Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

THỨ BA SAU CN 32 TN B

Lc 17,7-10
Nhân vật nổi tiếng trong Giáo Hội hiện nay được thế giới nhắc đến nhiều nhất, hẳn phải là Mẹ Têrêsa Calcutta, Mẹ đã được Đức Thánh GH Gioan Phaolô II phong lên hàng chân phước và là người đã được nhiều giải thưởng nhất : Đức Phaolô VI trao Mẹ giải Gioan XXIII vì hòa bình; Mẹ nhận giải thưởng Kennedy do chính phủ Hoa Kỳ tặng và tất cả số tiền nhận được, Mẹ đã dùng để xây dựng trung tâm Kennedy tại một khu ổ chuột ở ngoại ô Calcutta; tháng 12/1972 chính phủ Ấn nhìn nhận sự đóng góp của Mẹ và trao tặng Mẹ giải Nêru; nhưng đáng kể hơn vẫn là giải Nobel Hòa bình năm 1979, đây là giải thưởng đã làm cho tên tuổi Mẹ Têrêsa được cả thế giới biết đến. khi nhận được giải thưởng cao quí này, một viên chức chính phủ Ấn Độ đã gọi điện để chúc mừng, Mẹ đã trả lời: "Tất cả vì vinh quang Chúa".
Vâng, kính thưa…"Tất cả vì vinh quang Chúa", đó là động lực thúc đẩy Mẹ Têrêsa dấn thân phục vụ người nghèo trên khắp thế giới. Dù với bao nhiêu danh vọng và tiền bạc do các giải thưởng mang lại, nhưng Mẹ vẫn tiếp tục là một nữ tu hết sức khiêm tốn, nghèo khó, và làm việc âm thầm giữa những người nghèo khổ nhất. Với Mẹ Têrêsa, mỗi giải thưởng là một bàn đạp mới, một khởi đầu cho một công trình phục vụ to lớn hơn và làm cho nhiều người biết đến và ngợi khen Thiên Chúa nhiều hơn.
Qua cuộc đời của Mẹ Têrêsa, chắc chắn thế giới hiểu hơn về tinh thần phục vụ đích thực trong Giáo Hội. Một Giáo Hội càng phục vụ thì bộ mặt của Chúa Kitô phục vụ càng sáng hơn; trái lại, khuôn mặt của Chúa Kitô sẽ lu mờ đi, nếu Giáo Hội chưa thể hiện được tinh thần phục vụ đích thực của Ngài.
Trở lại trang TM hôm nay, lời khuyên của Chúa Giêsu có vẻ lạ tai. Ngài khuyên chúng ta hãy tự nhận mình là những người đầy tớ vô dụng, không làm được gì hơn là phận sự phải làm. Qua những lời ấy, phải chăng Chúa Giêsu có ý coi thường công lao phục vụ của chúng ta và không tôn trọng chúng ta cho đủ ? Hoàn toàn không, Ngài chỉ muốn thiết tha mời gọi chúng ta hãy có tinh thần khiêm tốn như Mẹ Têrêxa, và giống như Ngài trong khi làm công việc bác ái phục vụ. Ngài chỉ muốn vạch ra cho chúng ta con đường để chúng ta được nên giống như Ngài. Thật vậy, trước khi khuyên chúng ta sống như tôi tớ và tự nhận mình là tôi tớ vô dụng, chính Chúa Giêsu đã tự trở nên tôi tớ, tự xóa mình đi và không hề kể công trước mặt Cha trên trời. Làm được gì, nói được gì, Ngài cũng đều nhận là chính do bởi Cha mà Ngài làm hoặc nói như thế. Nối tiếp Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu còn nâng chúng ta lên hàng bạn hữu của Ngài, thậm chí đã làm tôi tớ cho chúng ta, tôn chúng ta lên hàng người chủ của Ngài. Đó là điều Ngài đích thân thực hiện trong quãng đời tại thế và nhất là trong cuộc đau khổ nạn của Ngài: Ngài đã đến, không phải để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ (Mt 20,28).
Đặc biệt, mỗi khi Thánh lễ được cử hành, chúng ta lại thấy chúng ta đúng là những vị khách quí, những người chủ được Chúa Giêsu phục dịch bằng cách thí mạng sống Ngài và trở nên bánh nuôi dưỡng chúng ta. Đây lại là lúc Ngài tự hủy chính mình, trở thành tôi tớ vì chúng ta. Gương mẫu đó của Ngài thôi thúc chúng ta phải trở nên khiêm tốn hơn trong khi phục vụ Thiên Chúa và anh chị em mình, đồng thời khích lệ chúng ta trong việc coi thường mọi tước vị vinh hoa của thế gian, để chọn suốt làm đầy tớ cho Thiên Chúa. Amen.


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Nghe Thánh lễ kỷ niệm cung hiến Thánh Đường Latêranô

tại Giáo xứ Hà Đông, hạt Xóm Mới, Sài Gòn


Thứ Hai, 09/11 : Lễ cung hiến đền thờ Latêranô (Ga 2, 13-22)


Vương cung thánh đường Gioan Latêranô chính là nhà thờ chính tòa của giáo phận Rôma, ở đó có ngai tòa của Đức Giáo hoàng, đấng kế vị thánh Phêrô và cũng là đại diện của Chúa Kitô. Do vậy vương cung thánh đường này được gọi là nhà thờ mẹ của tất cả các nhà thờ khắp mọi nơi trên thế giới. Trong lịch phụng vụ, lễ cung hiến đền thờ Latêranô được xếp vào bậc lễ kính ngày 09/11 hàng năm.

Nơi thờ phượng nói chung đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi kitô hữu. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay, cuộc đời họ gắn liền với nơi này. Ngoài việc cử hành các bí tích, nguồn ân sủng cần thiết cho đời sống đức tin, thánh đường còn là nơi cầu nguyện. Chính Đức Giêsu cũng rất hay lui tới hội đường để cầu nguyện với những người Do thái. Ngài cũng giữ đều đăn tập tục hành hương đền thờ Giêrusalem ngay từ khi còn niên thiếu.

Một mặt, Đức Giêsu rất đề cao nơi thánh thiêng. Chính vì thế, khi thấy con người biến nhà Chúa thành nơi buôn bán và tục hóa, Ngài đã quyết thanh tẩy đền thờ bằng cách đánh đuổi họ ra khỏi chốn này để trả lại nguyên hiện trạng cho nơi thờ phượng và gặp gỡ Thiên Chúa.

Mặt khác, Ngài cũng nhắc nhở mọi người hãy chú trọng đến thân xác, đền thờ của Chúa Thánh Thần, nơi Thiên Chúa Ba Ngôi ngự. Điều này nhắc nhở mỗi kitô hữu cần phải gìn giữ thân xác, lời ăn tiếng nói, cũng như tư tưởng và hành động sao cho luôn luôn hợp với giới răn của Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.

Mừng lễ cung hiến đền thánh Latêranô, xin Đức Giêsu ban Thánh Thần của Ngài cho mỗi tín hữu chúng ta để biết chống lại các thói hư tật xấu và tiến tới trên đường nhân đức ngõ hầu thân xác chúng ta luôn xứng đáng là nơi Chúa Ba Ngôi ngự. 

Bài Giảng Chúa Nhật XXXII Thường Niên B - Giáo xứ Thánh Tâm, Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc

CN TUẦN 32 TN B



1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tôn vinh/ ca ngợi bà góa thành Xarepta và bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem. Bà góa thành Xarepta là một người ngoại đã đem nước và bánh cho tiên tri Elia dùng trước khi làm bánh cho bà và con trai bà ăn rồi chết vì hạn hán đói kém. Bà góa tại đền thờ Giêsusalem đã dâng cho đền thờ hai đồng tiền kẽm trị giá bằng một phần tư đồng xu Roma, nhưng lại là tất cả những gì bà có để nuôi thân. Các bà được ca ngợi/ tôn vinh vì nhiều lý do, song chúng ta có thể cùng nhau suy nghĩ ba lý do chính yếu sau đây.

Trước hết, các bà được ca ngợi vì các bà có tấm lòng rộng rãi đối với tha nhân. Bà góa thành Xarepta rất nghèo, nghèo đến nỗi không đủ bột làm bánh và dầu để nuôi sống bà và con trai. Bà chỉ còn một nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đi lượm vài thanh củi, về nấu nướng để hai mẹ con ăn rồi chết. Vậy mà khi được tiên tri Elia yêu cầu đem cho ông một chút nước uống và một miếng bánh để ông ăn uống, bà đã không ngại làm như vậy sau khi đã được ông giải thích “vì Thiên Chúa đã phán hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Tấm lòng của bà thật lớn lao! Bà đã không nghĩ đến mình trước, nhưng nghĩ đến và làm cho người khác trước, cụ thể là bà đã đem nước và làm bánh đem đến cho Elia, người của Thiên Chúa. Bà góa người Do Thái tại đền thờ Giêrusalem cũng vậy, nghèo thật nghèo, nghèo đến nỗi chỉ còn vẻn vẹn hai đồng kẽm, là tất cả những gì bà có để nuôi thân, nhưng bà sẵn sàng bỏ vào đền thờ vì biết rằng các tư tế cũng được chia sẻ những gì người ta đóng góp cho đền thờ, nhất là những lễ vật vì “người làm việc cho Chúa thì đáng hưởng công”.

