Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

Vua Sự Thật
(Đn 7,13-14; kh 1,5-8; Ga 18,33-37)
Trong xã hội hôm nay, 'thật', 'giả' lẫn lộn làm cho con người khó phân định được đâu là giá trị của sự thật. Dẫu thế, vẫn có những người thiện chí, họ ước ao được biết sự thật, nhưng bị vây quanh bởi những giả dối của thế gian: 'đồ giả, vàng giả, người giả, thầy giả, sư giả',… Con người mong muốn được đối xử chân tình, nhưng lòng người lắm nẻo quanh co; hứa cũng nhiều và rồi thất hứa cũng lắm. Lòng tham và những lợi nhuận vật chất làm con người thay đổi quá nhanh. Vậy, làm thế nào để biết sự thật và cảm nhận được tình yêu chân thành?
1. Nguồn gốc sự thật
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay chỉ đường cho biết đâu là nguồn gốc của sự thật: Con người không thể tìm đâu khác ngoài Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Ở bài đọc thứ nhất, tiên tri Đaniel thuật lại thị kiến một 'Con Người' lãnh quyền vương đế đầy vinh quang, và thống trị vĩnh cửu muôn đời từ Thiên Chúa. Tất cả mọi người và mọi sự trên vũ trụ sẽ phải tuân phục quyền bính của 'Người Con' này. Người Con này là tiên trưng về Chúa Giêsu. Trong sách Khải Huyền, tác giả xác tín Đức Kitô là Vua muôn thuở và muôn đời; ngay cả lúc Ngài hy sinh chịu chết vì loài người. Cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và quan Philatô trong Tin Mừng, thánh Gioan nêu bật sự khác biệt giữa vua thế gian và vua Nước Trời. Philatô hiểu Chúa Giêsu muốn làm vua kiểu của thế gian; trong khi Chúa Giêsu mặc khải Ngài là Vua của Nước Trời, Vua Sự Thật. Tất cả những ai biết lắng nghe và sống theo sự thật là con dân của Nước Trời, dưới quyền cai trị của Chúa Kitô.
2. Vương Quốc của Chúa Giêsu
Chúa Cha đặt Ngài làm Vua cai trị muôn đời: Muôn người thuộc mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Đức Kitô  là Chúa tể trên tất cả mọi tạo vật của Thiên Chúa. Vương quyền và vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời. "Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; và vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong".  (Đn 7,14)
Chúa Kitô là nguồn mạch của mọi ân sủng và bình an: Thứ nhất, Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành. Tất cả những gì Ngài nói đều ứng nghiệm và Ngài đã làm chứng sự trung thành với Thiên Chúa bằng cách chấp nhận ngay cả cái chết để chuộc tội cho con người; thứ đến, Ngài là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy. Trước Ngài, chưa có một ai sống lại từ cõi chết và không bao giờ chết nữa. Ngài đã chết, đã sống lại, và sống muôn đời và thứ ba, Ngài là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, tất cả các vương quốc trần gian đều thuộc quyền của Ngài. Thánh Phaolô khẳng định; 'chính vì sự vâng lời Thiên Chúa và chấp nhận cái chết trên Thập Giá mà khi nghe danh hiệu Giêsu, mọi loài trên trời, dưới đất, và trong nơi âm phủ, phải bái quì và tuyên nhận "Đức Kitô là Chúa". (x. Pl 2,11)
3. Vua Sự Thật
Qua cuộc đối thoại, Chúa Giêsu giải thích cho quan Philatô về Vương Quốc và Quyền Cai Trị của Ngài, Vương Quốc của Ngài không thuộc về thế gian này: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái; nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này". (Ga 18,36)
Khi Philatô hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giêsu  khẳng định: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi" (Ga 18,37).  Lần này, Chúa Giêsu xác nhận với Philatô: 'Ngài là Vua, không phải là vương quốc trần gian; nhưng Ngài là Vua của Nước Trời, là Vua của Chân Lý, Vua Sự Thật. Chúa Giêsu không dùng quyền bính mà cai trị thần dân của Ngài mà Ngài dùng tình thương để chinh phục muôn tâm hồn. Ngài không dùng quân đội để củng cố ngai vàng mà dùng các môn đệ, dùng ơn thánh từ dòng máu tuôn đổ trên cây Thập giá. Vì thế, Vương Quốc Ngài, tồn tại mãi mãi.
Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua, Giáo hội mời chúng ta chiêm ngắm, suy tôn về Vương Quyền của Chúa Giêsu, đồng thời phụng vụ cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, chúng ta phải can đảm làm chứng cho sự thật, can đảm tuyên xưng Đức tin, đồng thời chúng ta cần nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của sự thật, của bình an, của nhân ái, ở trong đó: đầy ắp tình Chúa tình người. Khi cố gắng sống Lời Chúa là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến. Lạy Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ, chỉ có Chúa là Đường, chỉ có Chúa là Sự thật, chỉ có Chúa là Sự sống, xin làm Vua cai trị lòng trí chúng con, xin cho chúng con khi sống với những thực tại trần gian, luôn biết quy hướng tâm hồn về Nước của Chúa, Nước của Công lý, của Sự thật và của Bình an. Amen.
                                                                                                                  Giuse Nguyễn Văn Từ, MF


LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 
ngày 24/11/2015
*Bài đọc 1 ( 2Mcb6,18-31):Bài Sách Macabê tường thuật cái chết vì đạo rất cảm kích và cao thượng của một vị kinh sư tên là Ê-la-da-rô: Ông lấy lề luật Chúa làm lẽ sống cho mình. Và chỉ sợ Chúa chứ không sợ bất cứ thế lực nào, dù cả sự chết. Ông thà chọn cái chết có Chúa, còn hơn sống mất Chúa! Ông quả là một gương sáng, đáng cho các thế hệ hậu sinh, cả già và trẻ, noi theo.! 
Bạn và tôi, ngày hôm nay chúng ta phải sốâng thế nào, hầu lưu truyền gương sống Đức tin và chứng nhân Tình yêu Thiên Chúa cho các thế hệ con cháu mai sau ???
**Bài đọc 2 (Kh7,9-17): Sách Khải Huyền của Thánh Gioan kể lại thị kiến về một đoàn người đông không đếm được. Đó chính các thánh tử đạo mà chúng ta mừng kính hôm nay. Các ngài đã từng trải qua bao thử thách lớn lao và đã thắng vượt được tất cả. Các Ngài đã giặt áo trong máu con chiên, nghĩa là các Ngài đã phải đổ chính máu mình ra hòa với Máu Con Chiên, để tuyên xưng Niềm Tin yêu của mình. Các ngài đã cùng chịu đau khổ, cùng uống chén đắng với Đức Kitô, nên ngày nay mới được vinh quang với Chúa trên trời.
***Tin Mừng (Ga 17,11b-19) Xin cho họ nên một.
Chúa Giêsu cầu xin cho các môn đệ hiệp nhất với nhau như Chúa Cha và Chúa Con. Thật là một lời nguyện xin quan trọng nhất và cần thiết nhất cho Hội thánh. Đối với chúng ta ngày nay sự hiệp nhất này càng cần thiết hơn nữa. Hiệp nhất như Chúa Cha và Chúa Con, nghĩa là hiệp nhất trong Thiên Chúa bền bỉ đến nỗi không gì ngoài Thiên Chúa có thể chia rẽ được, thậm chí sự chết ! Sự hiệp nhất này là Hiệp nhất vì Chúa và tron Chúa. Nghĩa là chỉ những ai phục vụ vì Chúa, chỉ vì Chúa mà thôi, mới biết quên mình, hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả, đểå cộng tác với các anh chị em mà phục vụ Chúa Kitô trong Hội thánh của Người.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan
Ga17,11b-19
11bKhi ấy, Đức Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giư,õ và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14Con đã truyềân lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. lời cha là sự thật. 18Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. 
Đó là Lời Chúa.
Suy Niệm :
Chúng ta cần được Thánh Hiến Trong Sự Thật.
1-“Con xin thánh hiến chính mình con” Thánh hiến là tách biệt ra khỏi trần tục, để dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa, như các tu sĩ ; hoặc tách biệt ra để trao phó cho một sứ mạng, ban cho đức tính và quyền năng để thi hành sứ mạng đó, như các Linh mục ! Đúng hơn, như chính Chúa Giêsu đã được Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian (10,36), để thực hiện sứ mạng cứu thế. Trên thánh giá, Chúa Giêsu thánh hiến chính mình, với tư cách vừa là Linh mục hiến dâng, vừa là lễ vật hy sinh, để cứu rỗi loài người, hoặc như người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (10,11), như người bạn hy sinh cho bạn hữu (15,12).
2-“Để nhờ Sự Thật, họ cũng được Thánh Hiến.” Sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu chỉ được thực hiện trong hy lễ thập giá đồi Gôn-gô-tha, nhờ đó các môn đệ cũng được thánh hiến trong Sự Thật là chính Chúa Giêsu, và cũng làø Lời Chúa Cha (14,6+17,17)). Sau khi lãnh nhận Lời Chúa, các môn đệ đã được thánh hiến, được thuộc vềâ Thiên Chúa, cũng được lãnh nhận sứ mạng cứu độ, và họ nên một với Đức Kitô của lễ hy sinh. Theo chân Đức Kitô và các môn đệ của Người, Các thánh tử đạo cũng được thánh hiến trong hy lễ đổ máu như thế đó.”
3-CHUYỆN KỂ RẰNG : Trong số các thánh tử đạo Việt Nam, có một Vị bị bị đóng dấu nung đỏ lên hai bên má bằng bốn chữ “Gia tô tả đạo”. Nhưng vị này không chịu để người ta chế nhạo đạo Chúa Kitô là tả đạo, nên đã dũng cảm nhờ một bạn tù lấy dao rạch xoá hai chữ tả đạo đi, chỉ để lại hai chữ Gia tô, để tuyên xưng Danh Thánh Chúa Kitô. Khi quan biết chuyện, đã ra lệnh cho lính đánh Người đến chết !
Buổi chiều Chúa Nhật, 22/6/1980, tiếp kiến các giám mục Việt Nam, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã noi : “Giáo Hội Việt Nam đã trổ sinh nhiều nhân chứng đức tin, đặc biệt là các vị tử đạo. Lời tiền nhân nói thật chí lý: Máu tử đạo là hạt giống sinh ra các ki-tô hữu.” (Tertuliano)

Từ dòng Máu Tử Đạo Vinh Quang ấy, mà chúng ta được sinh ra trong đức tin tông truyền. Ta hãy Sống Đức Tin sao cho xứng danh nòi giống Anh Hùng Tử Đạo, để cũng được Thánh Hiến, không phải bằng máu đào, thì ít là cũng bằng Tình Yêu trong Đức Kitô !
Thứ Hai tuần 34 TN (Lc 21, 1-4)
 
Trong bài hát “Để gió cuốn đi”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ghi nhận và khen ngợi tấm lòng quảng đại của bà góa nghèo.

