Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

09/06/2015 Thứ Ba Tuần X Mùa Thường Niên Năm B


PHÚC ÂM: Mt 5, 13-16

"Các con là sự sáng thế gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn xử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó. Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời". Đó là lời Chúa.

CHIA SẺ:
Lời Chúa hôm nay nói với tôi về sự thành thật trong đời sống. Sự thành thật này phát xuất từ Đức Kitô như thánh Phaolô diễn tả: “Con Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng mà tôi, Silvanô và Timôthê đã rao giảng nơi anh em, Người không phải vừa "Có" lại vừa "Không"; trái lại, nơi Người chỉ là "Có" mà thôi”; nghĩa là Ngài luôn trung tín với những gì Ngài đã hứa. Chính Chúa Giêsu cũng đã phán dạy: “Thầy là Đường là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14,6). Do đó, tôi phải tin tưởng nơi Thiên Chúa dù phải gặp nhiều gian lao trong đời sống đạo.

Mỗi Kitô hữu được mời gọi nên muối nên ánh sáng cho trần gian. Để thực hiện vai trò là muối và ánh sáng trong xã hội hôm nay; đòi hỏi người ta phải tin vào Chúa là Sự thật và phải biết làm chứng cho sự thật. Có thì nói có, không thì nói không; thêm thắt điều gì là do ma quỷ mà ra. Khi sống và làm chứng cho sự thật chắc chắn “thiên hạ sẽ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.

Lạy Chúa, nhiều khi chúng con làm thinh, lấp liếm cho qua chuyện chứ chưa dám can đảm làm chứng cho sự thật. Xin Chúa dạy chúng con biết luôn noi gương Chúa để can đảm hơn nữa khi đi theo và làm chứng cho sự thật là chính Chúa. Amen.

08/06/2015 Thứ Hai Tuần X Mùa Thường Niên Năm B



PHÚC ÂM: Mt 5, 1-12
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp. - Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. - Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. - Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. - Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Lời Chúa hôm nay nói với tôi về sự đau khổ và việc Thiên Chúa an ủi những ai khổ đau. Thật vậy, qua lời Thánh Phaolô tôi thấy Thiên Chúa là “Cha nhân từ cùng là Thiên Chúa mọi niềm an ủi, là Ðấng an ủi chúng tôi trong mọi nỗi gian truân”. Và trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu chỉ ra cho con người con đường để được hạnh phúc. Tám mối phúc này đều mời gọi người ta trốn tránh đau khổ, nhưng qua đau khổ để đạt tới niềm an ủi: “Nếu anh em thông phần vào các nỗi đau khổ, thì anh em cũng sẽ thông phần vào niềm an ủi”. Chính Chúa Giêsu cũng mang lấy đau khổ của cả nhân loại, và Ngài đã qua đau khổ để đạt tới vinh quang.


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
"Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời. Người ta cũng đã từng bắt bớ các tiên tri trước các con như vậy". Đó là lời Chúa.
Sống ở đời ai cũng sợ khổ đau, nhưng đau khổ lại là thực tế của cuộc sống. Chỉ khi nào chấp nhận đau khổ trong ánh sáng của những khổ đau của Chúa, ta mới tìm ra được con đường hạnh phúc vô biên.
Lạy Chúa Giêsu chịu khổ nạn vì chúng con, xin dạy chúng con biết chấp nhận những đau khổ đời mình để hiệp với những khổ đau của Chúa, chúng con cũng đạt tới vinh quang muôn đời. Amen.

07/06/2015 Chúa Nhật Mùa Thường Niên Năm B

Lễ Mình Máu Chúa
PHÚC ÂM: Mc 14, 12-16. 22-26


CHIA SẺ :
Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bối cảnh của lễ Vượt Qua của người Do Thái, một đại lễ lớn nhất của dân tộc. Đại lễ này tưởng niệm lại hành động can thiệp đầy quyền năng của Thiên Chúa, trong việc dẫn dắt dân Người thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập. Bữa ăn Vượt Qua là một nghi lễ long trọng. Bữa ăn tưởng niệm lại một việc trong quá khứ, và đang khi cử hành việc tưởng niệm đó thì quyền năng của Thiên Chúa lại được tái hiện.
Chúa Giêsu nói: “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể thì quyền năng và tình yêu của Chúa Giêsu lại được tái hiện. Nhưng không chỉ như thế, chính Chúa Giêsu lại hiện diện thật sự ở giữa chúng ta.
Trong khi đó, nhiều người Công giáo lại không ý thức đủ. Họ đi tham dự thánh lễ mà lại đến trễ, về sớm. Vài người lại nói chuyện với nhau hay chỉ nhìn ngắm kẻ khác. Nhiều người vào trong nhà thờ mà không tỏ sự tôn kính Chúa Giêsu Thánh Thể đang hiện diện trong Nhà Tạm. Nhiều người không rước lễ và hầu như không còn để ý đến việc đó nữa. Nhiều người ăn vận trang phục bất xứng, thứ trang phục mà họ không dám mặc khi đến thăm một người bạn. Trong khi xếp hàng lên rước Mình Thánh Chúa Giêsu, một số người thay vì tập trung vào việc chuẩn bị đón Chúa ngự vào tâm hồn mình thì lại đưa mắt nhìn quanh khắp cả nhà thờ.
Tại sao lại xảy ra tình trạng đáng buồn như vậy? Thật là tốt đẹp khi Giáo hội khuyến khích các tín hữu thường xuyên rước lễ và tạo điều kiện dễ dàng cho việc này. Nhưng cũng vì thế mà xảy ra tình trạng người giáo dân ơ hờ, trễ nải đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Cũng có một số tín hữu chịu ảnh hưởng của Tin lành cho rằng Bánh Thánh chỉ là biểu tượng của Chúa Giêsu mà thôi. Nhưng Chúa Giêsu không nói: “Đây là biểu tượng của Mình Thầy”. Chúa nói cách rõ ràng: “Đây là Mình Thầy”.
Ước gì đại lễ kính Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô hôm nay giúp mọi tín hữu Công giáo ý thức hơn về sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Ước gì ngày lễ hôm nay canh tân tâm tình biết ơn của chúng ta đối với quà tặng vô giá, mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta là chính Thịt Máu Chúa. Càng ý thức hơn về sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta càng có thêm sức mạnh để tiến bước trên hành trình đức tin của mình.
-Lạy Chúa Giê-su, con cám ơn Chúa đã thương cho con có được mối tương quan tình bạn thân tình với Chúa. Xin cho con luôn biết tìm đến và tìm về điểm hẹn Tình yêu Thánh Thể, nơi Chúa hằng chờ đợi con. Amen.




Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

THỨ BẢY 06.06 - Tuần IX Thường Niên

Tb 12:1.5-15.20; Mc 12:38-44

38 Trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói rằng: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng.39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn."41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền.42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma.43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đa bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.44 Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình." 

TẤM LÒNG 

Khi làm tổ trong rừng, chim sẻ chỉ dành một nhánh cây. Khi uống nước dưới sông, nai rừng chỉ uống no một bụng. Chúng ta tích góp đồ này vật nọ chỉ vì tâm hồn chúng ta rỗng tuếch. 

Đối với Chúa, tấm lòng cao trọng hơn của lễ. Đức Giêsu nhìn thấy nhiều người dâng cúng trong đền thờ, kẻ nhiều người ít. Nhưng Người lên tiếng khen ngợi bà goá nghèo, tuy bà dâng cúng ít, nhưng lại có giá trị trước mặt Chúa. Bởi vì, giá trị của việc dâng cúng không tuỳ thuộc số lượng của cải dâng cúng, nhưng tuỳ thuộc vào tấm lòng chân thành và một sự phó thác tuyệt đối trong tay Chúa. Người ta có thể cho đi vì hám danh, vì muốn được ca tụng, hoặc vì tiền dư bạc thừa. Còn bà goá này đã cho đi tất cả những gì bà có để sống. Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc và bỏ rơi chúng ta: ngay cả khi chúng ta phạm tội, Ngài vẫn chờ đợi và một mực xót thương. Chúa cần tấm lòng hơn là hình thức bên ngoài. 

Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương chúng con bằng một tình yêu không tính toán. Xin cho chúng con yêu mến Chúa thật lòng và xác tín rằng bàn tay quan phòng của Chúa đang làm những điều kỳ diệu cho chúng con. 