Thứ đến, các bà được tôn vinh vì các bà có tấm lòng tin tưởng và tín thác tuyệt vời vào Thiên Chúa. Bà góa thành Xarepta là người ngoại, nhưng đã trả lời tiên tri Elia bằng một câu đầy tin tưởng như một người Do Thái thứ thiệt đã từng tin và sống cho Thiên Chúa “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò.” Niềm tin của bà còn được thể hiện rõ hơn khi bà mau mắn làm theo lời Elia sau khi được nghe lời của Thiên Chúa qua miệng Elia “Chúa của Israel phán thế này: hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” Niềm tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa của bà góa Do Thái tại đền thờ còn mãnh liệt hơn. Bà đã dâng cho đền thờ tất cả những gì bà có để nuôi thân vì nghĩ rằng đền thờ hay Thiên Chúa thì quan trong hơn cuộc sống của bà. Bà chẳng nghĩ nay ăn gì, ngày mai sẽ sống ra sao, nhưng phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Cuộc đời bà thế nào cũng được miễn là đẹp lòng Chúa. Bà  khác hẳn với những người Do Thái giàu có. Bà không cho đi tiền dư bạc thừa, nhưng cho đi tất cả, cho đi chính mình. Niềm tin của bà thật lớn lao, thật vĩ đại dường bao!

Sau cùng, các bà được khen ngợi bởi vì tấm lòng rộng rãi của các bà đối với nhà Chúa, đối với công việc của Chúa. Bà góa thành Xarepta nhận ra Elia là người của Chúa đang thực thi công việc của Chúa. Vì thế, khi được người của Chúa yêu cầu hành động, bà đã mau mắn làm theo để kế hoạch của Chúa được thực hiện. Elia bảo bà đem chút nước ông, bà đã đem nước cho ông. Elia bảo bà đem đến cho ông miếng bánh bà đã đi làm bánh và đem đến cho vị tiên tri. Bà góa Do Thái cũng thế, chỉ có chút tiền làm của nuôi sống mình, vậy mà khi nhà Chúa, đền thờ cần, bà đã dâng hết sạch. Chính Đức Giêsu khi quan sát người ta dâng cúng cho đền thờ và thấy bà bỏ tiền vào thùng đã phải khen ngợi bà với các môn đệ “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ bào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.” Như thế, đối với Đức Giêsu, tiêu chuẩn đánh giá không theo số lượng hay giá trị tài sản bỏ vào nhà thờ, nhưng theo tỷ lệ những gì người ta có. Bà góa chỉ bỏ 2 đồng kẽm, nhưng là tất cả tài sản của bà, thậm chí là chính sự sống của bà. Bà đã bỏ nhiều nhất, thật đáng ca ngợi!

Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là người quảng đại với Chúa, với tha nhân và tín thác vào Thiên Chúa, sẽ được gì? Chắc chắn là những phần thưởng vô cùng lớn lao. Bà góa thành Xarepta đã vượt qua thời kỳ hạn hán và đói kém, mạng sống của bà và con trai bà được bảo đảm “Bà ấy đi và làm như ông Elia nói; thế là bà ấy cùng với Elia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ hột đã không vơi, và vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Elia và phán.” Phần thưởng bà góa nghèo Do Thái cho dù không được nói rõ trong đoạn Tin Mừng, nhưng chúng ta có thể hiểu được từ phần đầu của đoạn Tin Mừng “Những người ấy (những kinh sư thích được vinh dự nơi đám đông, chiếm ghế dự trong hội đường, đám tiệc, nuốt hết tài sản của các bà góa, thích đọc kinh lâu giờ) sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Thay vì bị kết án nghiêm khắc, những người có tấm lòng rộng rãi với Chúa và công việc của Chúa, biết tín thác trọn vẹn vào Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng, nhưng sẽ được cứu độ vì những gì họ làm là dấu hiệu của những kẻ đợi trông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô, mà kẻ đợi trông ơn cứu độ với cả niềm tin bao giờ cũng sẽ thỏa lòng ước mong.

Anh chị em thân mến,

Suy nghĩ về mẫu gương hai bà góa được Lời Chúa ca ngợi hôm, tôi tự hỏi:  Tôi đã rộng lượng với Chúa, với công việc của Chúa và với người của Chúa chưa? Mỗi khi Chúa mời gọi tôi làm gì, tôi có tính toán thiệt hơn với Chúa không? Tôi dâng cho Chúa điều tôi cần hay cái tôi dư thừa? Tôi cho nhiều hay chỉ cho chút ít những thứ không quan trọng với tôi? Tôi có dám tín thác và để Chúa lo liệu hay cậy dựa vào của cải vật chất, khả năng bản thân, địa vị tôi đang nắm giữ hay vào ai khác như: vị bảo trợ hay một người quyền thế và giàu có? Thật ra, rất nhiều lần chúng ta hẹp hòi và tính toán với Chúa, với công việc của Chúa và với người khác. Chúng ta chẳng dám quảng đại đóng góp cho Giáo Hội, cho công việc của Chúa bao giờ vì sợ thiệt thòi, sợ khó khăn, sợ nghèo đi, sợ không ai bảo đảm cuộc sống cho mình, trong khi Chúa vẫn ở phía trước chờ đợi, yêu thương, và lo liệu mọi thứ cho chúng ta. Ngài không những cho ta đủ thứ ở đời này mà còn muốn trao ban cho ta cả hạnh phúc Nước Trời mai sau. Xin Chúa cho chúng ta luôn quảng đại với Chúa và tha nhân trong niềm tín thác hoàn toàn vào Chúa. Amen.

Nghe Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Lúc 19g CN 8.11.2015 - tại Giáo xứ Hà Đông, Xóm Mới, SG

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần 32 Thường Niên - B

09/11. Thứ Hai. Cung Hiến Thánh Đường Latêranô. Ed 47,1-2.8-9.12; Ga 2,13-22
Bài Ðọc I - Ed 47,1-2.8-9.12
Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải. Người ấy lại nói với tôi: "Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến. Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.
Tin Mừng - Ga 2,13-22
Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêrusa-lem; Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán".
Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bấy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn muơi sáu năm mới xây được đền thờ này mà ông, ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Suy niệm
Hôm nay chúng ta mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô. Ðây là một trong những vương cung thánh đường cổ kính nhất của Hội Thánh, là nhà thờ chính toà của Ðức Thánh Cha, giám mục Rôma, là Mẹ của mọi nhà thờ trên thế giới. Cung hiến thánh đường là dâng cho Chúa một ngôi nhà để dành riêng cho việc phụng tự.
Khi được cung hiến để trở thành nhà của Thiên Chúa, thánh đường cũng trở nên nhà của các tín hữu, nơi Thiên Chúa hiện diện và thi ân cũng là nơi con người họp nhau để tôn thờ, cảm tạ. Dù nguy nga hay nhỏ bé, cổ kính hay hiện đại, mọi nhà thờ đều là nơi Thiên Chúa hẹn gặp con người.
Tiên tri Êdekiel cho chúng ta thấy một điều chắc chắn rằng, từ trong Đền thờ này Chúa sẽ ban cho chúng ta rất nhiều ân sủng; từ trong Đền thờ này, tâm hồn và thân xác chúng ta sẽ được chữa lành, bởi từ đó tuôn trào một dòng nước trường sinh.
Hội Thánh cũng được ví như một Ðền Thờ thiêng liêng, mỗi tín hữu là một viên đá sống động và Ðức Kitô là viên đá góc, là nền. Thánh Phaolô không ngần ngại khẳng định "Ðền thờ của Thiên Chúa chính là anh em". Hơn thế nữa, ngài còn nói: "Thân xác anh em là Ðền Thờ của Thánh Thần" . Như thế, cả Hội Thánh và từng Kitô hữu đều là Ðền Thờ. Ðền Thờ này không phải là những toà nhà có thể bị thời gian bào mòn, bị chiến tranh phá hủy mà là những con người sống động.
Chúa Giê su nói: "Hãy phá hủy Ðền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại." Chúa Giêsu không có ý nói đến đền thờ Giêrusalem. Ngài muốn nói đến chính thân thể Ngài, thân thể bị phá hủy và được xây dựng lại, thân thể bị giết chết và được phục sinh. Chúa Giêsu phục sinh trở nên Ðền Thờ của Giao Ước mới. Ai ai cũng được mời gọi bước vào Ðền Thờ này. Chỉ nơi đây, con người mới gặp được Thiên Chúa. Và cũng chính từ Đền Thờ này, ngày hôm nay chúng ta được đón nhận rất nhiều ân sủng, được chữa lành cả thân xác và tâm hồn, bởi vì cũng từ Đền thờ này tuôn trào một dòng nước trường sinh.
Khi thấy nhà Cha trở thành nơi buôn bán, Chúa Giêsu đã nổi giận, vì nhiệt tâm đối với Cha. Chúng ta thường thiếu một chút giận dữ hồn nhiên như vậy, vì chúng ta yêu quá ít và sợ quá nhiều. Chúng ta dửng dưng với những gì liên hệ đến Thiên Chúa. Có nhiều nhà thờ, đền thờ cần tu bổ. Nhà thờ đầu tiên là con người tôi.
Lạy Chúa, xin hãy thanh tẩy chúng con bằng Thánh Thần, cứ tiếp tục lật đổ và trục xuất những gì ô uế. Ước gì chúng con cung hiến lại bản thân mình cho Chúa để Hội Thánh thật sự là Ðền thờ, nhờ đó cả thế giới cũng trở thành Ðền thờ của Chúa. Amen.


CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ

THANH TẨY ĐỀN THỜ TÂM HỒN
(Ga 2,13-22)
Hôm nay, cùng với Mẹ GH, chúng ta mừng lễ cung hiến Đại Thánh Đường Latêranô. Thánh Đường này được hoàng đế Contantino xây dựng năm 320. Đây được xem là Nhà Thờ Mẹ và là Đầu của mọi Nhà Thờ trên thế giới”. Đại Thánh Đường Latêranô là nhà thờ chánh toà của Đức Giáo Hoàng, trong nhà thờ này có ngai tòa của ngài.
Trước hết, xét về mặt lịch sử, đền thờ Laterano được dâng kính Thánh Gioan và được xây dựng tại Laterano, nên được gọi là đền thờ Gioan Laterano. Đây là đền thờ cổ kính nhất trong Giáo Hội. Trải qua hơn 300 năm từ khi Tin Mừng được rao truyền tại Roma và Châu Âu, Giáo Hội đã bị bách hại một cách khốc liệt và đã có hàng trăm ngàn tín hữu phải chết vì đức tin. Năm 313, với chiếu chỉ Milan, hoàng đế Constantino đã công nhận Kitô Giáo là một tôn giáo được hoạt động tự do và hợp pháp trên toàn đế quốc Roma. Sau đó, Hoàng đế cùng với gia đình gia nhập đạo Công Giáo. Để đánh dấu sự kiện này, ông đã xây dựng cung điện Laterano để tặng cho Giáo Hội và được Đức Thánh Cha Silvester thánh hiến năm 324, được chọn làm nhà thờ Chánh tòa của giám mục giáo phận Roma, tức là Chính tòa của Đức Giáo Hoàng, và được coi là mẹ của các nhà thờ trên toàn thế giới.
Xét về mặt ý nghĩa, biến cố cung hiến đền thờ Laterano nhắc chúng ta nhớ đến ơn của Bí Tích rửa tội là tẩy rửa chúng ta khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, được sống sự tự do của con cái Thiên Chúa. Bí tích rửa tội cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, trở nên con của Giáo Hội, và trở nên anh chị em với nhau. Với ý nghĩa như thế, chúng ta được mời gọi cùng nhau xum họp trong nhà Chúa, cùng chung lời tạ ơn Thiên Chúa. 
Mừng lễ cung hiến Nhà Thờ Mẹ của mọi ngôi nhà thờ vật chất, chúng ta hướng về Đền thờ tâm hồn mỗi người chúng ta. Đây là ngôi Đền Thờ sống động, có linh hồn, có trí khôn ... chứ không phải bằng gỗ đá vô tri vô giác, được chính Ba Ngôi Thiên Chúa xây dựng nên theo hình ảnh Ngài, được Chúa Giêsu đổ Máu Thánh ra mà cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần xức dầu thánh hiến trong ngày lãnh Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, được Chúa Giêsu tô điểm và bồi bổ bằng Lời Hằng Sống cũng như bằng chính Thịt Máu Ngài và nhất là mai sau được đưa lên cõi trời vinh hiển. Không một ngôi Thánh Đường vật chất nào trên thế gian có được những vinh dự lớn lao như thế.
Tin Mừng chúng ta vừa nghe cho thấy Chúa Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem. Qua đó, Chúa cũng muốn chúng ta thanh tẩy Đền thờ tâm hồn mình. Bởi ai dám chắc đền thờ tâm hồn mình lại không đang ra ô uế, dơ bẩn bởi những đam mê bất chính, bởi những cái nhìn thiếu trong sáng, bởi những hành động xấu xa mà chúng ta thực hiện mỗi ngày. Ai dám chắc là đền thờ tâm hồn của mình không bị tục hóa bởi những tính toán nhuốm màu thế gian, bởi những điều xấu từ trong lời nói, thói quen, việc làm…
Chúng ta cần thanh tẩy và làm đẹp đền thờ tâm hồn mình bằng cách siêng năng lãnh nhận ơn Chúa và các Bí tích, nhất là Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể, cố gắng sống cao thượng và tôn trọng phẩm giá của mình cũng như của người khác. Và đừng lạm dụng thân xác trong những đam mê bất chính. Đừng lạm dụng thân xác để kiếm tiền và tìm thú vui xác thịt.
Chúng ta đừng phá huỷ đền thờ tâm hồn bằng những thứ xa hoa truỵ lạc, nhưng hãy thanh tẩy tâm hồn mình khỏi những bợn nhơ tội lỗi, những ước muốn gian dâm và trộm cắp. Hãy loài trừ trong tâm hồn chúng ta những cái nhìn bất chính, những ước muốn tầm thường, những đam mê vô độ.
Sau cùng, chúng ta hãy để Chúa ngự trị và chiếm đoạt tâm hồn mình. Và quan trọng, chúng ta hãy thường xuyên làm những cuộc thanh tẩy tâm hồn mình bằng cách lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Có như vậy, Chúa sẽ vui thích khi ngự trong đền thờ tâm hồn chúng ta.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con thanh tẩy đền thờ tâm hồn để trở thành nơi xứng đáng Chúa ngự trị. Amen.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Nghe Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - tại Giáo xứ Vĩnh Hòa- Thánh lễ 19 g thứ bảy 07.11.2015

Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Lễ 5 giờ sáng CN 08.11.2015 - Giáo xứ Hà Đông, Xóm Mới

Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên ( 8.11.2015) tại Giáo xứ Hà Đông - lễ thiếu nhi

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - B

Lời Chúa: 1 V 17, 10-16; Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10; Dt 9, 24-28; Mc 12, 38-44.
Bài Đọc I - 1 V 17, 10-16
Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: “Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống”. Ðương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: “Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh”. Bà thưa: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi”. Êlia trả lời bà rằng: “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất'”. Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.
Bài Đọc II - Dt 9, 24-28
Ðức Giêsu không tiến vào cung thánh do tay người phàm làm ra chỉ là hình bóng cung thánh thật, nhưng Người vào chính thiên đàng, để từ đây xuất hiện trước tôn nhan Thiên Chúa vì chúng ta. Người không còn hiến dâng chính mình nhiều lần, như vị thượng tế vào cung thánh mỗi năm một lần với máu không phải của mình. Chẳng vậy, từ tạo thiên lập địa, Người đã phải chết nhiều lần; nhưng từ nay cho đến tận thế, Người chỉ xuất hiện một lần tế lễ chính mình để huỷ diệt tội lỗi. Như đã quy định, người ta chỉ chết một lần thế nào, sau đó là phán xét, thì Ðức Kitô cũng hiến tế một lần như vậy, để xoá tội lỗi của nhiều người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, không phải để chuộc tội, nhưng để cứu độ những ai trông đợi Người.
Tin Mừng - Mc 12, 38-44
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn”. Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình”.
Suy niệm
Người nghèo thường quảng đại và sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người khác. Họ tự do với bạc tiền danh lợi, nên có thể tin vào con người và sẵn sàng yêu thương phục vụ hơn.
Chúa Giêsu nói với mọi người: “hãy coi chừng” những ông kinh sư, họ thích mặc áo thụng xúng xính khác người, thích được chào hỏi, thích ngồi chỗ nhất, nhưng lại “nuốt” hết tài sản của các bà góa, lại còn giả bộ đọc kinh lâu giờ.
Không phải chỉ những ông kinh sư thời Đức Yêsu thích rồi làm như vậy, mà con người ngày nay cũng vậy nữa: cũng tham của người, ham danh hám lợi, và hay giả bộ “đạo đức”. Nếu đạo đức thật, mà người ta thấy thì cũng tốt vì làm gương sáng; còn nếu không đạo đức mà lại làm như thể đạo đức, là giả hình. Hãy coi chừng.
Nếu ai thích khen, người đó có thể bị điều khiển bằng lời khen; nếu ai tham của, người đó có thể bị mua chuộc bằng tiền của. Người đó đang bị nô lệ, bị sai khiến bởi tiền bạc danh vọng chức quyền. Người đó tưởng họ đang tự do, nhưng thực sự họ đang nô lệ và bị điều khiển mà họ không biết. Hãy coi chừng.
Nếu bạn không nô lệ những điều đó, thì hạnh phúc biết bao!
Tiên tri Elia trên đường lánh nạn đã được Chúa truyền đến sống nhờ một bà goá nghèo. Cũng có thể nói bà goá nghèo và con bà sống nhờ tiên tri, vì chính nhờ tiên tri mà hũ bột không cạn và hũ dầu không vơi. Đúng hơn Thiên Chúa thương cả tiên tri lẫn bà goá nghèo nên đã nuôi sống tất cả.
Bà goá chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu, lượm củi làm cái bánh cuối cùng để “ăn rồi chết”, thế mà bà vẫn tin lời tiên tri, làm cho ông một cái bánh trước khi làm cho con bà và chính bà. Cách hành xử của bà goá này rất đẹp. Tôi có đơn sơ tin người và sẵn sàng giúp người như bà goá nghèo này không? Thiên Chúa quá tuyệt.
Bà goá trong Tin Mừng được Đức Giêsu khen là quảng đại, dám dâng cúng tất cả những gì mình có. Có người nói rằng: “vì bà goá chỉ có mấy xu nên dễ dàng để dâng cúng tất cả, còn nếu bà goá này thật giầu thì chắc bà chẳng dám bỏ tất cả đâu”! Cũng có thể như vậy, nhưng “những người quảng đại” thường nghèo; có lẽ họ “hay cho” nên mới không giầu. Bà goá đó không giầu được vì bà luôn cho tất cả, dù khi bà có hai xu hay có nhiều hơn hai xu, có lẽ chưa khi nào bà giữ cho mình được mười đồng vì bà vẫn cho những gì bà có. Thiên Chúa cũng cho con người tất cả, ngay cả điều qúy nhất là Chúa Con và Thánh Thần.
Những người “ham tiền” thường ky cóp và không bỏ ra ngay cả một xu!
Có mấy người hiểu được hạnh phúc của người nghèo? Có mấy người hiểu được người nghèo tự do đến mức nào? Trong cuộc sống, bao nhiêu quyết định bị chi phối bởi sợ người này hay không dám làm mất lòng người kia, sợ người khác hiểu lầm mình, sợ người khác không còn đánh giá mình cao nữa, sợ người khác biết sự thật về mình. Vì sợ nên không được tự do.
Xin Chúa cho con nghèo, để con không còn gì để phải sợ, để con chỉ còn biết sống theo Chúa theo sự thật, để chỉ bị tình yêu thương chi phối mà thôi.