Con người có tính xã hội, không ai sống một mình trên đời nhưng sống cùng và sống với, sống liên đới với nhau, giúp đỡ chia sẻ cho nhau vật chất cũng như tinh thần. Con người không thể sống nếu không nhận được sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời con người không thể sống vui vẻ, hạnh phúc, sống có ý nghĩa, nếu không quảng đại với tha nhân. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều lời bào chữa cho tính ích kỷ hẹp hòi để tránh giúp đỡ người khác. Quả thực, cuộc sống con người chỉ có ý nghĩa khi biết cho đi, biết san sẻ. Việc cho đi, trao hiến càng nhiều thì càng thấy mình sống có ý nghĩa. Và việc trao tặng chỉ đạt được ý nghĩa khi người ta không cho đi cái dư thừa mà cho đi tất cả những gì cho mình.

Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay đã dâng hiến cho đền thờ tất cả những gì bà có, những gì bà để sống. Mặc dù, số tiền dâng cúng của bà ít ỏi so với những người giàu có, nhưng tấm lòng của bà thật lớn lao. Bà đã dâng cho Chúa tất cả, tín thác hoàn toàn vào Chúa, và sống hết mình cho cho Chúa.

Kitô hữu có bổn phận thực thi bác ái với tha nhân và có bổn phận với nhà Chúa. Sự dâng hiến không dừng lại ở tiền bạc mà còn cả thời gian, sức khỏe, cuộc sống. Thời nào cũng vậy, Giáo hội vẫn có các ân nhân, giáo lý viên, quý viên chức trong giáo xứ, các linh mục và nam nữ tu sỹ. Họ là những người đang dấn thân phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ mọi người ở khắp nơi. Họ đã trở nên trống rỗng để Thiên Chúa đổ đầy tình yêu, bình an và ân sủng của Ngài vào trong tâm hồn trong cuộc đời.

Lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô vang lên lúc này thật ý nghĩa: “Chính lúc hiến thân là khi lãnh nhận, khi biết quên mình là khi tìm thấy, và khi chết cho mình là khi được sống muôn đời”. 


- See more at: http://gpbuichu.org/news/Suy-niem-moi-ngay/Tam-long-quang-dai-cua-ba-goa-ngheo-2136.html#sthash.cS3UAHeO.dpuf

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

GIÊ-SU KI-TÔ – VUA






“ Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” ( Gio 18 , 36b)Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ - 2015 ...Phụng Vụ kết thúc năm với Thánh Lễ tôn vinh Đức Giê-su Ki-tô - Vua ...Sẽ còn rất nhiều những Thánh Lễ mừng Chúa Giê-su Ki-tô - Vua theo lịch Phụng Vụ năm ... cho đến ngày Chúa trở lại ...Nhưng năm 2015 ... thì đã qua ... và không trở lại ...Nghĩa là lễ lạy nhằm nhắc nhở cho con người bao lâu con người còn bước chân trên mặt đất ... Còn vương triều của Vua Giê-su Ki-tô thì thuộc thế giới của Vĩnh Hằng ... Bước chân trên mặt đất là để đi đến thế giới ấy ... Bước chân trên mặt đất là để đi vào vương triều ấy ...Cho nên Chúa nói với Phi-la-tô : “ Thật ra Nước Tôi không thuộc chốn này “ là vì vậy ...Bởi vì “ không thuộc chốn này” nên cái cách xưng vương của Vua Giê-su Ki-tô nó cũng khác thường :- ở Phụng Vụ năm B hôm nay là việc xưng vương trong một cuộc hỏi cung mà Giê-su Ki-tô – Vua là người bị thẩm vấn ,- ở Phụng Vụ năm C là bản án viết “ Đây là vua người Do Thái” treo lủng lẳng trên trên đầu mà hôm nay , ở mọi tượng chuộc tội , bản án ấy vẫn rành rành ra đó ,- ở Phụng Vụ năm A thì là chuyện phân tách người lành , kẻ dữ ở giây phút chung cuộc mà vua chúa trần gian cũng bó tay chung phận ...“ Không thuộc chốn này” là vì vậy ...“ Chốn này” là chốn nào ?Có người bảo rằng “ thế giới phẳng “ của con người hôm nay lại chằng chịt những hàng rào ... và người ta tính cho đến năm 2013 thì có khoảng trên 50 hàng rào ngăn chia các biên giới với tổng chiều dài hơn 29.000 km , nghĩa là bằng 2/3 chu vi trái đất ( thống kê của Đại Học Quebec – Canada) ... Cái “ mặt phẳng” mà các sáng chế hiện đại trong lãnh vực thông tin đã làm cho thế giới con người thấy hí hửng vì quá gần gũi với nhau ... chẳng bao lâu lại là cái cớ để những hàng rào được dựng nên ...Vậy thì “ chốn này” chắc chắn không là mặt đất trần gian đầy biến động mà biến cố ở Paris hôm 13 / 11 vừa qua vẫn còn để lại nơi mỗi con người nỗi buồn tê tái ...Nói vậy cũng hơi oan uổng cho “ mặt đất trần gian” bởi vì đấy vẫn là tuyệt tác phẩm của Thiên Chúa Tạo Hóa trao tặng con người đồng thời cũng nài xin con người cộng tác vào để mà làm cho nó trở nên một nơi chốn dễ thương và dễ chịu ...Thế nhưng ...Vậy thì “ chốn này” thật sự là chốn nào ?“ Chốn này” chắc chắn không là chốn tà ba hỗn độn những tốt / xấu , những thiện / ác , những vui / buồn , nhưng thật ra bất hạnh nhiều hơn là nỗi niềm hạnh phúc ...“ Chốn này” vì thế - dù muốn hay không – người ta cũng phải vượt ra khỏi thế giới của khả giác để lục tìm nó trong tâm hồn mình ...Đã từ lâu lắm rồi , bài học của lịch sử con người vẫn được suy đi gẫm lại nơi những con người còn có chút đỉnh cái tâm để mà truy tầm ...Chợt thấy sự đồng cảm ấy trong cái nhìn – cũ rất cũ – nhưng luôn luôn là bài học đầy ý nghĩa và cũng luôn luôn nhắc nhở : ấy là cái nhìn hôm nay vào thân phận của khối di dân khổng lồ từ Trung Cận Đông dắt dìu nhau lang thang , lếch thếch đổ vào châu Âu ... mà thấm thía cái thân phận người và sự mong manh của trần gian ...Đâu rồi những nền văn minh lớn của đế quốc Babylon , vùng Lưỡng Hà Địa , đế quốc Syria ...Chốn xưa xe ngựa hồn thu thảoNền cũ lâu đài bóng tịch dương( Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)Cũng có người trích nỗi da diết của nhà thơ lưu vong người Macedonia Ante Popovski để minh họa cho cái cõi tà ba tội nghiệp của kiếp nhân sinh :Khi con thuyền cập bến thế giới mới ...Người ta hỏi anh mang theo cái gi ?Anh ta mở bọc quần áo và giơ ra một nắm đất ...Người ta giằng lấy nó và hòn đất vỡ tan tành ...Anh ta khóc ...Đó là tổ quốc tôi , anh ta nói .Và suốt đêm , anh ta nhặt nhạnh từng mảnh vụn , từng hạt !Còn cồ gắng lê lết để nhặt lấy từng mảnh vụn , từng hạt đất của quê hương , của tổ quốc mình ... thì cũng là điều quý hiếm và đáng trân trọng lắm rồi vì nó minh chứng con người còn có trái tim, còn có tâm hồn , nghĩa là còn tìm ra “ chốn này” mà Thượng Đế đã phải trả với một cái giá vô cùng đắt : cái chết trần truồng của Vị Thiên Chúa – Làm – Người trên cây gỗ thập tự với tấm bảng treo lủng lẳng – INRI ...Lm Ngô Mạnh Điệp



Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

21/11: Người nhà của Chúa

Ngày 21/11: Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ (Mt 12,46-50)


“Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50).
 
Trước khi nói với dân chúng trong đám đông điều này, Đức Giêsu đã để lại mẫu gương về việc thực thi thánh ý Chúa Cha. Chính Ngài coi việc thi hành mệnh lệnh của Cha mình như là lương thực bồi bổ (x. Ga 4, 34). Hơn thế nữa, Đức Giêsu với tư cách Con Một của Chúa Cha đã sống trong vâng phục Cha Ngài cách tuyệt đối và vâng phục cho đến cùng (x. Mt 26, 39; Pl 2, 8).
 
Trong bối cảnh ngày lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ thêm một lần nữa lời của Đức Giêsu về việc thi hành thánh ý Thiên Chúa được minh định một cách vững chắc. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì không những Mẹ đã cưu mang và sinh hạ Ngôi Hai Thiên Chúa, mà còn là người biết lắng nghe Lời Chúa, đồng thời suy đi ngẫm lại Lời ấy trong lòng trước khi đem ra thực hành (x. Lc 2, 19). Cả cuộc đời Mẹ được tóm gọn bằng tiếng xin vâng một cách vô điều kiện (x. Lc 1, 38).  
 
Ngày nay chúng ta đang phải đối diện với nhiều khó khăn trong xã hội do trào lưu đề cao chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khoái lạc duy vật chất và chủ nghĩa thế tục thực dụng. Đây chính là triệu chứng của căn bệnh thời đại làm nảy sinh tính ích kỷ và thói dửng dưng vô cảm. Những điều này ít nhiều đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến chính đời sống kitô hữu đối với việc lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Và khi đó, chúng ta thật khó để có thể trở thành “người nhà của Đức Giêsu”, điều mà Tin Mừng ngày hôm nay chính Đức Giêsu nói đến.
 