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần IX Thường Niên

06/6. Thứ Bảy đầu tháng. Thánh Norbertô, giám mục. Tb 12, 1-5.20; Mc 12,38-44
Bài Ðọc I: Tb 12, 1-5.20
Trong những ngày ấy, Tobia kêu con trai lại và hỏi rằng: "Chúng ta phải tặng cái gì cho người thánh thiện đi với con?"
Rồi cả hai cha con gọi thiên thần đến và đưa người ra chỗ riêng và xin người vui lòng nhận một nửa những gì đã mang về.
Bấy giờ người bảo nhỏ hai cha con rằng: "Các người hãy chúc tụng Chúa trời, và tuyên xưng Người trước mặt mọi sinh vật, vì người tỏ lòng từ bi đối với các người.
Bởi chưng, giữ kín sự bí mật của nhà vua là một việc tốt, nhưng công bố và tuyên xưng các kỳ công của Thiên Chúa là một vinh dự, cầu nguyện, ăn chay, bố thí, thì tốt hơn là cất giấu kho vàng, vì việc bố thí cứu khỏi chết, tẩy sạch tội lỗi, mang lại lòng từ bi và sự sống đời đời.
Còn những ai phạm tội và làm điều gian ác, thì là thù địch của linh hồn mình.
Vậy tôi tiết lộ cho các người biết sự thật, và không giữ kín câu chuyện bí mật với các người nữa: Khi ông than khóc cầu nguyện, chôn xác kẻ chết, bỏ cơm trưa, và ban ngày giấu xác chết trong nhà, rồi ban đêm mang đi chôn, chính tôi đã dâng lời nguyện của ông lên cùng Chúa.
Và vì ông đã được đẹp lòng Chúa, nên cần phải có thử thách để thanh luyện ông.
Nay Chúa sai tôi đến để chữa ông và cứu Sara con dâu của ông khỏi ma quỷ.
Vì tôi là thiên thần Raphael, một trong bảy thiên thần chầu chực trước mặt Chúa.
Vậy đã đến lúc tôi phải trở về cùng Ðấng đã sai tôi; còn các người hãy chúc tụng Thiên Chúa và cao rao mọi việc kỳ diệu của Người".
Tin Mừng: Mc 12,38-44
Khi ấy, Chúa Giêsu nói cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn". Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bá goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống".
Suy niệm
Sau khi mọi sự đã hoàn tất tốt đẹp, Tôbia cha đã muốn trả công cho người bạn đồng hành với con mình vì họ không hề biết đó là thiên sứ Raphael. Thiên sứ đã nói sự thật cho cha con ông biết và mời gọi cha con ông: “Hãy chúc tụng Thiên Chúa và tuyên xưng Người trước toàn thể sinh linh”.
Không những dạy họ biết chúc tụng Thiên Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban, mà thiên sứ còn dạy họ “bố thi đi đôi với đời sống công chính, thì tốt hơn có của mà ở bất công; làm phúc bố thí thì đẹp hơn là tích trữ vàng bạc”.
Như vậy việc bố thí là việc đẹp lòng Chúa hơn muôn vàn lễ vật dâng lên Thiên Chúa.
Bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay là người thực hiện việc bố thí một cách tuyệt đối, vì không phải bà giàu có, dư thừa, mà bà bố thí đến đồng xu cuối cùng.
Không biết hậu quả cuộc đời của bà ra sao khi bà quyết định cho đi cả đồng xu cuối cùng? Chắc chắn một điều đây là hành động sau khi bà đã suy nghĩ kỹ càng, vì chỉ còn lại 2 đồng xu nên việc đắn đo, cân nhắc là điều đương nhiên. Và bà đã quyết định chấp nhận thiệt thòi khi cho đi tất cả.
Nhưng trước mặt Chúa, hành động của bà thật có giá trị, vì Thiên Chúa quan tâm đến tấm lòng chúng ta hơn là những lễ vật bên ngoài.
Trong cuộc sống thường ngày, con chưa biết quảng đại để cho đi, hoặc chỉ cho đi những thứ dư thừa. Việc bố thí chưa làm con phải tiếc nuối, xót xa, vì vậy giá trị của nó còn thấp kém.
Xin Chúa giúp con biết “cho thì có phúc hơn là nhận”, vì khi biết cho đi, con không còn nghĩ cho chính mình nữa, mà con biết hướng về người khác. Đó là điều Chúa Giêsu đã sống và muốn con cũng sống như vậy: Cho đi, cho đi và cho đi!


Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

06/06/2015 Thứ Bảy Tuần IX Mùa Thường Niên Năm B


PHÚC ÂM: Mc 12, 38-44
"Bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: "Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn". Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà góa nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: "Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống". Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ :
Câu chuyện bà góa gợi cho chúng ta vài suy niệm sau đây:
Một là các việc tầm thường có một giá trị phi thường, nếu chúng ta biết làm vì yêu mến Chúa. Ðời chúng ta phần lớn gồm những việc nhỏ mọn, chúng ta phải biết thánh hóa, biết làm cách khác thường, làm vì yêu mến. Bà Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu ở Lisieux là một gương mẫu. Bà đã tìm ra một con đường nên thánh mà Ðức Gioan Phaolô II gọi là "Con đường dựa trên thực tại Phúc Âm"; "Con đường nên thánh của thời đại" (Piô XI). Con đường thơ ấu ấy gồm trong hai yếu tố căn bản: Nhìn nhận sự yếu đuối của mình và hoàn toàn trông cậy phó thác; làm mọi việc bé nhỏ, chịu đau khổ vì yêu mến Chúa.
Hai là việc bà góa bỏ tiền vào đền thờ, chúng ta đi lễ cũng bỏ ít nhiều giúp vào công việc nhà Chúa. Trong Cựu ước, Chúa dạy các chi họ Israel phải để ra thập phân để lo việc phụng tự (Lv 27,30-32). Trong Tân ước, Thánh Phaolô nói: Người lo việc Chúa có quyền sống nhờ bàn thờ. Tuy Giáo hội từ đầu đã bãi bỏ tục lệ thập phân, những giáo dân đi dự lễ thường mang theo của lễ vật chất: có Thầy Phó Tế để lo việc phân phát chia sẻ. Khi số người quá đông, tục lệ biến thành dâng cúng ít tiền. Giáo hội là một tổ chức hữu hình, cần có nơi thờ phượng, đồ thờ và người trách nhiệm.
-Xin Chúa giúp con biết “cho thì có phúc hơn là nhận”, vì khi biết cho đi, con không còn nghĩ cho chính mình nữa, mà con biết hướng về người khác. Đó là điều Chúa Giêsu đã sống và muốn con cũng sống như vậy.AMEN.



