kinh sư muốn làm môn đệ Chúa Giêsu... Đã có bao giờ bạn muốn ‘thân thiện’ hơn với Đức Giêsu, như muốn làm ‘môn đệ’, ‘làm bạn’ với Người; chứ không giữ đạo bình thường như bao người khác: ‘kính nhi viễn chi’, nghĩa là chỉ theo các nghi lễ của Hội Thánh, như bao người khác?
Kitô hữu là người đi theo Đức Giêsu, ‘chia sẻ cuộc sống’ với Người; ‘bắt chước’ Người; để trở nên “giống như Người”. Đó là cốt yếu của đời sống Kitô giáo: “Sống và hành động như Đức Kitô”... Vậy Đức Giêsu đã chiếm được chỗ nào trong con người và đời sống tôi? Tôi có thực sự muốn trở nên ‘thân thiết’ với Người không? Tôi đã dành thời giờ để sống với Người thế nào? 
“Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”... Đức Giêsu từ khi rời bỏ mái ấm gia đình Nadarét, để lại người Mẹ cô độc, thì Người trở thành “kẻ lang thang nay đây mai đó”, đúng như Người nói: “Tôi đây không có chỗ tựa đầu.” Người khước từ mọi quyền sở hữu, cả mái ấm gia đình, cũng không! 
Chắc chắn là ‘chưa bao giờ’ tôi chiêm ngắm Chúa Giêsu trong cảnh khó khăn này cho đủ! 
Lạy Chúa Giêsu, quả thực, chính chúng con cũng chưa bao giờ lâm vào cảnh một ngày nào mà không có cơm ăn, không chỗ tựa đầu, phải sống ‘trôi giạt’ như Chúa... suốt ba năm trời! Lạy Chúa, theo Chúa còn là sống chờ đợi một tương lai bị kết án tử, sau một cuộc đời không có chỗ tựa đầu! 
21Một môn đệ khác thưa với Người: “Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã”. 22Đức Giêsu bảo: “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ”. Ở đây, Chúa dạy người ta từ bỏ cả những tình cảm quyến luyến trong gia đình để theo Chúa. 
“Để kẻ chết(1) chôn kẻ chết(2)”. Hai ‘kẻ chết’ có hai nghĩa khác nhau: “kẻ chết(1) là chết ‘linh hồn’, vì “không tin và không theo Chúa” (coi như chết phần linh hồn); “kẻ chết(2) là kẻ chết phần ‘thể xác”.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán rằng: “Chúa là sự sống lại và là sự sống; ai tin Chúa thì dù đã chết cũng sẽ được sống; ai sống mà tin Chúa thì sẽ không bao giờ phải chết (Ga 1125-26)!
Cầu nguyện: Lạy Cha chúng con ở trên trời... 


Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

28/06/2015 Chúa Nhật Tuần XIII Mùa Thường Niên Năm B

PHÚC ÂM: Mc 5, 21-43 {hoặc 21-24. 35-43}
"Hỡi em bé, Ta bảo em hãy chỗi dậy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Giairô đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: "Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống". Chúa Giêsu ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.
{Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: "Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành". Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: "Ai đã chạm đến áo Ta?" Các môn đệ thưa Người rằng: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi 'Ai chạm đến Ta?'!" Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: "Hỡi con, đức tin của con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh".}
Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: "Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?" Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: "Ông đừng sợ, hãy cứ tin". Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và Gioan, em Giacôbê. Các Ngài đến nhà ông trưởng hội đường và Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: "Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó". Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: "Talitha, Koumi", nghĩa là: "Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!" Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy và bảo họ cho em bé ăn. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ :
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đi vào thế giới ấy, thế giới của những câu hỏi "tại sao", mà lý trí con người không thể lý giải được. Phép lạ một người đàn bà bị băng huyết được chữa lành nhờ chỉ chạm đến áo của Chúa Giêsu, và phép lạ một em bé gái chết được Chúa Giêsu cho sống lại; cả hai phép lạ đều phát xuất từ lòng tin của con người. Ông trưởng hội đường đã biểu lộ lòng tin bằng cách lặn lội tìm đến với Chúa Giêsu xin Ngài tới đặt tay trên con gái của ông; người đàn bà băng huyết tin một cách mãnh liệt nơi sức mạnh phát xuất từ con người Chúa Giêsu. Nơi ông trưởng hội đường, lòng tin được tuyên xưng tỏ tường; nơi người đàn bà băng huyết, niềm tin rụt rè kín đáo. Nhưng dù tỏ tường hay kín đáo, chính lòng tin đã giúp cho phép lạ xảy ra, như Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà: "Lòng tin của con đã cứu chữa con".
Niềm tin làm cho con người được sống, điều này vẫn thường xảy ra trong đời sống con người. Tất cả những thành công trong cuộc sống đều nhờ ở niềm tin, nhưng niềm tin tôn giáo thì quan trọng hơn, bởi vì chính sự sống tinh thần và tâm linh mới là điều cần thiết cho con người đạt được thành công. Có tất cả, nhưng thiếu đời sống tâm linh, con người vẫn như sống dở. Sống sung mãn, sống dồi dào, chính là sống nội tâm. Chỉ có một đời sống nội tâm sung mãn mới giúp con người thấy được, cảm nhận được những gì mà giác quan và lý trí không thể đạt được.
Cuộc sống vốn là một phép lạ, từng hơi thở con người là một phép lạ, mỗi ngày là một phép lạ, mỗi phút giây là một phép lạ. Chỉ có đôi mắt nội tâm mới cho con người cảm nhận được phép lạ triền miên ấy. Sống đích thực, sống dồi dào, là biết chiêm ngưỡng để đón nhận phép lạ từng ngày ấy.
Nguyện xin Chúa ban cho cuộc sống chúng ta luôn được thấm nhập bởi ánh sáng của phép lạ triền miên ấy.AMEN