Lạy Chúa! Xin cho chúng con biết năng suy niệm Lời Chúa, qua đó chúng con có thể nhận ra thánh ý và sứ điệp mà Chúa nói với mỗi người chúng con và xin thêm sức cho chúng con để dám từ bỏ ý riêng của mình và chỉ biết sống và hành ý Chúa trong cuộc đời. Amen. 

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

21/11. Thứ Bảy. 1Mcb 6,1-13; Lc 20,27-40
Bài Ðọc I - 1Mcb 6,1-13
Trong những ngày ấy, vua Antiôcô rảo khắp các tỉnh miền bắc. Vua nghe nói tại Ba-tư có thành Êlymai nổi tiếng là giàu có và lắm vàng bạc; trong thành lại có một ngôi đền thờ lắm bảo vật, đầy những binh giáp bằng vàng, chiến bào, khiên mộc di sản của Alexanđrô, con Philipphê, vua xứ Macêđônia, là vua tiên khởi cai trị dân Hy-lạp. Vậy ông đến tìm cách chiếm lấy thành để cướp của. Nhưng ông không thành công, vì dân thành đã biết trước ý định của ông, nên đã vùng lên chống lại. Ông bỏ chạy và buồn bực lui quân trở về Babylon.
Lúc vua còn ở Ba-tư, có người đến đem tin cho vua hay toán quân của ông ở Giuđa đã bị đánh bại chạy tán loạn, và Lysia, vị tướng chỉ huy một đoàn quân hùng hậu, cũng đã phải tháo lui chạy trốn quân Do-thái; quân Do-thái lại càng mạnh thêm nhờ ở khí giới, lương thực và chiến lợi phẩm rất nhiều đã lấy được của các đoàn quân họ đánh bại. Họ đã hạ tượng thần vua đã đặt trên bàn thờ ở Giêrusalem; họ cũng đã xây thành đắp luỹ cao như trước chung quanh Ðền thờ và chung quanh thành Bethsura.
Nghe tin ấy, nhà vua khiếp đảm và rất xúc động. Vua vật mình xuống giường và buồn đến lâm bệnh, (bởi vì) sự việc đã không xảy ra như vua ước muốn. Vua liệt giường nhiều ngày, càng ngày càng buồn. Và tưởng mình sắp chết, vua liền triệu tập tất cả bạn hữu lại mà nói với họ rằng: "Trẫm không còn chớp mắt được nữa và lòng trẫm tan nát vì ưu tư. Trẫm tự nghĩ: trước kia khi trẫm còn quyền thế, trẫm vui sướng và được người ta quý mến, mà giờ đây trẫm lâm cảnh buồn sầu và đau khổ biết bao! Bây giờ trẫm hồi tưởng lại các tai hoạ trẫm đã gây cho Giêrusalem: trẫm đã chiếm đoạt các chén bằng vàng bạc tại đó, và đã ra lệnh tiêu diệt dân Giuđêa cách vô cớ. Trẫm nhìn nhận là vì các việc ấy mà phải khốn khổ như thế này, mà giờ đây trẫm phải buồn bực mà chết nơi đất khách quê người".
Tin mừng - Lc 20,27-40
Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ đó để anh mình có kẻ nối dòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ, rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào. Sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy, vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ?"
Chúa Giêsu trả lời rằng: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng; họ sẽ không thể chết nữa, vì họ giống như thiên thần, họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa".
Bấy giờ có mấy luật sĩ lên tiếng thưa Người rằng: "Lạy thầy, Thầy dậy đúng lắm". Và họ không dám hỏi Người điều gì nữa.
Suy niệm
Vua Antiôcô ham thích những báu vật trong thành Êlymai, ông có ý định xâm chiếm. Dân trong thành đã đồng lòng đứng lên bảo vệ tài sản của mình, khiến nhà vua thất thế chạy về nước. Hơn thế nữa, dân Do Thái đã nổi dậy để đánh đuổi quân đội của nhà vua, họ đã chiếm lại thành Giêrusalem, nhất là đã đem được “đồ ghê tởm” ra khỏi đền thờ của họ. Cuộc chiến này thực sự ra là cuộc chiến của niềm tin.
Thấy được những thất bại của mình, vua Antiôcô buồn và lâm trọng bệnh. Trong cơn đau, nhà vua hồi tưởng lại những việc mình làm, và ông nhận ra : “Chính vì những hành vi tàn bạo tôi đã làm ở Giêrusalem mà tôi phải chịu buồn phiền vô hạn”. Chính nhà vua cũng đã nhận thấy hậu quả của sự xúc phạm đến Đền Thờ, đến Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay là cuộc đối đầu giữa Chúa Giêsu với nhóm Xa đốc, là nhóm không tin có sự sống lại. Họ đặt ra câu chuyện hoàn toàn giả tưởng về việc một người phụ nữ lần lượt lấy bảy anh em trong gia đình, mà không có con để nối dõi. Vậy nếu có sự sống đời sau, thì người phụ nữ này sẽ là vợ của ai?
Để trả lời, Chúa Giêsu đã dựa vào Thánh Kinh để nói về sự sống mai sau, sự sống đó chỉ được dành cho những con người xứng đáng, và trong sự sống đó, bận tâm duy nhất của người ta là việc phụng sự và ngợi khen Chúa như các thiên thần, chứ không phải là mối bận tâm theo kiểu phàm tục.
Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến cho một người trong nhóm kinh sư lên tiếng khen: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm”.
Vấn đền chính yếu ở đây là cuộc chiến của niềm tin, mà hậu quả của những kẻ không tin, còn xúc phạm đến Thiên Chúa là phải khốn khổ giống như vua Antiôcô.
Lạy Chúa, xin cho con đừng cứng lòng, xúc phạm đến Chúa, nhưng cho con biết tìm cách để ngợi khen và phụng sự Chúa trong suốt cả cuộc đời. Sống như vậy là con đang sống tương lại hạnh phúc trong chính giây phút hiện tại này.

LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH TRONG ĐỀN THỜ


 BÀI ĐỌC I: Dcr 2, 14-17
Chúa phán: “Hỡi thiếu nữ Sion hãy ca tụng và hân hoan: vì này đây Ta đến ngự giữa ngươi. Trong ngày ấy, sẽ có nhiều dân tộc quy phục Chúa, họ sẽ là dân Ta và Ta sẽ ngự giữa ngươi. Ngươi sẽ biết rằng Chúa các đạo binh đã sai Ta đến cùng ngươi”. Thiên Chúa sẽ chiếm lấy Giuđa làm sản nghiệp của Người trong thánh địa, và sẽ còn tuyển chọn Giêrusalem. Mọi xác phàm hãy thinh lặng trước nhan thánh Chúa, vì Người đã chỗi dậy trong thành thánh của Người.

ĐÁP CA: 1 Sm 2, 1.4-5.6-7.8
Đáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Đấng Cứu độ tôi (c. 1a).
1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi.
2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn.
3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao.
4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

ALLELUIA: Lc 1,28 - All. All. - Kính chào Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ; trinh Nữ được chúc phúc giữa các người phụ nữ. - All.

PHÚC ÂM: Mt 12, 46-50
Khi ấy, Chúa Giêsu còn đang nói với dân chúng, thì mẹ Người và anh em Người đứng ngoài tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa rằng: "Kìa, mẹ Ngài và anh em Ngài đang đứng tìm Ngài ngoài kia". Nhưng Người trả lời kẻ ấy rằng: "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?" Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: "Đây là mẹ Ta và là anh em Ta, vì hễ ai làm theo ý Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy".

Suy niệm
“Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.
Cuộc đời Đức Mẹ là một cuộc hành trình trong yêu thương. Hành trình đó được khởi đi từ sự ý thức về một Thiên Chúa yêu thương, để rồi qua đó, Mẹ cũng ý thức sống trọn vẹn cho tình yêu Thiên Chúa qua việc dâng mình thuộc trọn về Chúa. Và chính khi sống trong tình yêu thương đó, Mẹ đã sẵn sàng đáp lời “Xin vâng”, cũng như sẵn sàng chịu bao đau khổ, bao khó khăn trong trọn cuộc sống Mẹ. Nhìn vào cuộc đời Mẹ, mấy ai có thể nghĩ rằng một thiếu nữ mỏng dòn yếu đuối lại có thể vượt qua tất cả những điều đau khổ trong cuộc đời. Thế nhưng, chính khi Mẹ sống trong tình yêu của Thiên Chúa thì tất cả những đau khổ, những khó khăn trong cuộc đời chẳng có thể làm cho Mẹ suy sụp, chẳng thể làm cho Mẹ nản chí hay từ bỏ.
Khi sống trong ân sủng và tình yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ đã biết sống theo những điều Thiên Chúa muốn, bởi vì điều đó không chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa nhưng còn mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho Mẹ nữa. Chính vì thế mà đoạn Tin Mừng hôm nay tưởng chừng như một lời nói vô tình của Chúa Giêsu đối với Mẹ, nhưng thật ra đó lại là một lời khen ngợi, một dấu chỉ của sự yêu thương mà Chúa Giê su đã dành cho Mẹ mình. Bởi Ngài biết rằng, Mẹ Maria không chỉ là một người mẹ của tình mẫu tử thông thường, nhưng vượt trên tất cả, Mẹ còn là một người mẹ sống trọn vẹn theo thánh ý Thiên Chúa, đó mới thực sự là điều quan trọng và là điều thiết yêu hơn cả. Cuộc đời Mẹ cho dù phải trải qua những bước thăng trầm sóng gió, nhưng Mẹ vẫn không hề chùn bước, vì Mẹ đã luôn “ghi nhớ và suy niệm trong lòng” nhằm vâng theo thánh ý Chúa và sống trọn vẹn thánh ý Chúa.
Ý thức về tình yêu Thiên Chúa là ý thức về những hồng ân cao cả của Ngài. Điều đó đã giúp Mẹ có đủ tình yêu thương để đồng hành với Chúa Giêsu trên đường khổ giá, có đủ sức mạnh để tha thứ cho những kẻ làm hại Con mình, có đủ nghị lực để vượt qua tất cả những sóng gió và có đủ can trường để yêu thương tất cả mọi người. Mẹ đã không dừng lại nơi một tình mẫu tử máu thịt, nhưng đã vượt lên trên tất cả để sống trọn vẹn tình mẫu tử thiêng liêng, tình mẫu tử gắn liền với thánh ý của Thiên Chúa. Chỉ có như thế, Mẹ mới có thể thấu hiểu được và sống cùng với những trái ý những thách đố trong cuộc đời Mẹ. Để rồi, khi về trời, Mẹ vẫn hiểu được con cái của Mẹ dưới trần này, và Mẹ vẫn mãi đồng hành với đoàn con trong bất kỳ hoàn cảnh trái ngang nào của cuộc sống.
Lạy Mẹ Maria, trong giây phút đầu tiên khi Mẹ dâng mình trong đền thờ, Mẹ đã ý thức và sống trong tình yêu thương của Thiên Chúa, để rồi suốt cuộc đời Mẹ là một bài ca tình yêu trong cả niềm vui lẫn khổ đau. Xin cho mỗi người chúng con, nhờ sự trợ giúp của Mẹ, biết sống trọn vẹn theo thánh ý của Thiên Chúa để qua đó chúng con được cảm nếm và sống thân tình trong tình yêu Thiên Chúa mỗi ngày. Amen.
Phêrô Dương Hải Văn SDB


Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

20/11. Thứ Sáu. 1Mcb 4, 36-37.52-59; Lc 19,45-48
Bài Ðọc I - 1Mcb 4, 36-37.52-59
Trong những ngày ấy, Giuđa và anh em ông nói rằng: "Quân thù chúng ta đã bị tiêu diệt, nay chúng ta hãy đi thanh tẩy và cung hiến Ðền thánh lại".
Toàn thể quân đội được triệu tập, rồi cùng lên núi Sion.
Ngày hai mươi lăm tháng chín (tức là tháng Kislêu) năm một trăm bốn mươi tám, họ dậy sớm, dâng lễ tế như Luật dạy trên bàn thờ dùng để dâng lễ toàn thiêu mà họ vừa mới thiết lập. Bàn thờ đã được cung hiến lại giữa những tiếng ca, tiếng đàn lục huyền cầm, phong cầm cùng tiếng não bạt, đúng mùa, đúng ngày trước kia dân ngoại đã xúc phạm đến bàn thờ. Toàn dân sấp mình thờ lạy và ca tụng Ðấng ngự trên trời đã ban chiến thắng cho họ.
Họ làm lễ cung hiến bàn thờ suốt tám ngày, hân hoan dâng lễ toàn thiêu, lễ đền tội và lễ tạ ơn. Họ trang hoàng mặt tiền Ðền thờ với những triều thiên vàng và bảng chương, sửa lại các cửa ra vào và các phòng, đặt cánh cửa lại. Dân chúng nô nức vui mừng vì đã rửa sạch được nỗi tủi nhục do dân ngoại gây nên. Giuđa cùng với anh em ông và cộng đoàn Israel quyết định rằng: Hằng năm, từ ngày hai mươi lăm tháng Kislêu, lễ cung hiến bàn thờ sẽ được cử hành trong vui mừng hân hoan suốt tám ngày.
Tin mừng - Lc 19,45-48
Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.
Suy niệm
Bài đọc thứ nhất là niềm vui của những con người trung thành với Thiên Chúa, đứng đầu là ông Giuđa, vì sau một thời gian chiến đấu với kẻ thù, họ đã chiến thắng. Hôm nay ông mời gọi anh em của mình: “Kẻ thù của chúng ta đã bị đập tan, chúng ta hãy lên thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh”. Thế là “Họ cử hành lễ cung hiến bàn thờ và hoan hỷ dâng lễ toàn thiêu”.
Còn bài Tin Mừng hôm nay nói về việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem. Ngài muốn trả lại cho nơi thờ phượng Thiên Chúa sự trang nghiêm thánh thiện đúng với ý nghĩa của Đền Thờ. Vì vậy Ngài không ngần ngại “đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ”.
Phụng vụ lời Chúa hôm nay muốn gởi đến chúng sứ điệp về sự bảo vệ Đền Thờ. Ông Giuđa và anh em ông đã phải chiến đấu để bảo vệ Đền Thờ. Chúa Giêsu cũng vì lòng nhiệt thành mà Chúa mà phải thiệt thân.
Mỗi người chúng ta là ngôi Đền Thờ để Chúa ngự. Chúng ta có bổn phận gìn giữ cho sạch đẹp. Chúng ta phải can trường chiến đấu với thế lực kẻ thù muốn chiếm lấy Đền Thờ chúng ta. Chúng ta phải mạnh mẽ để đánh đuổi những kẻ làm chuyện ô uế, phàm tục ra khỏi Đền Thờ này.
Chúng ta gìn giữ Đền Thờ này bằng hàng rào vững chắc của đức tin. Chúng ta đánh đuổi kẻ thù ra khỏi Đền Thờ này bằng vũ khí sắc bén của lòng trông cậy. Chúng ta bảo vệ Đền Thờ này bằng vật liệu kiên cố của lòng mến.

Lạy Chúa, hằng ngày xin cho con gặp Chúa trong các giờ cầu nguyện, thánh lễ và lãnh nhận các bí tích để Chúa thanh tẩy tâm hồn con sạch mọi vết nhơ; đồng thời tăng thêm sức mạnh để con mạnh mẽ loại trừ những sự phàm tục, bất xứng ra khỏi Đền Thờ tâm hồn con.

THỨ SÁU TUẦN 33 THƯỜNG NIÊN

BÀI ĐỌC I: 1 Mcb 4, 36-37, 52-59

PHÚC ÂM: Lc 19, 45-48
Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.

Suy niệm
“Nhà Ta là sẽ nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp”.
Với mỗi người Kitô hữu, thì ngôi nhà thờ chính là nơi thánh thiêng nhất và cũng là nơi thân thương nhất. Bởi chưng đức tin của mỗi người được gắn liền với ngôi nhà thờ, nơi mà đời sống đức tin được lớn lên theo năm tháng qua việc rửa tội, qua việc học giáo lý, qua thánh lễ và qua các bí tích được lãnh nhận. Không chỉ thế, nhà thờ còn là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa và gặp gỡ nhau trong việc tôn thờ và chia sẻ đời sống đức tin cho nhau. Bởi vì nhà thờ là nơi giúp cho đức tin được khai mở và được triển nở theo năm tháng của một đời người.
Lời Chúa hôm nay không cho tôi có những cảm nghiệm về sự xúc phạm đến ngôi nhà thờ thân thương, nơi mà tôi thường hay cầu nguyện và tham dự thánh lễ. Bởi vì tôi chưa thấy một ngôi nhà thờ nào bị xúc phạm như thế cho đến bây giờ. Thế nhưng Lời Chúa lại như xoáy sâu vào con tim tôi, đi vào chính cuộc đời tôi để rồi đánh thức tâm hồn tôi qua chính ngôi nhà thờ đã được xây nên trong tâm hồn của tôi. Từ khi được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, tôi và tất cả mọi người kitô hữu được Chúa ban tặng cho một ngôi thánh đường thật đẹp trong tâm hồn, trong đời sống đức tin của mình. Nơi ngôi nhà thờ nội tâm này, tôi được gặp gỡ Thiên Chúa, được chia sẻ với Ngài mọi nỗi buồn vui trong cuộc sống. Và cũng từng ngày tôi cố gắng để làm đẹp cho ngôi nhà thờ tâm hồn của tôi. Tôi muốn cho ngôi nhà thờ tâm hồn, nơi mà Chúa ngự trong cuộc đời mình được tỏa hương bởi những nhân đức tốt lành, được trang hoàng bởi vẻ đẹp của những việc lành trong mỗi ngày sống của tôi. Thế nhưng, niềm vui mừng khi có được ngôi nhà thờ mới, niềm vui được gặp gỡ Chúa nơi đây, niềm vui khi cố gắng để làm đẹp ngôi nhà thờ ngày càng phai nhạt dần trong tôi. Để rồi có những lúc tôi đã biến ngôi nhà thờ tâm hồn của mình trở thành sào huyệt của bọn cướp, hay sào huyệt của chính tên cướp là bản thân tôi. Tôi đã không tôn thờ Chúa, đã không yêu mến Chúa nơi ngôi nhà thờ tâm hồn mình, nhưng tôi lại yêu mến tôi nhiều hơn qua lối sống ích kỷ, qua những tính toán lợi danh. Có những khi tôi đã không tôn thờ Chúa mà lại tôn thờ cho tiền bạc, cho những dục vọng của bản thân. Phải, tôi đã biến nhà thờ tâm hồn tôi trở thành nơi bẩn thỉu khi tôi không dám sống cho chân lý. Tôi sợ bị liên lụy, sợ bị người khác hiểu lầm, sợ ảnh hưởng đến đời sống của mình; những lúc đó tôi lại chẳng thấy sợ Chúa, sợ làm Chúa đau khổ, sợ lại đóng đinh Chúa thêm một lần nữa. Những điều đó vô hình chung đã biến ngôi nhà thờ tâm hồn tôi trở thành sào huyệt của tội lỗi, của sợ hãi và cũng một cách nào đó đã biến tôi thành ông chủ, thành chúa tể của ngôi nhà thờ tâm hồn tôi.
Lạy Chúa, mỗi lần con xúc phạm đến Chúa và tha nhân là mỗi lần con lại làm cho ngôi nhà thờ tâm hồn con trở nên sào huyệt của bọn cướp, là mỗi lần con cộng tác và là thành viên trong nhóm cướp đó. Và cứ như thế, con đã đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời con, khỏi ngôi nhà thờ mà chính Chúa đã ban tặng cho con. Lạy Chúa, xin cho mỗi người kitô hữu chúng con luôn ý thức về ngôi nhà thờ tâm hồn mình, để nơi đó luôn luôn là nơi đẹp nhất, là nơi thánh thiêng nhất và là nơi mà Chúa ở với chúng con trong từng giây phút của cuộc đời mình. Amen.