GIAO ƯỚC MỚI TRONG MÁU CHÚA KITÔ

CHÚA NHẬT X MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B
LỄ TRỌNG KÍNH MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ
Xh 24,3-8; Dt 9,11-15; Mc 14,12-16.22-26
GIAO ƯỚC MỚI TRONG MÁU CHÚA KITÔ
“Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết” (Dt 9,14)

I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1: Xh 24,3-8
Sách Xuất Hành là quyển thứ hai trong bộ Ngũ Thư, tức 5 quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh (Sáng Thế - Xuất Hành - Lê-vi - Dân Số và Đệ Nhị Luật). Về nội dung, sách Xuất Hành ghi lại hai cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu độ: Cuộc Xuất Hành của dân Israel khỏi Ai-cập (chương 1-18), và việc Thiên Chúa thiết lập Giao Ước với họ tại Núi Sinai (chương 19-40). Đây là hai sự kiện nền tảng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chương trình của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại. Có thể nói được, phần lớn các sách còn lại của Kinh Thánh phản ánh sự tương tác, giải thích, ứng dụng, hay kiện toàn chương trình cứu độ của Thiên Chúa như đã được Người mặc khải trong sách Xuất Hành.
Xh 24,3-8 như thế thuộc về phần II của sách Xuất Hành, vốn tập trung vào việc trình bày Giao Ước Thiên Chúa ký kết với Dân Người tại Núi Sinai. Thật vậy, sách Xuất Hành cho chúng ta biết: Dân Israel đến Núi Sinai vào tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi đất Ai-cập (x. Xh 19,1-2). Đa số các học giả Thánh Kinh đồng ý với nhau rằng Núi Sinai còn có tên gọi khác là Núi Horeb, là “Núi của Đức Chúa”, nơi Thiên Chúa đã hiện ra với ông Môisen và trao cho ông sứ mạng dẫn dắt Dân Người ra khỏi Ai-cập (x. Xh 3-4). Khi trao sứ mạng cho ông Môisen, Thiên Chúa cho ông một bảo chứng: “Đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi: ‘Khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này’” (Xh 3,12). Việc dân Israel đến được Núi Sinai là dấu chỉ cho thấy bảo chứng này đã thành hiện thực.
Tại Núi Sinai, Thiên Chúa đã ban Mười Điều Răn cho dân Israel (x. Xh 20,1-22), diễn tả những bổn phận chính yếu của họ với Thiên Chúa (x. Xh 20,1-11) và giữa họ với nhau (x. Xh 20,12-17). Thiên Chúa cũng ban cho dân Israel Bộ Luật Giao Ước, vốn bàn đến nhiều vấn đề về tôn giáo, hình sự, xã hội và kinh tế (x. Xh 20,22 – 23,19). Đặt ngay sau Mười Điều Răn, Bộ Luật Giao Ước đóng chức năng cụ thể hóa cách thức dân Israel tuân giữ Mười Điều Răn trong đời sống thường nhật của họ.
Khi Mười Điều Răn và Bộ Luật Giao Ước đã được ban cho dân Israel, sách Xuất Hành ghi lại nghi thức Ký Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Người. Qua trung gian là ông Môisen, dân Israel nghe biết Luật Chúa, họ đã mau mắn thề hứa: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24,3); còn nữa “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 23,7). Tuy nhiên, câu chuyện về việc dân Israel thờ con bê vàng cho thấy mọi chuyện không dễ dàng như dân đã tưởng. Họ đã không tuân giữ những gì Chúa đã truyền, đặt tương quan Giao Ước giữa Thiên Chúa với họ vào tình trạng có nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn (x. Xh 32,1-35).
Trong nghi thức Ký Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Người có một chi tiết đáng lưu ý: Nửa số máu được ông Môisen rảy trên bàn thờ trước khi ông đọc Sách Luật Giao Ước cho họ nghe (x. Xh 24,6-7); nửa số máu còn lại được ông Môisen rảy trên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã thiết lập với anh em dựa trên những lời này” (Xh 24,8). Vốn là biểu tượng của sự sống, máu của vật được sát tế hàm ý: nếu dân Israel tuân giữ Giao Ước mà họ ký kết với Thiên Chúa thì họ sẽ được sống; ngược lại, nếu họ bất tuân Luật Chúa, họ sẽ phải chết.
2. Bài đọc 2: Dt 9,11-15
Thư gửi tín hữu Do-thái có nét đặc trưng là trình bày dung mạo tuyệt vời của Đức Giêsu Kitô ngang qua những hình ảnh của Cựu Ước. Qua đó, tác giả lá thư muốn nêu bật sự trổi vượt của Đức Giêsu Kitô so với các vị ngôn sứ, các thiên thần, ông Môisen, các thượng tế, v.v.
Thư gửi tín hữu Do-thái nêu bật điểm này: Chúa Giêsu Kitô là Vị Thượng Tế Mới. Với của lễ hiến tế là chính Máu Người đổ ra, Đức Giêsu Kitô đã thiết lập Giao Ước Mới vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Khi đọc Dt 9,11-15, chúng ta được mời gọi dừng lại, suy nghĩ và cầu nguyện với ở những điểm thiết yếu sau đây:
1. Đức Kitô đã “vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (c12).
2. “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Người đã tự hiến tế như lễ vật toàn vẹn dâng lên Thiên Chúa” (c14).
3. “Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (c14).
Ba điểm trên đây nhấn mạnh đến hai điều: sự siêu việt của Chúa Giêsu Kitô, vị Thượng Tế Mới so với các vị thượng tế thời Cựu Ước và sự trổi vượt của hi lễ Chúa Giêsu Kitô so với hi lễ của [các] vị thượng tế thời Cựu Ước. Chúa Giêsu Kitô siêu vượt vì “Người chỉ vào [cung thánh] một lần thôi” so với [các] vị thượng tế thời Cựu Ước vào nơi cực thánh mỗi năm một lần. Vị thượng tế thời Cựu Ước “đem theo máu [chiên, bò] để dâng làm của lễ đền tội cho chính mình và cho dân”, còn Chúa Giêsu Kitô dùng chính Máu Mình làm hi lễ. Hiệu quả của việc hiến tế trong thời Cựu Ước là làm của lễ đền tội cho chính vị thượng tế và cho dân; còn việc Chúa Giêsu Kitô tự hiến mình mang lại sự sống mới cho nhân loại, và làm cho chúng ta biết cách thờ phượng Thiên Chúa cho xứng hợp.