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

(1 V 17,10-16; Hr 9,24-28; Mc 12,38-44)
THIÊN CHÚA THẤU TỎ MỌI SỰ
“Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: ‘Thầy bảo thật anh em: 
bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết’” (Mc 12,43)
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1:
    Bối cảnh đoạn sách Các Vua là lời loan báo của ngôn sứ Êlia về án phạt của Thiên Chúa đối với vua Akháp vì vua đã tôn thờ thần Baan (1 V 16,29-33). Theo đó, trong đất nước của vua sẽ chẳng có mưa trong một thời gian dài. Trong hoàn cảnh hạn hán và đói kém, Thiên Chúa có cách để lo liệu cho vị ngôn sứ của Ngài (x. 1 V 17,1-9). Nhưng điều gây ngạc nhiên hơn cả là việc Thiên Chúa biểu lộ sự quan phòng của Ngài qua hình ảnh tín thác của một bà góa nghèo (1 V 17,10-16).
    Các bà góa trong Kinh Thánh luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi. Họ đa phần là những người nghèo, bị xã hội coi thường và lãng quên. Bà góa trong đoạn sách Các Vua cũng không phải là ngoại lệ. Ngôn sứ Êlia gặp bà lúc bà đang đi lượm củi để lo cho bữa ăn cuối cùng, một hình ảnh cho thấy cái nghèo đến cùng cực của bà trong hoàn cảnh hạn hán và đói kém, đến nỗi bà có thể thấy trước cái chết của mình và con trai. 
Bà góa này không những nhận ra Thiên Chúa là Chúa của vị ngôn sứ, mà bà con thề trước Ngài (1 V 17,12), nghĩa là, cách nào đó, bà cũng thừa nhận Ngài là Chúa của bà. Không loại trừ khả năng bà là người gốc Israel, nhưng được gả chồng ở Xarépta, thuộc Xiđôn, vùng đất thuộc dân ngoại. Dù thế nào, bà góa này xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng vượt lên trên và hiểu biết tất cả; bà ý thức rằng Thiên Chúa thấu suốt hoàn cảnh nghèo đói của bà. 
    Do vậy, trong hoàn cảnh bi đát của nạn hạn hán, bà vẫn sẵn sàng cho nước theo lời yêu cầu của vị ngôn sứ; đồng thời trong lúc nạn đói đang hoành hành dữ dội, lúc thức ăn đã cạn kiệt, lúc bà và con trai đang đối diện với cái chết cận kề, bà vẫn sẵn sàng chia sẻ phần ăn với vị ngôn sứ. Sự sẵn sàng trao ban của bà theo yêu cầu của vị ngôn sứ thể hiện một lòng tin mạnh mẽ vào lời hứa của Êlia, và trên hết là niềm tin vào Thiên Chúa của vị ngôn sứ. 
    Phép lạ về bình dầu không cạn và hũ bột không vơi là một minh chứng cho sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, Đấng lo liệu khéo léo cho vị ngôn sứ của Ngài. Đồng thời, phép lạ còn là lời xác tín vững chắc rằng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi những con người, dù nghèo khó, hèn kém và bị bỏ quên trong xã hội, nhưng vẫn một lòng tin tưởng và phó thác vào Ngài.
2. Bài đọc 2:
    Thư Hípri phác họa hình ảnh Đức Kitô Thượng Tế như là vị trung gian hoàn hảo, là cầu nối hữu hiệu giữa con người với Thiên Chúa. Những lý do sau đây chứng minh cho điều đó.
    Một là, trong khi các thượng tế Do Thái chỉ có thể vào trong nơi cực thánh một năm một lần, nơi mà họ tin rằng có sự hiện diện thật sự của Thiên Chúa, để dâng lễ đền tội cho mình và cho dân, thì Đức Kitô Thượng Tế lại vào chính cõi trời, diện đối diện với chính Thiên Chúa mà chuyển cầu cho dân (Hr 9,24). Đức Kitô phục sinh là vị Thượng Tế được siêu thăng cõi trời, hằng ngự bên hữu Thiên Chúa để chuyển cầu hiệu quả cho dân mỗi khi cần chứ không phải chờ đợi mỗi năm một lần như trong định chế tư tế Lêvi.
    Hai là, các thượng tế Do Thái mỗi năm đều phải mang máu con vật vào nơi cực thánh để xin Thiên Chúa tha tội cho mình và cho dân là vì máu đó không hoàn toàn xóa bỏ được tội lỗi. Đức Kitô Thượng Tế chỉ dâng hiến tế là chính máu của mình một lần, nhưng hoàn toàn tiêu diệt mầm mống tội lỗi và xóa bỏ tội muôn người (Hr 9,26.28). Theo quan niệm Do Thái, không có máu đổ ra thì không có ơn tha thứ (x. Hr 9,22), nhưng chỉ có máu của Đức Kitô Thượng Tế, Đấng “thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Hr 7,26) mới đem lại ơn tha thứ một lần cho tất cả. 
Ba là, Đức Kitô Thượng Tế sẽ trở lại lần thứ hai, nhưng không phải để tiếp tục dâng lễ đền tội, nhưng là để đem lại ơn cứu độ cho những ai trông đợi Người (Hr 9,28). Giá trị cứu độ của hy tế Đức Kitô mang tính trường tồn. Ơn cứu độ này chỉ dành cho những ai biết “trông đợi Người”, trông đợi bằng thái độ sống “tùng phục Người” (Hr 5,9). Như Đức Kitô đã “học vâng phục” qua đau khổ để trở nên nguồn ơn cứu độ thế nào, thì những ai chờ đợi Đức Kitô bằng thái độ vâng phục thánh ý Thiên Chúa đều xứng đáng đón nhận nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu do hiến tế cứu độ của Người mang lại (x. Hr 5,8-9).
    Đức Kitô Thượng Tế vào chính cõi trời, trước nhan Thiên Chúa, để dâng chính máu của mình, tiêu diệt hoàn toàn tội lỗi, hầu mang lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai đợi trông Người. Người thật là vị Thượng Tế hoàn hảo, là trung gian hữu hiệu giữa Thiên Chúa và con người. 
3. Bài Tin Mừng
    Bài Tin Mừng mô tả hai hoàn cảnh không những khác nhau mà còn trái ngược nhau. Một bên là hình ảnh của các ông kinh sư bị Chúa Giêsu phê phán vì cách sống nặng tính phô trương vẻ bề ngoài. Bên kia là hình ảnh của bà góa nghèo được Chúa Giêsu khen ngợi vì đã âm thầm, kín đáo cho đi những gì quý giá nhất với cả tấm lòng. 
Các kinh sư là những người có vai trò quan trọng trong việc giúp dân hiểu và giữ Lề Luật. Với vị thế, vai trò và lối sống đạo hạnh của mình, họ thường nhận được sự kính trọng của dân. Tuy nhiên, có lẽ thời Chúa Giêsu vẫn có những vị kinh sư chỉ chăm chú đến lối sống nặng tính hình thức bên ngoài như: khoe khoang mũ áo, thích được chào hỏi, ưa chuộng lời khen và ghế danh dự nơi công cộng, cầu nguyện hình thức… nhưng bên trong che đậy sự gian trá và lọc lừa ngay cả tiền bạc của các bà góa là đối tượng thường chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội. Chúa Giêsu mạnh mẽ lên án lối sống giả tạo, vụ hình thức của họ, rằng họ sẽ bị Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can con người, kết án nghiêm khắc.
    Trái lại, hình ảnh bà góa nghèo dâng cúng một số tiền rất nhỏ lại được Chúa Giêsu khen ngợi. So với những người giàu bỏ thật nhiều tiền, thì hai đồng tiền kẽm của bà góa chẳng đáng là gì. Chúa Giêsu khen bà góa đã dâng cúng số tiền nhiều hơn ai hết chắc chắn không phải dựa trên giá trị số tiền bà dâng mà dựa trên tấm lòng sẵn sàng cho đi “tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 12,44). Lòng quảng đại của bà góa khi dám cho đi tất cả thì đáng quý hơn rất nhiều so với những người giàu chỉ cho đi những gì là dư thừa.
Hai hình ảnh trái ngược trong bài Tin Mừng gợi lên nhiều điều đáng để suy gẫm:
Một là, Thiên Chúa không nhìn vào dáng vẻ bên ngoài để đánh giá. Ngài là Đấng thấu suốt lòng dạ con người từ bên trong. Những gì thể hiện ra bên ngoài chỉ có giá trị thực sự khi phát xuất từ tấm lòng bên trong. Người ta có thể đánh lừa nhau vì cái mã bên ngoài, nhưng những gì phát xuất từ tấm lòng mới là điều Thiên Chúa trông đợi nơi con người. 
    Hai là, tất cả mọi hành động và của cải trao ban, dù nhỏ mọn, tầm thường, nhưng nếu xuất phát tự tâm hồn tốt lành, trung thực và quảng đại đều có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa. Của cho, dù ít hay nhiều, chắc chắc đều đáng quý, nhưng cách cho còn đáng quý hơn gấp bội.
Ba là, mọi người đều có giá trị như nhau trước mặt Thiên Chúa, dù họ là ai, ở địa vị nào. Ngài không bỏ qua hành động sai trái của kẻ mạnh, cũng không bỏ quên nghĩa cử cao đẹp của người thấp bé. Ngài đặc biệt quan tâm và dành tình thương cách đặc biệt cho những người nghèo, những người đang sống trong cô đơn, bị quên lãng hay bỏ rơi. 
II. GỢI Ý ÁP DỤNG
1/ Phép lạ về bình dầu không cạn và hũ bột không vơi là một minh chứng sống động cho sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, Đấng khéo léo lo liệu cho vị ngôn sứ của Ngài, và là Đấng không bỏ rơi những con người nghèo hèn, bé nhỏ nhưng một lòng tin tưởng và phó thác vào Ngài. Tôi có tin rằng Thiên Chúa vẫn hằng yêu thương, quan phòng, ngay cả khi tôi gặp những hoàn cảnh cô đơn, nghèo hèn, khốn khổ, bi đát?
2/ Đức Kitô thật là vị Thượng Tế hoàn hảo, là trung gian hữu hiệu giữa Thiên Chúa và con người, Đấng vào chính cõi trời để dâng máu mình làm của lễ đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho con người. Người đã học vâng phục thánh ý Thiên Chúa ngay cả trong những lúc đau khổ nhất nên không có nỗi khổ đau nhân loại nào mà Người không thể cảm thấu. Tôi có xác tín mạnh mẽ rằng Đức Giêsu là trung gian hữu hiệu nhất dẫn tôi đến với Thiên Chúa, và là nguồn ơn cứu độ duy nhất của đời tôi?
3/ Chúa Giêsu nhìn thấu và lên án lòng dạ xấu xa bên trong của các ông kinh sư dù bên ngoài họ tỏ ra đạo đức, nhưng Người lại khen ngợi lòng quảng đại của bà góa nghèo, dù nhìn bên ngoài số tiền dâng cúng của bà chẳng là gì so với những người giàu dâng nhiều tiền. Tôi có thường sống với chiếc mặt nạ? Cách tôi sống, những việc tôi làm có xuất phát từ tầm lòng chân thành và trung thực?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng của con người, Người luôn quan tâm chăm sóc những ai có tâm hồn nghèo hèn bé mọn và ưu ái chúc phúc cho họ. Với lòng tin tưởng phó thác mọi sự trong tay Chúa, chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:
1. Chúa Giêsu đã phê phán thái độ giả hình của các kinh sư, biệt phái. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh biết tránh xa thói giả hình, luôn trung thành với tinh thần nghèo khó Phúc Âm, và tận tâm phục vụ vì phần rỗi của mọi người.
2. Lối sống ích kỷ vô cảm là điều đáng cảnh báo trong cuộc sống hôm nay. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo xã hội biết đề cao và khuyến khích mọi người sống tinh thần quảng đại hy sinh, nâng đỡ chia sẻ, nhằm xây dựng một xã hội văn minh liên đới.
3. Đức Kitô chỉ hiến tế một lần là đủ đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi kitô hữu luôn xác tín vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô và biết tích cực tham dự vào hy lễ cứu độ của Ngài bằng một đời sống quên mình phục vụ.
4. Chúa Giêsu đánh giá bà góa nghèo đã bỏ nhiều hơn hết. Xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết theo gương bà góa trong Tin Mừng, luôn sống tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, sẵn lòng chia sẻ với mọi người và đóng góp cho việc chung.
Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con ca ngợi và tôn vinh lòng thương xót hải hà của Chúa, xin nhậm lời chúng con cầu nguyện và rộng ban muôn ơn lành giúp chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa theo gương Đức Giêsu Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