Phêrô Dương Hải Văn SDB


19/11/2015 Thứ Năm Tuần XXXIII Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Lc 19, 41-44 "Chớ chi ngươi hiểu biết sứ điệp mang hoà bình lại cho ngươi". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Tin Mừng hôm nay, đi liền sau biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Nhưng không như bao lần khác, Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem lần cuối cùng này để thực hiện cuộc Vượt Qua đem lại ơn cứu rỗi, hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau. Ðây là giờ Thiên Chúa viếng thăm, giờ mang đến ơn cứu rỗi, tuy nhiên, những vị lãnh đạo Do thái tại Giêrusalem, như chúng ta sẽ thấy trong cuộc khổ nạn của Chúa, họ không những từ chối, mà còn xách động dân chúng chối bỏ Chúa, yêu cầu quan Philatô ra lệnh đóng đinh Chúa vào Thập giá và tha Baraba cho họ. Như thế, dù có sự nồng nhiệt hoan hô Chúa khi Ngài cỡi trên lưng lừa tiến vào thành thánh, thì sự nồng nhiệt đó cũng chỉ là thoáng qua, và Chúa Giêsu nhận thấy ơn cứu rỗi mà Ngài mang đến bị con người khước từ hơn là đón nhận.
Ðiều xẩy ra cho thành Giêrusalem cũng có thể xẩy đến cho mỗi người ở mọi thời: mỗi người đều có những giây phút hồng phúc được Chúa viếng thăm đem đến ơn lành. Theo quan niệm Kinh Thánh, giây phút Thiên Chúa viếng thăm là giây phút Ngài thực hiện lòng nhân từ. Thánh Luca đã nhấn mạnh ý nghĩa này trong hai bài thánh ca ở đầu sách Tin Mừng của Ngài, đó là bài ca của ông Dacaria và của Ðức Maria. Trong bài ca chúc tụng của mình, Dacaria đã nêu bật lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa: chính vì lòng nhân nghĩa mà "Thái dương từ cao xanh khấng viếng thăm ta". Còn về phần mình, ý thức giờ Thiên Chúa viếng thăm đang xẩy ra không những cho bản thân, mà còn cho cả dân tộc và toàn thể nhân loại, Ðức Maria đã nhận định về ý nghĩa sâu xa của việc Thiên Chúa viếng thăm: "Lòng nhân nghĩa của Người suốt đời nọ đến đời kia, trên những kẻ kính sợ Người". Chỉ có một lý do cho cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, đó là thể hiện lòng nhân nghĩa đối với những người được Ngài viếng thăm. Do đó, nếu không đón nhận giờ Chúa viếng thăm, con người không những gây thiệt hại cho chính mình, mà còn cho cả người khác nữa.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết lắng nghe tiếng Chúa cảnh tỉnh, đồng thời biết mở rộng tâm hồn đón nhận những giây phút ân sủng của Chúa để được sống an vui hạnh phúc.AMEN.


Khi ấy, Chúa Giêsu đến gần Giêrusalem, trông thấy thành thì Người khóc thương thành ấy mà rằng: "Chớ chi hôm nay ngươi hiểu biết sứ điệp mang hoà bình lại cho ngươi! Nhưng giờ đây, sứ điệp ấy bị che khuất khỏi mắt ngươi. Vì sẽ đến ngày quân thù đắp luỹ bao vây ngươi, xiết chặt ngươi tứ bề. Chúng sẽ tàn phá ngươi bình địa, ngươi cùng con cái ở trong thành. Chúng sẽ không để lại hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết giờ ngươi được thăm viếng". Đó là lời Chúa.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Thứ Tư tuần 33 mùa Thường niên (Lc 19 11-28)


Bài Tin mừng hôm nay của thánh Luca đặt dụ ngôn nén bạc của Đức Giêsu trong bối cảnh « dân chúng lại cứ tưởng là Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện trong giây lát » (Lc 19,11), có nghĩa là ngày Chúa trở lại thế gian này trong thời cánh chung.
 
Khi Đức Giêsu nói về dụ ngôn này, ai cũng đều hiểu rằng các nén bạc mà Chúa trao cho mỗi người cần được sinh lời: sức khỏe, tài năng, các phương tiện hữu ích mà chúng ta có được là để làm sáng danh Chúa và phục vụ tha nhân. Tuy nhiên, khi dụ ngôn ấy được liên hệ với thời sau hết lại giúp chúng ta ý thức hơn rất nhiều về nén bạc thời gian Chúa ban cho hết thảy mọi người. Tất cả mọi người hiểu được giá trị của thời gian nên chúng ta mới được nhắc nhở : « thời gian là vàng bạc ». Ai ai cũng có 24 giờ một ngày. Điều quan trọng là chúng ta đã sử dụng nén bạc quý giá ấy ra sao trong suốt cuộc đời của mình.
 
Đức Giêsu không ngừng làm việc, vì theo gương của Chúa Cha vốn luôn luôn làm việc để chăm sóc con người, hình ảnh của Ngài. Với thời gian, Đức Giêsu đưa con người bước vào thời kỳ của ơn cứu độ và của triều đại của sự sống đời đời. Ngài không bao giờ hành động cách vội vàng mà luôn luôn theo thì theo buổi, có nghĩa là « giờ của Ngài ».
 
Khi sử dụng cho nên nén bạc này cùng với việc cộng tác với ơn Chúa trong công trình cứu chuộc, chúng ta sẽ được hân hoan vui mừng tiến ra chào đón Người vào lúc giã từ cõi đời. Nếu để thời gian trôi đi một cách vô vị thì chúng ta đã mất đi định hướng sống ; nếu dùng thời gian vào các mục đích bất minh là chúng ta đã phá vỡ tổng thể công trình sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa.
 
Điều cần thiết là chúng ta cần có chương trình sống cho mỗi ngày cũng như các kế hoạch dài hạn, để có phương thức hành động phù hợp ngõ hầu ngày cuộc đời mình sinh được nhiều hoa trái tốt đẹp.
 
Lạy Chúa, « Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan » (Tv 90,12).  

Lễ Chúa Ki-tô Vua


Ý niệm về vương quyền và vương quốc của Chúa Ki-tô không thể hiểu theo những tiêu chuẩn của vua chúa trần gian. Cả ba bài đọc của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày hình ảnh siêu nhiên về Chúa Ki-tô là Con Người, là vị Thủ Lãnh và là Vua của một vương quốc không thuộc về thế gian này. Sứ mệnh của Người là “làm chứng cho sự thật” và triều đại của Người sẽ tồn tại muôn đời. Vương quyền và triều đại ấy sẽ bảo đảm chắc chắn cho số phận tương lai của ta, đồng thời cũng mở ra cho ta một chân trời mới cho cuộc sống hiện tại của một Ki-tô hữu trên trần gian.



1. Chúa Ki-tô là “Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (bài đọc Cựu Ước – Đa-ni-en 7:13-14)



Theo thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người chính là Chúa Ki-tô đã chiến thắng tội lỗi và thần chết. Hai nhân vật trong bài đọc thứ nhất hôm nay là Con Người và Đấng Lão Thành. Thị kiến cho ta thấy khung cảnh đơn sơ nhưng cực kỳ uy nghiêm của một lễ đăng quang trọng đại. Ta có thể hình dung Chúa Ki-tô khải hoàn “đang ngự giá mây trời mà đến và tiến lại gần Đấng Lão Thành” là Thiên Chúa Cha. Khung cảnh này ta đã được nghe Chúa Giê-su nói đến khi Người bị vị thượng tế vặn hỏi Người có phải là Đấng Ki-tô không. “Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mc 14:61-62). Người “được dẫn đưa tới trình diện Đấng Lão Thành” (Đn 7:13). Chúa Ki-tô đã hoàn tất sứ mệnh cứu độ nhân loại. Giờ đây trong ngày phán xét chung, Người được đưa tới trình diện Chúa Cha và được Chúa Cha trao ban “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”. Có lẽ suy niệm về điều này, thánh Phao-lô Tông đồ hoặc Giáo Hội sơ khai đã vẽ lại cảnh đăng quang của Chúa Ki-tô được ngôn sứ Đa-ni-en tiên báo. “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9-11).

Điểm đặc biệt nhất mà Đa-ni-en thấy ở đây là tính cách vĩnh cửu của vương quyền và vương quốc Chúa Ki-tô (Đn 7:14b). Vĩnh cửu vì đó không phải là vị vua và vương quốc đời này, mà là Đức Ki-tô, Đấng được Thiên Chúa đặt lên và trao quyền thống trị Triều Đại của Người. Các quốc gia trên thế giới này khi tồn, khi vong, cũng như những người cai trị chúng. Ngay cả các đế quốc cũng vậy. Tất cả đều lệ thuộc vào thời gian. Còn vương quốc của Chúa Ki-tô thì trường tồn muôn đời, vì thời gian là của Người và Người là Chúa của quá khứ, hiện tại lẫn tương lai (Nghi thức làm phép nến Phục Sinh). Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô khiến ta nghĩ tới A-đam. Sau khi tạo dựng A-đam, Thiên Chúa đã ban quyền cho A-đam được thống trị muôn loài trên mặt đất. Tuy nhiên tội bất tuân phục của ông đã tước đoạt đi quyền thống trị ấy, để cho chính ông và con cháu lâm vào tình cảnh yếu đuối và phải “đổ mồ hôi mới kiếm được miếng ăn”. Chúa Ki-tô là A-đam Mới, nay đã chiến thắng tội lỗi nên được Thiên Chúa phục hồi cho quyền thống trị. Quyền thống trị vĩnh cửu của Chúa Ki-tô đã đặt nền tảng cho tương lai vĩnh cửu của ta, vì nếu quyền thống trị của Người không trường tồn thì ta sẽ chẳng được chia sẻ phần gia nghiệp muôn đời với Người.



2. Chúa Giê-su là vị Thủ Lãnh khai mạc vương quốc vĩnh cửu (bài đọc Tân Ước – Khải Huyền 1:5-8)



Đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an Tông đồ tiếp tục khai triển việc thiết lập vương quốc vĩnh cửu của Chúa Ki-tô. Tiến trình thiết lập ấy được gồm tóm trong ba danh hiệu quy về Chúa Ki-tô: Chứng Nhân trung thành, Trưởng Tử của những người từ cõi chết trỗi dậy, và Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Cách Gio-an xếp thứ tự ba danh hiệu này đã cho thấy vương quốc của Chúa Ki-tô được thiết lập như thế nào rồi. 