3. Bài Tin Mừng: Mc 14,12-16.22-26
Sách Tin Mừng theo thánh Marcô có nét đặc trưng riêng là không trình bày cho chúng ta biết về thời thơ ấu của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta bắt gặp một Đức Giêsu “đã trưởng thành” ngay từ đầu sách Tin Mừng này. Về mặt nội dung, 10 chương đầu của Sách Tin Mừng này ghi lại một cách cô đọng 3 năm Chúa Giêsu thi hành sứ vụ công khai của mình, trong khi 7 chương còn lại (chương 11-16) chính yếu ghi lại những tuần cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Người. 
Mc 14,12-16.22-26 thuộc về phần II của Sách, ghi lại việc chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người (cc12-16), cũng như việc Người thiết lập bí tích Thánh Thể (cc22-26). Bữa tiệc Vượt Qua gợi nhớ đến chương 12 sách Xuất Hành. Tại đó, Thiên Chúa đã truyền cho dân Israel cử hành Đại Lễ này hằng năm cho đến muôn đời (x. Xh 12,14), để mừng kính Đức Chúa, Đấng đã vượt qua các nhà của con cái Israel tại Ai-cập khi Người đánh phạt Ai-cập và cho các nhà của dân Israel thoát nạn (x. Xh 12,27).
Một số nét chính được nêu lên khi cử hành lễ Vượt Qua tại Ai-cập ở Xh 12:
1. Mồng mười tháng thứ nhất, mỗi nhà phải chuẩn bị một con chiên (x. c3). Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi (x. c5).
2. Con chiên được nhốt cho đến ngày mười bốn tháng đó, rồi được sát tế vào lúc xế chiều (x. c6).
3. Máu chiên được bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt sẽ ăn ngay trong đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng (x. cc7-8).
4. Khi ăn: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Phải ăn vội vã (x. c11).
5. Đêm ấy, khi thấy máu [bôi trên khung cửa], Đức Chúa sẽ vượt qua, nhà ấy không bị tai ương tiêu diệt khi Người giáng họa trên đất Ai-cập (x. cc12-14).
Khi dùng bữa Vượt Qua cuối cùng với các môn đệ trước khi Người bước vào Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể. Người đã biến bánh thành Mình Người và rượu thành Máu Người, “Máu Giao Ước, đổ ra vì nhiều người” (x. Mc 14,22.24). Liên hệ đến Mình Thánh Chúa Kitô, thánh Luca có thêm chi tiết [in nghiêng]: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). 1Cr 11,24 cũng trình bày sự kiện tương tự như Lc. Liên hệ đến Máu Thánh Chúa Kitô, thánh Mátthêu có thêm chi tiết [in nghiêng]: “Máu Giao Ước, đổ ra cho nhiều người được tha tội” (x. Mt 26,28). 1Cr 11, 25 có thêm chi tiết: “mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”. Những chi tiết xuất hiện thêm ở các bản văn của Mt, Lc, đặc biệt của 1Cr, đóng một vai trò quan trọng, vì chúng giúp liên kết việc cử hành bí tích Thánh Thể nơi người Kitô với việc cử hành lễ Vượt Qua nơi người Do-thái. Đối với người Kitô hữu tại trần thế này, việc cử hành bí tích Thánh Thể diễn ra không phải hằng năm, mà là hằng ngày, để tưởng nhớ đến Đức Giêsu Kitô, cho đến khi Người lại đến.
II. GỢI Ý SUY TƯ PHẢN TỈNH
1. Theo bạn, mừng kính lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô chính yếu là mừng kính điều gì? Tại sao Chúa Giêsu Kitô lại thiết lập bí tích Thánh Thể cho chúng ta? Bạn cảm nghiệm được điều gì mỗi khi tham dự Thánh Lễ và được rước Mình và Máu Thánh Chúa?
2. Chúa Giêsu Kitô đã truyền cho các môn đệ: “anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, lệnh truyền này đã được thực hiện như thế nào nơi cộng đoàn đức tin của bạn (giáo xứ, chủng viện, dòng tu, bệnh viện, trường học, v.v.)? Bạn nghĩ mình phải làm gì để cổ võ việc tham dự thánh lễ nơi các tín hữu Công giáo tại những nơi cụ thể nêu trên và tại không gian khác nữa? 
3. Nhiều tín hữu có lòng khao khát được rước lấy Mình và Máu Thánh Chúa, nhưng họ còn gặp phải nhiều ngăn trở có thể về không gian, sức khỏe, tình trạng hôn nhân gia đình, v.v. Theo bạn, giáo xứ, cộng đoàn đức tin, hay chính bạn, cần làm gì cho họ?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Chúa Giêsu đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta bằng chính Mình và Máu Ngài, và ở lại với nhân loại cho đến tận thế. Chúng ta đồng thanh cảm tạ Chúa và khẩn khoản cầu xin.
1. Chúa Giêsu là vị Thượng Tế cao cả đã hiến tế chính mình chỉ một lần là đủ đem lại ơn cứu độ muôn đời. Chúng ta cùng cầu xin cho các vị mục tử trong Hội Thánh biết noi gương Thầy Chí Thánh, hết mình hy sinh phục vụ đoàn chiên mà Chúa trao phó.
2. Chúa Giêsu là tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người ở mọi quốc gia biết vượt qua những rào cản ngăn cách về sắc tộc, văn hóa và tín ngưỡng để chân thành hợp tác với nhau vì một thế giới hòa bình và hạnh phúc.
3. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh đời sống Kitô giáo. Chúng ta cùng cầu xin cho các Kitô hữu được thêm lòng mến yêu sùng kính bí tích cao trọng này, siêng năng tham dự bàn tiệc Thánh Thể hầu tìm thấy sức mạnh và lẽ sống cho cuộc đời.
4. Thánh Thể là bí tích của hiệp nhất và bình an. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta khi cùng chia sẻ một bánh và một chén cũng được hiệp nhất với nhau, làm nên một thân thể để cùng nhau dấn thân xây dựng nước trời trong đức ái.
Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã lập Bí tích Thánh Thể để ở cùng chúng con luôn mãi. Xin nhậm lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con khi đón nhận thần lương Chúa ban, biết hăng hái phụng sự Chúa và phục vụ mọi người. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.