08/11/2015 Chúa Nhật Tuần XXXII Mùa Thường Niên Năm B


PHÚC ÂM: Mc 12, 41-44 {hoặc 38-44}
"Bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, {Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn".}
Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cũng đưa ra hai nhận định khác nhau về hai loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.
Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng không đóng góp của chung mà chỉ lợi dụng để lấy của chung thành của riêng. Họ là những người giầu có nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.
Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.
Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.
Thực vậy, sự giàu có về vật chất đôi khi làm con người nghèo khó về tinh thần. Sự nghèo khó vật chất đôi khi lại thảnh thơi tâm hồn. Kẻ tham lam thường nghèo đói về lòng nhân ái. Kẻ biết sống khó nghèo thường chứa chan tình yêu. Kẻ có chức có quyền dễ mất tính bao dung và thương xót. Kẻ khốn cùng dễ cảm thông với bất hạnh bần cùng của tha nhân.
Xét cho cùng, sự giàu có không hệ tại ở đồng tiền hay chức vị. Sự giàu có hệ tại ở những tương quan với đồng loại. Do vậy, điều mà con người cần tích lũy không phải là của cải trần gian mà là tình yêu đối với tha nhân. Điều mà con người thu gom không phải là hàng hoá xa sỉ phẩm mà là từng nghĩa cử cao đẹp chúng ta dành cho đồng loại.
Kẻ có chức có quyền càng bị kết án nặng hơn nếu họ không biết dùng địa vị của mình để phục vụ một cách vô vị lợi. Chính họ không những phải trả lẽ trước mặt Chúa về sự ích kỷ của mình, mà còn mất đi cơ hội mua lấy bạn hữu Nước Trời bằng tấm lòng rộng lượng của mình.
Mỗi người chúng ta chỉ là những quản lý của Chúa, hãy biết đón nhận trong sự khiêm tốn và biết trao ban cho anh em theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta có, đều nhận lãnh do lòng quảng đại của Chúa. Do đó, những gì chúng ta cho, không phải chúng ta cho của riêng mình, nhưng là giao lại cho người khác những gì thuộc về Chúa. Dù vậy Chúa vẫn thưởng công cho chúng ta. Vì Chúa đã từng nói: "Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu." Amen.

Nghe Thánh lễ Chúa Nhật XXXII Thường Niên B

tại Giáo xứ Hà đông, hạt Xóm Mới, Sài Gòn


Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

TÌNH GÓA (Chúa nhật XXXII TN B)




Phải thú nhận rằng có hậu ý khi đặt tựa đề cho bài viết là “tình góa”. Dĩ nhiên ít nhiều cũng có ngụ ý “tiếp thị”. Đã là góa bụa mà còn tình tứ gì nữa! Đã nói đến tình thì ít ai nói đến cảnh góa bụa. Sự đời, người ta thường tránh những điều xúi quẩy. Thế nhưng nhiều hình ảnh người góa bụa lại được Thánh Kinh không chỉ tô hồng mà còn xác nhận là một trong những đối tượng được Thiên Chúa ưu ái và bảo vệ cách đặc biệt bằng những luật lệ cụ thể trong Cựu Ước (x.Xh 22,21; Ed 22,7). Đến thời Tân Ước, chính Chúa Giêsu cũng đã ưu ái bà góa thành Naim có đứa con trai duy nhất bị chết, nên dù không được khẩn xin, Người vẫn ra tay uy quyền cho cậu ta sống lại (x.Lc 7,11-17).