Trước hết, Chúa Ki-tô được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để làm Chứng Nhân. Người làm chứng rằng Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến mức độ nào. Người cũng làm chứng rằng con người có thể đáp lại tình yêu ấy ra sao. Để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa, Chúa Ki-tô “đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1:5-6). Người đã làm chứng cho việc trung thành phụng sự Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Cái chết của Người không kết thúc sứ mệnh trên trần gian, nhưng chỉ là ngưỡng cửa để Người bước qua, sống lại và là người đầu tiên trỗi dậy từ cõi chết. Người được tuyên dương là Trưởng Tử của Nhân loại Mới, tức Con Đầu Lòng giữa những người con sẽ được sống lại để hưởng phúc trường sinh với Người. Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Ki-tô nắm giữ vai trò Thủ Lãnh. Người đến trần gian làm Thủ Lãnh, nhưng không phải để được phục vụ như các thủ lãnh của thế gian, mà là để phục vụ và chết cho mọi người (Mc 10:45). Người làm Thủ Lãnh để quy tụ muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa Cha, như Đầu của Nhiệm Thể đem mọi chi thể trở về cùng Thiên Chúa là nguồn cội của chúng.

Như thế, Chúa Ki-tô đã thiết lập vương quốc Người không phải nhờ một quyền lực nào khác ngoài quyền lực của Thiên Chúa. Sức mạnh của Người không dựa vào khí giới súng đạn, nhưng là tình yêu, yêu Thiên Chúa và yêu nhân loại. Từ A tới Z chỉ có tình yêu. Hoặc nói theo ngôn ngữ khải huyền của Gio-an: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, là Thiên Chúa và chỉ có Tình yêu thống trị mà thôi.



3. Vương quốc của Chúa Ki-tô là vương quốc của sự thật (bài Tin Mừng – Gio-an 18:33b-37)



Chúa Giê-su đến để thiết lập vương quốc tình yêu, như ta đã thấy qua đoạn sách Khải Huyền của thánh Gio-an. Tuy nhiên bài Tin Mừng còn cho thấy một khía cạnh khác của vương quốc ấy, đó là vương quốc của sự thật, điều mà Chúa Giê-su đã trả lời cho Phi-la-tô khi Người bị ông ta cật vấn.

Đầu óc của Phi-la-tô không thể vượt qua khỏi ý niệm thông thường về ông vua như thượng tế và dân chúng đã tố cáo Chúa Giê-su. Trả lời cho câu hỏi của tổng trấn, Chúa Giê-su khẳng định rõ ràng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật” (Ga 18:36a.37c). Làm chứng cho sự thật là sứ mệnh vị Vua của vương quốc ấy phải thi hành. Chính Phi-la-tô cũng không hiểu được điều Chúa Giê-su đã nói. Với ông, trên đời này làm gì có thứ vương quốc của sự thật, mà chỉ có vương quốc đầy bạo lực, quyền hành, bóc lột, chiến tranh… Cho nên ông ta hỏi Chúa: “Sự thật là gì?” và cũng chẳng cần có câu trả lời, nhưng vội lảng tránh và tìm cách chạy tội hèn nhát không dám bênh vực sự thật. Sự thật là vương quốc của Chúa Ki-tô không nhắm những mục tiêu chính trị hay những phương tiện trần gian như vũ lực và bạo quyền. Do đó, Chúa Giê-su muốn nói rằng Người không phải là đấng mê-si-a đến để giải phóng Ít-ra-en như dân chúng mong đợi, nhưng là Đấng Mê-si-a đến để giải phóng nhân loại khỏi ách tội lỗi. Còn đối với thần dân của vương quốc sự thật ấy, “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Người”. Người lên tiếng kêu gọi người ta hãy nhận biết tình yêu của Thiên Chúa, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, hãy sống yêu thương theo luật pháp mến Chúa yêu người của vương quốc ấy. “Đứng về phía sự thật” có nghĩa là đáp lời mời gọi của Chúa Ki-tô mà bước vào Triều Đại Thiên Chúa hoặc Nước Thiên Chúa. Ở trong đó mọi người là anh chị em con cùng một Cha trên trời, sống những giá trị Tin Mừng qua lối cư xử với bản thân, với người khác và trọn đạo làm con cái Chúa. Sự thật ở đây là chính Đức Ki-tô, là đạo lý của Thiên Chúa để nhân loại sống theo (Ga 14:6). Sự thật ấy sẽ giải phóng ta khỏi tội lỗi nếu ta hết lòng tin (Ga 8:32). Quả thực, Thiên Chúa đã ban cho nhân loại Sự Thật, nhờ đó con người biết Thiên Chúa là Đấng nào và biết thân phận làm con của họ để sống sao cho đúng với sự thật. Tóm lại, vương quốc sự thật là kế hoạch Thiên Chúa thiết lập để tỏ ra tình yêu vô điều kiện và cứu độ của Người. Người thiết lập nó và đặt Đức Ki-tô làm Vua. Và đây là lời hiệu triệu của Vua nước sự thật: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Chẳng lẽ ta muốn làm con dân của vương quốc sự thật mà lại có thể làm ngơ trước lời hiệu triệu đó hay sao?



4. Sống Lời Chúa



Kết thúc năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi ta lần cuối cùng hãy nhìn nhận con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su Ki-tô. Người đến thiết lập Triều Đại Thiên Chúa ngay tại trần gian này và đã chết để chuộc tội cho ta. Người đưa ra một lối sống mới cho những ai muốn thực sự sám hối và tin vào Tin Mừng, kiến tạo một nhân loại mới. Ngày cánh chung, Người sẽ ngự đến trong mây trời để xét xử muôn loài. Còn ta thì được Người đưa vào vương quốc của Người ngay tại trần gian này để chuẩn bị bước vào vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã vào vương quốc vĩnh cửu để dọn chỗ cho ta. Người hứa: “Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3). Người hứa chắc chắn như vậy và Người đang chờ ta.



Suy nghĩ: Chúa Giê-su phán: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Vậy tôi đang đứng ở đâu? Tôi có lắng nghe Chúa nói và thực hành những điều Người dạy bảo không? Tôi đang ở trong vương quốc của Người hay vương quốc của ma quỷ tội lỗi?



Cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Ki-tô là người Con mà Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men. (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ).



Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 33 Thường Niên - B

16/11. Thứ Hai. 1Mcb 10-15.41-43.54-57. 62-64; Lc 18,35-43
Bài Ðọc I - 1Mcb 10-15.41-43.54-57. 62-64
Trong những ngày ấy, bởi dòng các vua Hy-lạp sinh ra một mầm mống tội lỗi, là Antiôcô Êpiphan, con vua Antiôcô, trước kia bị bắt làm con tin tại Rôma; năm vương quốc Hy-lạp một trăm ba mươi bảy, ông lên ngôi vua.
Thời đó từ Israel cũng xuất hiện một số người bất lương mê hoặc được nhiều người, chúng nói rằng: "Này, ta hãy giao ước với các dân ở chung quanh chúng ta, vì từ ngày chúng ta đoạn giao với các dân ấy, chúng ta đã gặp nhiều tai hoạ". Họ cho lời nói ấy là đúng. Một số trong dân chúng hối hả đi yết kiến nhà vua và được nhà vua cho phép tuân giữ các luật lệ của dân ngoại. Họ liền xây cất một thao trường ở Giêrusalem theo tập quán của dân ngoại; họ tìm cách huỷ bỏ vết tích của phép cắt bì, chối bỏ Giao Ước thánh để rồi giao ước với kẻ ngoại. Họ tự bán mình để làm sự dữ.
Vua Antiôcô ra chiếu chỉ khắp nước truyền cho mọi dân hợp thành một dân và mỗi dân phải bỏ tục lệ riêng mình; tất cả các dân ngoại đều tuân lệnh nhà vua. Nhiều người Israel cũng sẵn sàng theo việc phượng tự của nhà vua, họ liền hiến tế cho ngẫu tượng và phế bỏ ngày sabbat.
Ngày rằm tháng Kislêu, năm một trăm bốn mươi lăm, vua Antiôcô đặt một ngẫu tượng ghê tởm ngay trên bàn thờ dâng của lễ toàn thiêu. Người ta cũng lập nhiều bàn thờ khác trong các thành lân cận của Giuđa: người ta đốt hương cúng tế trước cửa nhà và ở các công trường. Hễ gặp thấy sách luật nào, họ xé nát và đem đốt đi. Nếu người ta bắt gặp sách giao ước trong nhà người nào hoặc bắt gặp kẻ nào giữ Luật Chúa, thì kẻ ấy sẽ bị xử tử theo đúng chiếu chỉ của nhà vua. Nhưng cũng có nhiều người Israel tỏ ra kiên quyết, và nhất định không ăn của gì dơ nhớp; họ thà chết chẳng thà làm cho mình ra ô uế bởi của ăn dơ và phạm đến Giao Ước thánh, và quả thực họ đã chết. Dân Israel phải chịu một cơn thịnh nộ khủng khiếp.
Tin mừng - Lc 18,35-43
Khi Chúa đến gần thành Giêricô, thì có một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Khi nghe tiếng đám đông đi qua, anh liền hỏi có chuyện gì đó. Người ta nói cho anh biết có Ðức Giêsu Nazareth đang đi qua. Bấy giờ anh liền kêu lên rằng: "Lạy ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi!" Những người đi trước mắng bảo anh nín đi, nhưng anh lại càng kêu lớn tiếng hơn: "Lạy con vua Ðavít, xin thương xót tôi!" Vậy Chúa Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh đến cùng Người. Khi anh đến gần bên Người, Người hỏi anh: "Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?" Anh thưa: "Lạy Ngài, xin cho tôi được xem thấy". Chúa Giêsu bảo anh: "Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi". Tức khắc anh thấy được và anh đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa. Thấy vậy toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa.
Suy niệm
Năm 200 (TCN), Giêrusalem rơi vào tay của đế quốc Xêlêuxit. Ban đầu dân Do Thái rất hồ hởi vì nhà vua Antiôcô III đối xử rất tốt với họ, họ vẫn có thể hành đạo một cách tự do. Nhưng đến thời của vua Antiôcô IV, tình hình đã thay đổi. Nhà vua bách hại đạo Do Thái, xúc phạm Đền Thờ và bắt dân chúng phải tôn thờ ngẫu tượng, vi phạm lề luật…
Một số người vì nhiều lý do đã “nhập thành một dân duy nhất để tế lễ cho các ngẫu tượng, vi phạm luật Sabát”. Nhưng “nhiều người trong dân Israel vẫn kiên tâm vững chí, nhất định không ăn những thức ăn ô uế. Họ thà chết chớ không để mình ra ô uế vì thức ăn, vi phạm Giao ước thánh”.
Như vậy giữa những người u mê đi vào đường lối của nhà vua phản bội lại Thiên Chúa để được sống, thì vẫn còn nhiều người chấp nhận cái chết để chống lại nhà vua, đi theo đường lối Chúa.
Dưới con mắt người đời, những người đi theo nhà vua để vi phạm lề luật là những người sáng suốt vì họ giữ được mạng sống mình. Còn những người chấp nhận cái chết vì không tuân thủ luật nhà vua để trung thành với Thiên Chúa là những con người mù tối, mê muội…
Bài Tin Mừng hôm nay nói về anh mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Mọi người nói với anh“Đức Giêsu Nadarét đi ngang qua đó”. Nhưng anh lại kêu lên “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.
Những người sáng mắt chỉ biết Đức Giêsu Nadarét, nghĩa là một con người. Còn anh mù thì nhận ra Đức Giêsu con Vua Đavít, nghĩa là một Đấng cứu độ.
Như vậy ai mới là người mù? Ai mới là người sáng mắt?
Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay muốn nói với chúng ta về cái mù tâm linh, là cái mù không nhận biết Thiên Chúa và đường lối của Người; cũng như ánh sáng chân thật là ánh sáng nhận biết Thiên Chúa và sống theo những gì Người chỉ dạy.
Lạy Chúa, xin cho cặp mắt đức tin của con sáng suốt để con có thể nhìn thấy Chúa hiện diện trong cuộc đời con.