Ngày 06-06-2015,Thứ Bảy tuần IX Thường Niên


Mc 12, 38-44
38 Trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói rằng: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng.39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn."41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền.42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma.43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đa bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.44 Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."

HIẾN DÂNG TẤT CẢ

Suy niệm :

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện bà góa nghèo dâng cúng hai đồng tiền kẽm cho đền thờ.Hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng xu Rôma,thế nhưng Chúa Giêsu lại bảo : “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”; vì “mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu lại còn bỏ vào tất cả những gì bà có” (cc 43,44).Khi so sánh nhiều –ít, Chúa Giêsu không dựa trên số lượng,mà Ngài xét trên mức độ hy sinh.Khi dâng “tiền bạc dư thừa”, người ta vẫn dành lại cho mình một “khoảng cách an toàn”.Còn bà góa khi dâng hết hai đồng tiền kẽm là tất cả tài sản của mình, bà đã đánh liều cả sự sống còn của mình.Nhìn xem bà góa nghèo dâng cúng, Chúa Giêsu đã gặp sự đồng cảm nơi bà.Ngài đã tự nguyện trở nên nghèo để dám cho đi tất cả, kể cả mạng sống.Quả thật, chỉ khi hiến dâng chính mình, ta mới hiến dâng tất cả.Chỉ có tình yêu mới thúc đẩy người ta dám cho đi,và cao điểm của tình yêu là dám cho chính mình. Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu trọn vẹn, và tình yêu luôn đòi đáp trả bằng tình yêu.Khi cầu nguyện với Chúa hay khi phục vụ tha nhân, ta phải làm với tất cả sụ tận tụy quảng đại như bà góa đã dâng tất cả những gì bà có.

Lạy Chúa, chỉ khi thấu hiểu chân lý “ai cố giữ thì sẽ mất”, bà góa nghèo đã sẵn sàng cho đi tất cả.Xin giúp con hiểu thấu chân lý cao quí ấy,để can đảm cho đi chính mình, ngõ hầu Chúa sẽ trao lại cho con tất cả. 

Thứ 6 tuần IX TN : Đức Giêsu là ai?

Mc 12, 35-37

Bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu nói rõ hơn cho chúng ta biết Ngài là ai? Ngài là người thật và là Thiên Chúa thật.

Đức Giêsu là Con Người thật. Đức Giêsu xuất thân từ dòng dõi Đavít (Mt 1,1) và chính dân chúng đã từng xưng tụng Ngài là con vua Đavít (Mt 21,9). Đức Giêsu được Đức Trinh Nữ Maria cưu mang và sinh hạ tại Bêlem. Vì là con người nên Ngài cũng gặp những cơn thử thách, cám dỗ (Lc 4,1-13). Không chỉ thế, Đức Giêsu còn cảm thấy kinh hoàng trước cái chết ở vườn Giêtsimani (Mt 26,42), và cuối cùng Người thực sự đã chết trên Thánh giá. Xác Người được chôn táng (Ga 19,41) trong một ngôi mộ đá sẵn có của người khác. Như vậy, Đức Giêsu thực sự là một con người.