Trong ba bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật XXXII TN B thì bài đọc thứ nhất trích sách các Vua và bài Tin mừng tường thuật và ca tụng nghĩa cử cao đẹp của bà góa thành Xarépta và bà góa tại Giêrusalem. Cả hai đều là những bà góa nghèo nhưng sẵn sàng hiến dâng “phần nuôi sống” mình, cũng là chính sự sống của mình cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Thầm hiểu ngụ ý của Hội Thánh khi cho trích đọc các bài Thánh Kinh trong Chúa nhật này, chúng ta cùng xét suy đôi điều qua cái tâm, cái lòng và cuộc sống của người góa bụa.

1.Một mối tình thủy chung: Trước hết cần phân biệt người góa bụa với các bà mẹ đơn thân. Hẳn nhiên có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan hình thành tình trạng hay kiểu sống của những bà mẹ đơn thân. Chúng ta không thể tiên thiên “đánh giá - xếp hạng” cho tình trạng sống này vì hình như mỗi hoàn cảnh đều mỗi vẻ khác nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế nhưng phải nhìn nhận rằng đây là tình trạng “không bình thường” theo lẽ tự nhiên mặc dù đã từng có khi, có nơi trở thành một phong trào, một kiểu cách chọn lựa của nhiều phụ nữ thời hiện đại. Trái lại tình cảnh của người góa bụa dù là đàn ông hay đàn bà là chuyện thường tình của kiếp nhân sinh. Đã thề non hẹn biển trong duyên vợ chồng thì luôn mong được song hành cho đến khi đầu bạc răng long. Mong thì vẫn mong, nhưng được chết cùng ngày là điều thật hy hữu. Chuyện tái giá hay đi bước nữa khi người phối ngẫu đã qua đời là chuyện chẳng có gì sai trái, dù phía nữ giới có thể bị dị nghị cách nào đó, đặc biệt trong nhiều xã hội trước đây vốn đề cao đạo “tam tòng – tứ đức”. Dù xưa hay nay thì người ta vẫn trân trọng những mẫu đời “thờ chồng, nuôi con” hoặc tín trung với người bạn quá cố mà nguyện làm cảnh gà trống nuôi con. Chúng ta đừng quên đây là một trong những tiêu chí để chọn người vào hàng Giám Quản hay bậc trợ tá của Giáo Hội thời sơ khai (x.1Tim 3,1-13).

Thủy chung với người bạn đời đang còn sống quả là một nỗ lực bền bỉ không chỉ trong tình yêu mà cả trong sự tiết chế. Chuyện “chả - nem” không riêng gì là chuyện của thời hôm nay mà đã có từ xưa, chỉ khác một điều là mức độ phổ biến, cho dù ai cũng thấy sự sai trái của nó và những hậu quả xấu xa mà nó di hại cho gia đình, cho con cái và cho cả xã hội. Chính vì thế, việc chung thủy với người bạn đời đã khuất càng được trân trọng gấp bội khi tự nguyện từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình vì yêu thương và muốn tín trung trọn vẹn với chỉ một người.

2.Một tình yêu trao hiến đến cùng: Các nhà tâm lý cũng như các nhà đạo đức vốn đồng thuận với nhau về khái niệm yêu thương là một quá trình trao ban và đón nhận nhau. Yêu thương cách đích thực là tự nguyện trao ban điều tốt, điều tốt nhất của mình cho người mình yêu cách vô điều kiện và không tính toán, đồng thời cũng sẵn sàng đón nhận người mình yêu với tất những gì người ấy “là và có” một cách quảng đại, không so đo. Người ta thấy rõ hai động thái này trong đời hôn nhân. Đức Bênêđíctô XVI đã gọi đó là Eros và Agapê, hai chiều kích của tình yêu này xem ra phản ánh Tình Yêu Thiên Chúa cách rõ nét nhất (TĐ Thiên Chúa là Tình Yêu số 2). Với thời gian, qua các hình thức “mại dâm thánh” cùng với sự ích kỷ hưởng thụ của con người theo sự cám dỗ thần dữ thì chiều kích Eros (đón nhận) đã bị biến dạng, tha hóa. Từ đó chiều kích trao hiến (Agapê) đóng vai trò chủ yếu trong việc biểu lộ tình yêu đích thực.

Với người góa bụa thì cái chiều kích đón nhận xem ra vẫn còn đó qua người con. Nhưng nó sẽ vơi dần theo thời gian khi đứa con đến lúc phải lìa cha mẹ mà luyến ái với người bạn đời (x.Mc 10,7). Cuộc đời của người góa bụa là một chuỗi trao ban, hiến dâng không ngơi nghỉ và ngày càng đến cùng. Chỉ còn chút bột và chút dầu để ăn bữa cuối cùng với đứa con, thế mà bà góa thành Xarépta đã không ngại ngần dâng trao cho ngôn sứ Êlia (x.1 V 17,7-16). Chúa Giêsu đã ngợi khen lòng quảng đại của một bà góa tại đền thờ Giêrusalem khi đã không ngại ngần dâng cúng vào Đền Thờ “ tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân bà” ( Mc 12,44; Lc 21,4 ).

3. Một tâm hồn nghèo khó thực sự: Lời tung hô tin mừng trong Chúa Nhật này, Giáo Hội cho trích câu tin mừng của thánh Matthêu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người góa bụa là một trong những người nghèo của Thiên Chúa, được Người ưu ái chăm sóc và bảo vệ. Xin đừng quên số người góa bụa trong các xã hội trước đây thì phụ nữ chiếm tuyệt đại đa số. Vì thế khi nói đến người góa bụa là người ta nghĩ ngay đến các bà góa. Một mình nuôi con mà bôn ba cuộc sống thì khó bì được với người ta vẹn đủa cả đôi, nhất là khi sinh kế thời bấy giờ dựa vào sức lao động của cơ bắp là chủ yếu. Do dó người ta không lạ gì khi hạn từ “góa” thường đi đôi với hạn từ “nghèo”. Những người góa bụa, cách riêng các phụ nữ góa chồng không chỉ nghèo về vật chất, của cải, bạc tiền mà họ còn nghèo khó cả về mặt tinh thần. Ngay cả trong thời kỳ gọi là hoàng kim của Giáo hội là thời Giáo hội sơ khai, khi mà những người trong tôn giáo mới này “không ai lấy sự gì làm của riêng, mọi sự đều là của chung” (x.Cvtđ 2,44; 4,32) thế mà các bà góa vẫn đã từng bị đối xử thiếu công bằng, bị bỏ quên (x.Cvtđ  6,1).

Hồng ân Nước Trời là một ân ban trọng đại và nhưng không của Thiên Chúa. Không một ai có thể tự mình chiếm hữu ân ban ấy dựa vào khả năng và công trạng của mình. Chúa Giêsu đã mặc nhiên nói đến chân lý này khi khẳng định rằng người giàu có khó vào Nước Trời, khó hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim. Những gì mà người giàu  cho rằng có thể mua được bằng tiền bạc thì chắc chắn không phải là Nước Trời (x.Lc 18,24-27). Một tâm hồn nghèo khó thực sự thì sẽ có được sự tự do với các thực tại đời này để rồi biết gắn bó mật thiết với Thiên Chúa trong niềm tin. Và họ đã biết mở lòng để đón nhận Nước Trời như là ân ban.

Qua một vài nghĩ suy về “tình góa”, không gì hơn, chỉ thầm mong số phận những người góa bụa được xã hội cũng như Giáo hội quan tâm chăm sóc bằng sự trân trọng như những người nghèo của Thiên Chúa, những con người rực sáng trong tình yêu thủy chung, tình yêu dâng hiến đến cùng.  Có thể nói không sợ sai lầm rằng cuộc đời của nhiều người góa bụa là một dẫn chứng cụ thể, giúp chúng ta biết thế nào là yêu, thế nào là tin.



Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

CHÚA NHẬT 32 TN B - 2015

Mc 12, 38-44
Một hôm Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
Ðức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Ðền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma. Ðức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”.