THỨ NĂM SAU CN 33 TN NĂM B: Lc 19,41-44



Trong cuộc sống thường ngày, hẳn chúng ta cũng đã từng chứng kiến khá nhiều người khóc: có những người khóc vì đau khổ, bệnh tật, bất hạnh, thất vọng và bị bỏ rơi… Nhưng cũng có những người khóc vì sung sướng, khóc vì hạnh phúc!
Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe tường thuật việc Chúa Giêsu khóc thương thành thánh Giêrusalem. Tại sao vậy? Thưa vì Ngài nhìn thấy viễn cảnh tương lai với sự đổ nát của thành thánh. Đối với người Do thái, Giêrusalem không chỉ là thủ đô của một quốc gia, nhưng nó còn là biểu tượng của sự sống còn của cả một dân tộc. Người Do Thái phải mất 46 năm để xây dựng thành này. Còn Giêrusalem là còn tất cả, và nếu mất Giêrusalem thì cũng có nghĩa là mất nước.
Nhất là trong lãnh vực tôn giáo, Giêrusalem là dấu chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người; và đó cũng chính là điểm qui tụ của tất cả mọi người Do thái. Cho nên cho dù có bị lưu đày tản mát ở khắp mọi nơi, thì người Do thái vẫn còn một điểm giúp họ gần nhau, đó là sự hồi tưởng về những ngày trẩy hội lên đền thánh. Cuộc hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem, cũng là một khúc quanh quyết định trong cuộc đời của Chúa Giêsu cũng như trong chương trình cứu độ của Ngài.
Hôm đó là ngày lễ Vượt qua. Dân chúng hân hoan tiến về Giêrusalem để mừng kỷ niệm ngày dân tộc được giải phóng khỏi kiếp sống lưu đày. Họ hồi tưởng lại thời gian đã qua với biết bao hồng ân Thiên Chúa đã ban cho họ.Trong khi đó, bài Tin Mừng lại cho chúng ta thấy, Chúa Giêsu có một tâm trạng khác hẳn với những người chung quanh. Ngài tỏ ra bồi hồi xúc động. Ngài đã khóc. Ngài khóc bởi vì tất cả những gì đang hiện diện trước mắt bây giờ với sự uy nghi đồ sộ và huy hoàng của đền thờ, nhưng sẽ đến một ngày sẽ không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào.
Thực ra Chúa Giêsu khóc thương thành thánh không phải vì Ngài tiếc nuối một công trình kiến trúc vô cùng hoành tráng với 46 năm trường mới hoàn thành rồi sẽ bị tàn phá, nhưng Ngài khóc vì thấy cả một dân tộc Do Thái ưu tuyển đã bị cái vẻ hào nhoáng của đền thờ Giêrusalem che khuất, nên họ đã không nhận ra được một đền thờ sống động và đích thực đang hiện diện ở giữa họ : đó chính là sự hiện diện của Ngài.
Và còn bi thảm hơn nữa ở chỗ, chẳng những dân thành Giêrusalem đã tỏ ra đối kháng với sứ điệp bình an, không muốn đón nhận ơn cứu rỗi, mà họ còn quyết tâm tìm cách giết bằng được chính bản thân Chúa nữa.
Kính thưa…Từ những xúc động nghẹn ngào của Chúa Giêsu trước sự chối từ của dân thành Giêrusalem, chúng ta hãy suy nghĩ về chính thái độ sống của ta đối với Chúa. Ngày hôm nay Chúa Kitô vẫn còn đang tiếp tục gõ cửa tâm hồn chúng ta. Ngài muốn ấp ủ che chở chúng ta như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh. Ngài đang tha thiết nói với chúng ta qua tiếng nói âm thầm của Ngài, qua Thánh lễ mỗi ngày, qua các bí tích, qua sự hiện diện của mọi người, và nhất là qua những tiếng kêu than của những anh em đau khổ, hay những bạn bè của thiếu nhi chúng con gặp những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống cần chúng con nâng đỡ, cần chúng con an ủi và sẻ chia.
Thân phận đen tối của dân thành Giêrusalem ngày xưa cũng chính là thân phận đáng thương của mỗi người chúng ta hôm nay. Thiên Chúa đã yêu thương và tuyển chọn chúng ta làm con của Ngài, dù chúng ta hoàn toàn bất xứng. Nhưng chúng ta lại quay lưng lại với tình thương của Thiên Chúa, chúng ta vẫn thờ ơ lãnh đạm trước Lời Chúa, chúng ta vẫn phản bội với Chúa bằng đời sống tội lỗi của chúng ta... Trong tâm tình của những tuần lễ cuối năm phụng vụ, chúng ta hãy sám hối, chúng ta hãy thành tâm kiểm điểm đời sống để trở về với tình yêu của Chúa. Nhất là, giờ đây chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn đón nhận Chúa sẽ đến thăm viếng chúng ta nơi bàn tiệc thánh thể của Người. Amen.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

14/11. Thứ Bảy. Kn 18,14-16;19,6-9; Lc 18, 1-8
Bài Ðọc I - Kn 18,14-16;19,6-9
Ðang lúc yên tĩnh bao trùm vạn vật, và đêm đã tới nửa vòng xoay: từ vương toà trên trời cao, lời toàn năng của Chúa tựa như một dũng sĩ rắn rỏi xông tới giữa miền đất bị tiêu diệt, tựa như gươm bén mang mệnh lệnh cố định của Chúa, đứng sừng sững, đầu chạm trời, chân đạp đất, gieo chết chóc khắp muôn loài.
Và muôn loài được tác tạo như thuở ban đầu, phụng lệnh Chúa để gìn giữ thần dân Chúa được an toàn, vì Chúa đã khiến mây bao phủ trại binh họ, và từ nơi trước kia đầy nước, đã xuất hiện vùng đất ráo khô. Và giữa Biển Ðỏ đã xuất hiện một lối đi không có chướng ngại, và từ vực sâu xuất hiện một cánh đồng xanh tươi. Toàn dân được tay Chúa che chở, đi qua nơi ấy và chiêm ngưỡng những diệu kỳ phi thường của Chúa. Lạy Chúa, họ như đàn ngựa giữa bãi cỏ, như đoàn chiên nhảy mừng, họ tán dương Chúa, là Ðấng đã giải thoát họ.
Tin Mừng - Lc 18, 1-8
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng mà rằng:
"Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: "Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù". Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: "Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc".
Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"
Suy niệm
Những lời cầu nguyện của con người dâng lên Thiên Chúa đôi khi như trôi vào im lặng, chẳng có gì có thể cho thấy con người được Thiên Chúa nhậm lời. Tuy nhiên, qua bài Tin mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng, những lời cầu nguyện ấy Thiên Chúa Cha nhân từ đã nhậm lời rồi, nhưng cách đáp lại và ban ơn thì con người chưa thể nhận biết được.
Điều này càng rõ hơn khi chúng ta suy gẫm ở bài đọc I. Giữa không gian tĩnh lặng của canh tàn, lúc con người và vạn vật đều chìm sâu trong giấc ngủ thì Thiên Chúa đã ban lời của Người, lời đem lại sự giải thoát cách diệu kỳ. Lời đó làm bừng lên sức sống mãnh liệt, như ngựa chăn ngoài đồng, như chiên nhảy tung tăng. Và lúc đó dân của Nguời mới thấy được tình thương và uy quyền của Thiên Chúa mà họ tôn thờ, và toàn dân đã vang lời tán tụng.
Lạy Chúa, nhiều lúc chúng con nản chí khi những lời nguyện xin của mình trôi vào thinh lặng, nhiều lúc chúng con than phiền trách móc Chúa sao nỡ làm ngơ. Nhưng Lời Chúa ngày hôm nay đã củng cố đức tin cho chúng con rất nhiều. Chúa là người Cha nhân từ chẳng lẽ không yêu thương con cái của mình sao? Chính Chúa Giêsu đã bảo đảm điều đó cho chúng con: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”. Lạy Chúa, xin củng cố niềm tin cho chúng con . Amen.