Đức Giêsu là Thiên Chúa thật. Đức Giêsu không chỉ là người trọn vẹn như chúng ta ngoài trừ tội lỗi, nhưng còn là Thiên Chúa thật như Chúa Cha. Bản tính Thiên Chúa và bản tính con người nơi Đức Giêsu không hề đối chọi, xung khắc nhau và cũng không chia rẽ, không lẫn lộn. Vì yêu thương nhân loại tội lỗi cho nên Thiên Chúa đã giao hòa thế gian với Người và giải thoát con người khỏi tội trong Chúa Giêsu Kitô (Ga 3,16). Đức Giêsu được cưu mang nơi cung lòng Đức Maria bởi Chúa Thánh Thần. Trong Kinh Thánh không ít lần Chúa Giêsu khẳng định Ngài là Thiên Chúa (Ga 13,13). Bằng chứng thiết thực xác quyết Ngài là Thiên Chúa thật là việc Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết (Lc 24, 2-3; Ga 20,8). Như vậy, Chúa Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa lại vừa là người thật.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến soi trí mở lòng để như Vua Đavít chúng con tuyên xưng: “Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và cũng là người thật trong một ngôi vị duy nhất”. Không chỉ tuyên xưng trên môi miệng, xin cho chúng con dám tuyên xưng bằng hành động cụ thể giữa cuộc sống thường ngày. Amen!

NGÀY 5-6-2015 THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI


        THÁNH BÔNIFITIÔ – GIÁM MỤC TỬ ĐẠO
LỜI CHÚA: Mc 12, 35 -37
35 Khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su lên tiếng hỏi: "Sao các kinh sư lại nói Đấng Ki-tô là con vua Đa-vít?36 Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói: Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con. 37 Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được? " Đám người đông đảo nghe Đức Giê-su cách thích thú.
 SUY NIỆM
Theo quan niệm Dothái, danh từ “con” có ba nghĩa:
- Con ruột là người con sinh ra bởi máu huyết như Salômôn là con ruột của Đavid.
- “Con thuộc dòng dõi” là người ở những thế hệ sau nhưng được ghi trong gia phả. Chẳng hạn như khi truyền tin cho thánh Giuse, thiên thần gọi thánh Giuse là “con vua Đavid,  đừng ngại nhận Maria về nhà làm vợ” (Mt 1, 20). Vì vậy Đức Giêsu cũng được gọi là “Con Vua Đavid” theo nghĩa này.
- Và một cách biểu tượng, “con” có thể dùng để chỉ một người có tính cách đặc biệt ví dụ “Barnabas” có nghĩa “con của sự ủi an”, “con của Belial” có nghĩa “người vô dụng”. Người Việt Nam cũng hay dùng ý nghĩa “con” theo lối biểu tượng này. Ví dụ, khi thấy một người quá tính, chúng ta nói, đó là “con của sấm sét”…
Danh xưng “Con Vua Đavid” của Chúa Giêsu được hiểu rằng, Chúa Giêsu thuộc dòng dõi Đavid theo khía cạnh con người trần gian.
Để thu hút hơn trong lời giảng của mình, Chúa Giêsu làm đám đông thích thú khi mở ra cho họ khám phá một điều tưởng chừng rất quen thuộc: “Sao các kinh sư lại nói Đấng Kitô là con vua Đavíd?”. Chúa muốn họ phải động não, phải suy nghĩ. Qua đó, Cháu mạc khải cho họ biết: Chúa không chỉ thuộc dòng dõi Đavid, nhưng Chúa còn là Thiên Chúa của Đavid.
Người đời vẫn gọi Chúa là “Con Vua Đavid” (Mt 1,1). Chúa chấp nhận. Chưa bao giờ Chúa từ chối tước hiệu này. Chưa bao giờ Chúa phản đối hay khó chịu khi nghe gọi tên mình như thế.
Tuy nhiên, tước hiệu Con Vua Đavid không diễn tả đủ mầu nhiệm về chính Chúa. Vì thế, để kiện toàn những lời đã hứa với Đavid, Chúa Giêsu tuyên bố mình còn lớn hơn Đavid. Người là Chúa của Đavid (Mt 22,42-45). Đavid chỉ là một vị vua trần thế, một chủ chiên của dân Chúa (Ez 34,23tt). Nhưng Chúa Giêsu mới là Vua vĩnh cửu, vương quyền của Người mới là vương quyền đời đời. Người chính là chủ chiên thật. Người chủ chiên hiền lành thí mạng sống cho đoàn chiên, trong đó có cả Đavid.
Hiểu rõ về tư cách làm vua của Chúa Giêsu, chúng ta càng nhận ra danh dự của mình, khi mang chính danh hiệu Kitô hữu. Đó là danh của chính Chúa, lại trở thành danh của mỗi chúng ta.
Mang lấy danh hiệu Kitô là tham dự vào sứ mạng làm vua của Chúa Giêsu, là đi lại con đường Chúa Giêsu đã đi, con đường hiến thân phục vụ và hy sinh đến cùng. Đi trên con đường của Chúa, là đi trên con đường thánh giá. Đó cũng là con đường mà bất cứ ai mang danh Kitô hữu, mang chính danh của Chúa, đều được Chúa mời gọi: “Hãy từ bỏ mình, vác thập giá mỗi ngày mà theo Ta”.
Vì thế, bất cứ Kitô hữu nào muốn tham dự vào vương quyền của Chúa Giêsu, họ đều được mời gọi phải sống như Chúa Giêsu đã sống: khiêm nhường, phục vụ và hy sinh chính mình vì muôn người.
Chúng ta sẽ không tìm thấy nơi Chúa Giêsu một vị Vua cao sang quyền thế, tiền hô hậu ủng theo kiểu nhân loại. Nhưng nếu khi chúng ta biết sống khiêm nhường, phục vụ anh em, quảng đại cho đi những gì mình có, chúng ta sẽ được tham dự vào phẩm giá cao cả là con cái của Thiên Chúa, là thần dân của Vua Kitô trong vương quốc Nước Trời.