Có một cặp vợ chồng trở về quê thăm họ hàng. Họ xuống xe, đi bộ được một quãng thì trời đổ mưa tầm tã. Đêm đã khuya mà họ thì lại không quen thuộc đường thôn quê với nhiều thay đổi. Không còn cách nào hơn, họ phải gõ cửa một căn nhà có ánh đèn hắt ra để tìm chỗ trọ cho qua đêm . Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà đã lớn tuổi. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng.
Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ đặt một trăm ngàn lên bàn, rồi cả hai rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất.
Trong cuộc sống ngày hôm nay vẫn còn đó những hình ảnh hết sức dễ thương như thế. Còn trong các bản văn kinh thánh Chúa nhật 32 TN hôm nay, Phụng vụ Giáo Hội cho chúng ta hình ảnh nào?
Trong bài đọc trích sách các Vua quyển thứ nhất , Bà goá ở Sarepta rất nghèo khó, nhưng bà lại có tấm lòng hào hiệp và quá rộng lượng. Bà không còn gì ngoài một chút bột và một chút dầu đủ cho một bữa ăn đạm bạc cuối cùng, để rồi có thể ngay sau đó cả hai mẹ con cùng chết. Thế mà bà đã sẵn lòng nhường cho ngôn sứ Êlia chiếc bánh nhỏ bé nhưng vô cùng quý giá ấy. Cử chỉ quảng đại của bà đã gặp được lòng quảng đại của Thiên Chúa: Trong suốt cơn hạn hán, bột trong hũ nhà bà đã không bao giờ cạn và dầu trong bình không bao giờ vơi. Còn bà goá trong trang Tin Mừng cũng thế. Bà nghèo tiền của, nghèo vật chất, nhưng bà giàu lòng quảng đại. Chính lòng quảng đại giữa cảnh túng thiếu đó, trước mặt Thiên Chúa, có giá trị hơn cả vàng bạc của những kẻ dư giả giầu có.
Thánh sử Macco bằng giọng văn và cây bút tài tình của mình, ông đã vẽ lên hình ảnh một Giêsu nhân từ ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ. Ông thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất và nghèo nhất. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên Ngài nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.
Chúa Giêsu sau đó đã cho các đồ đệ của mình một giáo huấn thật hữu ích. Ngài đã không chú trọng đến giá trị kinh tế của hai đồng tiền nhỏ mà bà goá đã bỏ vào thùng tiền. Chúng không là gì cả bên cạnh những đồng tiền lớn của những kẻ giàu sang. Nhưng Ngài đã chú trọng tới tấm lòng của bà, đến giá trị chủ quan của hai đồng tiền nhỏ đối với tình cảnh nghèo túng của bà. Ngài nhấn mạnh đến cách âm thầm khiêm tốn bà dâng tiền cho đền thờ. Ngài không quan tâm đến của dâng cho bằng cách dâng và tấm lòng của người dâng. Bởi vì chính tấm lòng chúng ta mới định đoạt giá trị của những việc chúng ta làm.
Trở lại thực tế cuộc sống sau cơn bão Sơn Tinh NĂM 2012 ở một số tỉnh miền bắc. Thiệt hại rất lớn vì cơn bão có sức gió lên đến cấp 15. Thành phố Hà Nội đã phát động tinh thần cứu trợ, họ đã đóng góp hơn 10 tỷ đồng. Có những em bé nhịn ăn quà sáng, những cô cậu học sinh đập con heo đất đã dành dụm để chia sẻ với những nỗi đau thương của đồng bào ruột thịt. Đó là những người đã đóng góp nhiều hơn hết, vì đó là những tấm lòng vàng hơn là những đồng tiền vàng.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay rất dễ để chúng ta nhận thấy một điều rằng: giống như bà góa thành Sarepta trong bài đọc thứ nhất, giống như bà góa nghèo trong trang TM, đôi vợ chồng già trong câu chuyện, các em học sinh quảng đại cứu trợ đồng bào bão lũ, họ là những người đã không phải cho đi phần thừa thãi, mà họ đã cho đi chính nguồn sống ít ỏi của mình. Họ cho đi một cách quảng đại, vui vẻ và tất cả tấm chân tình của họ.
Chúa Giêsu đã dạy: Đừng để cho tay trái biết việc tay phải làm. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận giá trị thực tiễn của lễ vật hay tặng phẩm. Giá trị kinh tế cũng đáng kể nhưng chưa phải là điểm chính. Nếu được thì của nhiều, lòng nhiều là điều tốt nhất. Còn nếu không được như thế, hoàn cảnh đòi phải chọn lựa, thì của ít lòng nhiều vẫn là điều quý giá hơn. Thực ra khi lòng đã nhiều thì người ta không ngần ngại hiến dâng tối đa những gì mình có. Lòng người đi trước, tiền của theo sau.
Gương mẫu của Chúa Giêsu là tuôn đổ tình yêu quảng đại dành cho chúng ta mà Ngài đã ban cho chúng ta ở trên thánh giá, Ngài đã vươn mình ra thu góp hết mọi người trong hố sâu tội lỗi, để kéo chúng ta đến với Ngài. Không một người nào trong chúng ta là không có ý nghĩa đối với Ngài, giống như đồng xu nhỏ không có giá trị bao nhiêu của bà góa, Ngài đã đánh giá nó rất cao. Tất cả chúng ta đều hết sức quý giá trong đôi mắt của Ngài.
Mỗi Chúa nhật hàng tuần, khi chúng ta quảng đại hy sinh công việc, hy sinh thời gian đến tham dự Thánh Lễ, chúng ta sẽ cảm nghiệm được Chúa Giêsu trong Thánh Thể thế nào. Ngài đã nuôi dưỡng chúng ta bằng Thịt và Máu Ngài. Bí tích Thánh Thể là một món quà lớn lao và vĩ đại hơn món quà được ban cho bà góa ở thành Sarépta. Chính món quà bí tích Thánh Thể mà chút nữa đây chúng ta lãnh nhận, sẽ là động cơ thúc đẩy và thêm sức mạnh cho chúng ta, để trong cuộc sống hôm nay tại mảnh đất Mân Côi thân yêu này, chúng ta có thể bắt đầu thực hiện theo gương của hai bà góa, theo gương hai vợ chồng già nhường căn phòng cho khách trọ, và theo gương các em nhỏ hy sinh cứu trợ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình.
Hãy cứ cho đi một cách quảng đại, chắc chắn Chúa sẽ không bao giờ chịu thua trước sự rộng rãi của chúng ta. Bởi vì, khi tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó. Khi tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương. Khi tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả sa mạc. Và khi tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả thịt máu Ngài. Amen

Chúa Nhật 32 Thường Niên, năm B

Bà Bỏ Vào Đó Tất Cả Tài Sản Mình Có

Mc 12, 38-44
Một hôm Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
Ðức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Ðền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma. Ðức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”.