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

13/11. Thứ Sáu. Kn 13,1-9; Lc 17,26-37
Bài Ðọc I - Kn 13,1-9
Khờ dại thay tất cả những người không chịu nhận biết Chúa, và cả những người không biết căn cứ vào các sự vật hữu hình để tìm hiểu Ðấng Tự Hữu, và không chú ý đến các công trình để biết ai là Ðấng Hoá công. Nhưng họ kể lửa, gió, khí thiêng, bầu trời đầy tinh tú, nước lũ, mặt trời, mặt trăng là những thần minh bá chủ hoàn cầu. Nếu họ say mê vẻ đẹp của các vật đó mà kể chúng là chúa tể, thì phải biết rằng: Ðấng quản trị các vật đó còn tốt đẹp hơn bội phần, vì chính Ðấng tác sinh thiện mỹ, đã tạo thành mọi vật đó. Hoặc nếu họ ngạc nhiên về năng lực và kỳ công của những tạo vật đó, thì do đó họ phải hiểu rằng Ðấng đã tạo thành các vật đó, còn có quyền lực hơn nhiều, vì do sự cao sang tốt đẹp của tạo vật mà người ta có thể nhìn biết Ðấng tạo dựng mọi loài.
Dầu sao họ cũng không đáng trách mấy, vì chưng, có lẽ họ lầm trong khi tìm kiếm Chúa, và muốn gặp Người. Họ tìm kiếm, khi sống giữa các kỳ công của Chúa, nhưng họ ngộ nhận khi thấy các vật kia tốt đẹp.
Tuy vậy, chính họ cũng không đáng được tha thứ, vì nếu họ có khả năng nhận thức để truy tầm càn khôn, sao họ lại không nhận thấy cách dễ dàng hơn chính Chúa tể càn khôn?
Tin Mừng - Lc 17,26-37
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như sự kiện đã xảy ra thời Noe thế nào, thì trong ngày Con Người cũng xảy đến như vậy. Thiên hạ cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng, mãi cho tới ngày Noe vào tầu, rồi nước lụt đến tiêu diệt mọi người.
"Lại cũng như đã xảy ra thời ông Lót: người ta ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất, nhưng ngày ông Lót ra khỏi thành Sôđôma, thì trời liền mưa lửa và sinh diêm, tiêu diệt mọi người. Cũng sẽ xảy như thế trong ngày Con Người xuất hiện.
"Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà có đồ vật trong nhà, thì chớ xuống lấy đi; và ai ở ngoài đồng cũng đừng trở về. Các con hãy nhớ trường hợp vợ ông Lót. Ai lo cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất sự sống mình thì giữ được nó.
"Thầy bảo các con: Trong đêm ấy sẽ có hai người trên một giường, thì một người bị đem đi, và người kia sẽ được để lại. Hai phụ nữ xay cùng một cối, thì một người sẽ bị đem đi, còn người kia sẽ được để lại. Hai người ở ngoài đồng, thì một người bị đem đi, và người kia được để lại".
Các môn đệ thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, chuyện đó ở đâu vậy?" Người phán bảo các ông: "Xác ở đâu thì diều hâu tựu lại đó".
Suy niệm
Điều răn thứ nhất dạy phải thờ phượng Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự. Nghĩa là chúng ta chỉ thờ duy nhất một Thiên Chúa mà thôi, không được thờ các loài thụ tạo. Đó là thiên luật. Thế nhưng trong cuộc sống thường ngày nhiều người quên đi lời dạy này, thay vì thờ Thiên Chúa thì họ thờ tạo vật; thay vì tìm Thiên Chúa để thi hành Thánh ý Chúa thì họ chạy tìm tà thần và làm theo hướng dẫn của loài thụ tạo. Không phải họ không biết đó là sai, là nghịch điều Chúa dạy, nhưng họ cố tình làm chuyện đó: thờ tà thần, xem bói, đồng bóng.... Họ tin vào quyền lực tà thần hơn tin vào quyền năng Thiên Chúa. Họ chạy theo bò vàng và chối bỏ Đấng Tạo Thành nên họ. Chúa nói, những người đó cũng không đáng được tha thứ vì nếu họ có khả năng nhận thức để truy tầm càn khôn, sao họ lại không nhận thấy cách dễ dàng hơn chính Chúa Tể càn khôn.
Bài Tin mừng hôm nay cũng cho thấy rõ điều đó. Những người thời Noe, thời ông Lót đều say sưa “con bò vàng”, mê đắm các tạo vật mà không lo tìm thánh ý Thiên Chúa, và họ cũng không được tha bởi Thiên Chúa đã trừng trị họ bằng lụt hồng thủy và phải bị thiêu rụi trong mưa lửa và diêm sinh.
Cuộc sống chúng ta hôm nay cũng thế, nếu chúng ta lo chạy theo tạo vật mà không lo tìm Thánh ý Thiên Chúa thì chúng ta cũng chẳng được tha.
Lạy Chúa, xin mở đôi mắt đức tin của con để khi con ngắm xem tạo vật do Chúa dựng nên con biết ca tụng Chúa. Khi con ngắm những phát minh phi thường của thế giới này, con nhận ra được Chúa còn phi thường và quyền năng hơn biết mấy, nhờ đó con luôn phó thác và yêu mến Chúa hơn. Amen.

THỨ SÁU SAU CN 32 TN NĂM B

Trong những cuốn phim giả tưởng do trung tâm điện ảnh Holywood sản xuất trong thời gian gần đây, gây nhiều ấn tượng nhất có lẽ là cuốn phim: "Ngày Tận Cùng Của Trái Ðất". Cũng giống như thời Noê, chỉ có 50 người chuẩn bị kịp, họ đã đi vào trong một phi thuyền đặc biệt và tránh được thiên tai xẩy ra cho trái đất, họ đã đi đến một hành tinh khác, và như vậy bảo đảm cho sự trường tồn của nhân loại. Với những xảo thuật tân tiến, cuốn phim đã tạo ra những ấn tượng mạnh cho tất cả mọi người yêu mến điện ảnh. 
Tuy nhiên, cũng như tất cả những lời đe dọa do nhiều giáo phái tung ra, những hình ảnh của cuốn phim dù khủng khiếp đến đâu, cũng chỉ là những hình ảnh, nghĩa là mời gọi người xem, suy nghĩ về một thực tại khác sâu xa hơn, thường được gọi là thực tại cánh chung. Khi Thiên Chúa cho trận lụt hồng thủy xảy ra, Thiên Chúa đã cảnh tỉnh con người qua một thời gian lâu dài, người qua kẻ lại chứng kiến việc làm của cha con ông Noe đóng tầu, họ tỏ ra cười cợt chế diễu gia đình ông. Nhân loại vẫn sống trong vòng sa đọa, tội lỗi, và con người vẫn tiếp tục sống trong vòng trụy lạc. Rồi biến cố thời ông Lót cũng vậy, từ trời cao Thiên Chúa thấy con người lại tiếp tục sa vào chốn ăn chơi trụy lạc. Trước khi Thiên Chúa trừng phạt thành Sôđôma, Abraham đã xin Thiên Chúa tỏ lòng nhân hậu nếu trong thành có được 50 người công chính, thì xin Người nguôi giận và tha cho thành này, Abraham đã mạnh dạn thưa với Thiên Chúa nếu tìm được những người lành từ con số 50 người, xuống còn 45, rồi 30, 20 và sau cùng nếu ông tìm được 10 người công chính thì Người có sẵn sàng tha thứ không? Tình thương của Thiên Chúa vẫn dạt dào dành cho con người, nếu trong thành có được mười người công chính thì Người sẽ không thực hiện việc này nữa. Và kết quả, chúng ta đã biết quá rõ: Thành Sôđôm và Gômora đã bị hủy diệt.
Trải qua hơn hai ngàn năm, ơn cứu độ của Thiên Chúa đã đến, Ngôi Hai Thiên Chúa đã mang thân phận là một con người như chúng ta, Người sinh ra, cùng sống, cùng ăn, cùng lao động, ngủ nghỉ, cũng có lúc vui lúc buồn và Người đã chết vì tội của chúng ta. Thế nhưng, Chúa đã chiến thắng sự chết: Người đã Phục Sinh khải hoàn. Ơn cứu độ của Thiên Chúa đã hoàn thành để dành riêng cho nhân loại. Thế nhưng, con người vẫn ngoảnh mặt quay lưng, xem ơn cứu độ của Thiên Chúa là trừu tượng viễn vông, những lời cảnh tỉnh của Thiên Chúa như là lời đe dọa. Theo bảng thống kê dân số trên thế giới vào năm 2013 ước tính khoảng gần 8 tỷ người. Số tín hữu Công Giáo khoảng hơn 1,2 tỷ. Số nhưng người tin có Thiên Chúa theo các tôn giáo khác khoảng 2,5 tỷ. Con người vẫn miệt mài sống xa dần với Thiên Chúa, đôi khi còn bài xích bôi nhọ, vu khống đặt điều … xem Thiên Chúa là hư không xa vời viễn vông.
Bài tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa tiên báo ngày Người đến sẽ xảy ra như chuyện lụt hồng thủy và gia đình ông Noe được cứu, như chuyện hủy diệt thành Sôđôm và gia đình ông Lót được cứu nhưng vì vợ ông đã ngoảnh mặt ngó lại đã bị hóa thành tượng muối. Trong tâm tình của những tuần lễ cuối năm phụng vụ, chúng ta hãy hồi tâm nhìn lại cách sống của chính mình, chúng ta đã giữ đạo đúng với tinh thần giáo lý của đạo Chúa chưa? Hay chúng ta cũng như dân riêng của Thiên Chúa ngày trước, ăn chơi sa đọa, ham mê thú vui trần thế, xem cuộc sống vật chất hơn tinh thần đạo đức. Ngày nay trước một nền văn minh tiến bộ, con người chúng ta đang dần xa Chúa nhiều hơn qua những lôi cuốn cám dỗ của trần thế: cờ bạc, rượu chè, hút chích, hưởng thụ, sống ảo, cướp của, giết người, phá thai … Ngày Chúa tái lâm ngự đến, chúng ta luôn tin nhận và biết sẽ có ngày đó, “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.” (kinh tin kính), nhưng chúng ta không thể biết ngày đó đến vào thời điểm nào. Chính vì lẽ ấy, điều quan trọng hơn hết, chúng ta nên kiểm điểm lại cách giữ và sống đạo hiện tại chúng ta đang diễn tiến như thế nào: có đúng là một đời sống chính danh Kitô hữu hay chưa?
Xin Chúa giúp chúng con biết thành tâm nhìn lại chính mình, biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy. Sửa lại những thiếu sót của mỗi người chúng con. Để khi Chúa đến, chúng con sẽ là những thành viên được đứng trong hàng ngũ đón chào Chúa ngự đến, cùng hân hoan tiến vào đền thánh , tôn vinh chúc tụng Chúa muôn đời. Amen.