Bài tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta hành động chống lại ước muốn “phô trương” luôn cám dỗ mọi người. Thời Chúa Giêsu các kinh sư bị phê phán vì thói đạo đức giả của họ: họ thích mặc áo thụng đi dạo trước tiền đường đền thờ cho người ta chú ý, họ khoe khoang kiến thức của mình, được học lề luật Mô sê, được nắm quyền chú giải bản văn Kinh Thánh và rao giảng. Nhưng họ lại không thực hành những gì họ dạy. Họ nói mà không làm. Chúa Giêsu cũng quan sát những người giàu dốc cạn những bao tiền vào trong hòm dâng cúng. Thỉnh thoảng các thầy tư tế còn cho thổi kèn nhằm lôi kéo mọi người chú ý đến họ.
Vì thế, lời Chúa hôm nay rất cương quyết và mạnh mẽ. Thật ra đó là câu trả lời cho áp lực mà Ngài phải chịu đựng bấy lâu nay. Ngài biết rõ các kinh sư ganh tị với uy tín của Ngài. Sự ganh tị dẫn đến thù hằn và phát sinh trong lòng ý muốn giết hại Ngài. Nhưng dưới mắt Ngài, điều tệ hại nhất ở chỗ khác: “Họ nuốt tài sản của các bà góa”. Họ lợi dụng chức vụ của mình mà làm giàu trên xương máu của người nghèo. Họ làm bộ cầu nguyện lâu giờ nhưng lời cầu nguyện của họ thật giả dối vì nó không đưa họ đến gần Thiên Chúa, và như thế, họ tự loại mình ra khỏi ơn Cứu độ mà Chúa Giêsu đã mang đến cho thế gian.
Chúng ta có thể dừng lại để xét mình xem chúng ta có bị chiều theo cơn cám dỗ khoe khoang ấy không, nhiều khi ẩn khuất trong tiềm thức mà chúng ta không để ý. Một thực tế mà ai cũng thấy là thời nào cũng có những kẻ giả hình. Quá lo lắng cho hình thức bề ngoài sẽ không còn thời giờ để quan tâm đến lòng đạo đức đích thực bên trong. Thế giới ngày nay lại chuộng sự nổi tiếng. Người ta muốn xuất hiện khác hơn cái họ là. Có những lời khen tặng giả dối bởi vì nó không phản ảnh đúng những gì chúng ta nghĩ.
Nhưng sự giả hình đáng ghét nhất không phải là khoác chiếc áo để nổi tiếng hay hay để phô trương. Điều mà Chúa Giêsu tố cáo, đó là những lời nói không đi đôi với việc mình làm. Khuyên bảo người khác thì luôn luôn dễ, nhưng nếu chúng ta không làm gương tốt thì đó lại là một phản chứng. Người ta thích nói đến những việc tốt nhưng không bao giờ thực hiện, còn những hành động xấu thì lại làm nhưng không nói ra.
Vì thế, Chúa Giêsu đưa ra một thí dụ từ sinh hoạt Ngài quan sát được trong khuôn viên đền thờ, ngay trước mặt hòm tiền dâng cúng. Trong đám đông khác hành hương lũ lượt tiến vào đền thờ, một bà góa nghèo đi đến hòm tiền. Bà bỏ vào đó hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để sống. Chúng ta không biết gì về cuộc đời bà góa nầy, niềm vui cũng như nỗi buồn, cả những khó khăn bà đã vượt thắng. Vào thời đó, các bà góa được xếp vào hàng những người nghèo nhất. Không có tiền trợ cấp và nhà ở. Thường thì họ phải đi ăn xin. Sự khác biệt chính yếu giữa hai đồng xu ten của bà góa và lễ vật của những người khác không phải là giá trị bao nhiêu nhưng là ý nghĩa của việc dâng hiến. Dù nghèo xơ xác, nhưng bà quảng đại dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì cần để sống.
Khi thánh Mác cô viết tin mừng, đền thờ không còn hiện hữu nữa, vì đã bị người La mã tàn phá. Nhưng qua câu chuyện nầy, thánh nhân muốn nhắc chúng ta lời dạy của Chúa Giêsu là đừng bao giờ dựa hình thức diện mạo bên ngoài mà phán đoán anh em mình. Khi làm điều thiện, đừng phô trương, vì Cha anh em trên trời nhìn thấy điều bí nhiệm, và như thế là đủ rồi.
Lời tin mừng hôm nay cũng mời gọi chúng ta. Con người thời nào cũng thích phô trương, nhưng thời nay sự phô trương trở thành chuẩn mực do lường cuộc sống. Ai khoe khoang nhiều, người ấy có nhiều cơ may thành công. Những gì người ta làm đều muốn cho mọi người biết. Bà góa trong tin mừng giống với những người đơn sơ mà chúng ta sống gần nhưng không thấy. Họ không ồn ào, nhưng dấn thân một cách kín đáo. Cách sống ấy dạy chúng ta đừng để mình bị lôi kéo chay theo khuynh hướng phô trương và quí chuộng những hành vi phục vụ đơn sơ, giúp đỡ và đồng hành. Điều quan trọng nhất không phải là cho những gì chúng ta có mà là những gì chúng ta là.
Để hiểu điều đó, chúng ta phải nhìn lên thập giá Đức Ki tô. Thập giá chỉ cho chúng ta thấy Ngài đang hiến dâng cuộc sống mình cho thế gian. “Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng mìnhvì bạn hữu”. Cuộc sống của Ngài là quà tặng tuyệt hảo dâng lên Thiên Chúa Cha. Ngày hôm nay, Ngài được nhận ra trong người đàn bà khiêm nhu vô danh nhưng được lịch sử ngàn đời ghi nhớ.
Bài Tin Mừng hôm ay mời gọi chúng ta tập sống dưới cái nhìn của Thiên Chúa chứ không phải dưới cái nhìn của con người. Nó cũng mời gọi chúng ta đừng đo lường giá trị của người đời theo cái diện mạo của họ. Chính Ngài được nhận diện trong những người không nổi tiếng dưới mắt xã hội. Ngài mời gọi chúng ta hãy xem xét lại cuộc sống dâng hiến của chúng ta: điều tiên quyết không phải là số lượng những gì chúng ta cho mà là sự từ bỏ thật sự những gì mà chúng ta gắn bó nhất. Khi cho, thỉnh thoảng người ta có cảm giác mất, đánh mất mình, nhưng cho chính là đạt được cuộc sống trường sinh.
Phục vụ Lời ĐCV Xuân Lộc

BÀI HỌC KHÓ QUÊN TỪ MỘT CHIẾC CỐC VỠ TẠI CĂN TRỌ


Một thanh niên vì muốn tìm hiểu nước Đức, nên một mình đến nước Đức thuê chung cư ở. Chủ nhà là một ông lão hòa ái, dễ gần; sau khi xem phòng, anh thấy rất hài lòng, liền muốn ký hợp đồng thuê dài hạn với ông chủ.
Ông chủ cười nói: “Không! Chàng thanh niên, anh chưa từng ở đây, còn chưa biết chỗ này tốt hay không, chúng ta nên ký hợp đồng ở thử, sau khi có những trải nghiệm thực tế, khi ấy sẽ cân nhắc có nên thuê dài hạn không.”
Anh nghe xong thấy có lý, cuối cùng đồng ý ký hợp đồng 5 ngày với ông lão. Gian phòng rất ấm áp, ông lão cũng rất tin tưởng anh, nên không hề đến kiểm tra đồ đạc. Ngoài ra, rác thải không cần đem xuống phía dưới, đặt ở cửa ra vào sẽ có công nhân vệ sinh đến lấy theo lịch, cả hành lang sạch sẽ đến mức không có một hạt bụi.
Hạn 5 ngày đã đến, anh muốn thảo luận với ông lão để có thể thuê dài hạn, thì xảy ra một chuyện ngoài ý muốn, anh bất cẩn làm vỡ một ly thủy tinh. Anh rất khẩn trương, cảm giác thấy cái ly này giá trị xa xỉ, e rằng làm vỡ ly thủy tinh, ông lão sẽ không cho anh tiếp tục thuê phòng.
Nhưng khi anh gọi điện nói cho ông lão, ông lão nói: “Không sao, anh không phải cố ý mà, cái ly thủy tinh đó rất rẻ.” Anh rất vui mừng và hy vọng ông lão sẽ đến ký hợp đồng dài hạn, ông lão đồng ý, rồi cúp điện thoại.
Anh nhanh tay quét dọn những mảnh vỡ thủy tinh và rác cho vào một cái bao, đặt ở bên ngoài. Một lát sau, ông lão đến, không đợi anh mở lời, ông lão nói: “Những mảnh vỡ thủy tinh kia đâu rồi?”
Anh trả lời: “Tôi đã thu dọn xong và để ngoài cửa đó.” Ông lão mở bao rác ra xem, sắc mặt không vui liền đi vào phòng và nói: “Ngày mai anh có thể chuyển đi, ta không cho anh thuê phòng nữa.”
Anh không thể tưởng tượng nổi, liền hỏi: “Có phải tôi đã làm vỡ cái ly mà ông yêu thích khiến ông phật ý chăng?”
Ông lão nói: “Không phải! Lý do là vì trong tâm anh không nghĩ cho người khác.”
Anh bị nói đến ngẩn ngơ không hiểu, đúng lúc này, liền thấy ông lão cầm một cây bút cùng một cái bao khác, mang theo cây chổi cùng một cái kẹp, đi ra bên ngoài, ông đổ hết rác trong bao kia ra, phân loại một lần nữa.
Ông lão chọn lựa rất cẩn thận, qua một hồi lâu, đem tất cả mảnh vở thủy tinh chứa vào một bao, lấy bút viết lên: “Bên trong là mảnh vở thủy tinh, nguy hiểm!” Sau đó, mới đổ các loại rác khác vào một cái bao khác, viết lên: “An toàn”.
Anh ở bên cạnh đứng nhìn, từ đầu đến cuối, trong lòng hết sức kính nể, không biết nói gì nữa. Vài năm về sau, anh vẫn không ngừng nhắc lại chuyện này, mỗi lần đều liên tục cảm thán.


05/11/2015 Thứ Năm Tuần XXXI Mùa Thường Niên Năm lẻ


PHÚC ÂM: Lc 15, 1-10
"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: 'Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!' Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.
"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Hai dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay rất đơn sơ, nhưng mang đầy ý nghĩa. Vai chính là người chăn chiên và người phụ nữ. Những người chăn chiên thời Chúa Giêsu thường bị khinh miệt, vì họ là những người nghèo nàn, ít học, bị nghi ngờ gian lận, và vì phải luôn sống với đàn chiên ngoài đồng, nên họ không thể giữ luật ngày Hưu lễ cũng như không thể tham dự các giờ kinh trong Hội đường. Còn các phụ nữ là những công nhân hạng hai, theo tâm thức của Việt Nam ngày xưa: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", nhưng họ được Chúa Giêsu dùng làm hình ảnh để so sánh với chính Thiên Chúa.
Giá trị của những vật bị mất: một con chiên không có giá trị là bao so với đàn chiên; một đồng bạc cũng thế so với số còn lại; nhưng đối với người chăn chiên và người phụ nữ trong dụ ngôn, con chiên và đồng bạc có giá trị đặc biệt. Mỗi người chúng ta cũng thế, dù là những kẻ vô danh, một con số trong bảng thống kê nhưng lại có giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa.
Công khó đi tìm: không quản khó nhọc, không sợ nguy hiểm, người chăn chiên đã lặn lội đi tìm con chiên lạc; người phụ nữ cũng thế, đã thắp đèn quét dọn cho đến khi tìm được đồng bạc đã mất. Thiên Chúa cũng đối xử với các tội nhân như thế.
Niềm vui tìm được những vật đã mất: trên trời sẽ vui mừng và các thiên thần Chúa sẽ nhảy mừng, tượng trưng cho chính Thiên Chúa: Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân ăn năn hối cải.
Chúng ta hãy cảm tạ Chúa đã cho chúng ta được hiểu thêm lòng thương xót vô biên của Chúa. Xin cho chúng ta mau mắn chỗi dậy mỗi lần sa ngã, với niềm xác tín vào lòng nhân hậu vô bờ của Chúa luôn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài.AMEN.