Lạy Chúa, chúng con xin nhận Chúa làm Chúa Thượng của chúng con. Xin Chúa làm chủ cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con luôn biết sống khiêm nhường, nhỏ bé để Chúa được lớn lên trong chúng con. Amen.

05/06/2015 Thứ Sáu Tuần IX Mùa Thường Niên Năm B


PHÚC ÂM: Mc 12, 35-37
"Sao họ có thể bảo Đức Kitô là Con vua Đavít?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy trong đền thờ rằng: "Sao các luật sĩ lại nói Đấng Cứu Thế là con vua Đavít? Vì chính Đavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: 'Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con'. Chính Đavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Đavít được?" Và đám dân chúng thích thú nghe Người nói. Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ PHÚC ÂM:
Cuộc đối đầu trực diện giữa Chúa Giêsu và các đối thủ qua đi với việc họ không còn chất vấn Ngài nữa. Lúc này, tác giả Marcô lại nhớ thêm một cảnh, trong đó chính Chúa Giêsu là người chất vấn. Marcô không xác định rõ kẻ bị hỏi, chỉ ở cuối đoạn ông mới cho biết đông đảo dân chúng lắng nghe Ngài cách thích thú.
Trong lần chất vấn này, Chúa Giêsu đề cập đến tước hiệu mà các luật sĩ gán cho Ngài: con vua Ðavít. Một truyền thống Do thái xa xưa vẫn cho rằng Ðấng Kitô phải thuộc dòng dõi vua Ðavít (2V 7,14-17). Người ta cũng thường gọi Chúa Giêsu là "con vua Ðavít" (x. 10,48; 11,10). Nhưng chắc chắn Chúa Giêsu không tự xưng mình bằng tước hiệu này, vì nó quá hàm hồ, Ngài muốn tránh xa quan niệm về Ðấng Kitô theo kiểu chính trị. Ngài trưng dẫn Thánh vịnh 110, theo đó Ðấng Kitô vừa là con vua Ðavít, vừa được Ðavít gọi bằng "Chúa tôi". Chính Kinh Thánh đã gán cho Ðấng Kitô một phẩm tính cao cả hơn con vua Ðavít và gọi bằng tước hiệu "Chúa". Sau biến cố Phục Sinh, các Kitô hữu đã sử dụng Thánh vịnh 110 để tìm ra các tước hiệu bao hàm trọn vẹn tính cách của Chúa Giêsu: họ tuyên xưng Ngài thực sự thuộc đẳng cấp thần thánh: Ngài đã sống lại và được Thiên Chúa phong làm "Chúa". Ngài lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Cv 2,34-36).
Ðức Kitô là Thiên Chúa thật và cũng là người thật. Ðó là lòng tin kiên vững của Kitô giáo. Quá nhấn mạnh tới thiên tính mà bỏ quên nhân tính, hoặc ngược lại, đều là những sai lầm tai hại. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, như lời thánh Gioan: "Từ khởi thủy đã có Lời, và Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa". Nhưng Lời đã thành xác phàm và sống giữa nhân loại để cứu độ con người và nâng con người lên địa vị con cái Thiên Chúa. Nói theo thánh Irênê: Thiên Chúa đã làm người để con người được trở thành Thiên Chúa.
Ước gì đó là niềm xác tín mà chúng ta mang trong lòng, diễn tả ra cuộc sống và sẵn sàng bảo vệ đến cùng.AMEN.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Suy Niệm Lời Chúa Hàng Ngày Tuần IX Thường Niên


05/6. Thứ Sáu đầu tháng. Thánh Bônifatiô, giám mục, tử đạo. Lễ nhớ. Tb 11,5-17; Mc 12,35-37
Bài Ðọc I: Tb 11,5-17
Trong những ngày ấy, mỗi ngày bà Anna đến ngồi ở vệ đường bên sườn núi, nơi đó có thể nhìn xa được.
Cũng tại chỗ đó, đang lúc bà ngóng chờ con bà trở về, thì bà thấy và nhận ra con bà từ đàng xa đi đến, bà chạy báo tin cho chồng rằng: "Kìa, con mình đang về tới kia".
Và Raphael nói với Tobia rằng: "Lúc bạn vào nhà rồi, lập tức bạn hãy thờ lạy Chúa là Thiên Chúa bạn, và cảm tạ Người, rồi bạn đến gần mà hôn cha của bạn. Liền sau đó, bạn hãy lấy mật cá đem theo mình, xức lên mắt ông. Mắt của ông sẽ mở ra, cha của bạn sẽ thấy ánh sáng mặt trời, và hân hoan trước mặt bạn".
Bấy giờ con chó đi theo Tobia, chạy về trước, nó vui mừng vẫy đuôi như báo tin. Người cha mù lòa của Tobia chỗi dậy, loạng choạng đi ra cửa đón con mình.
Ông đón lấy và hôn con ông và vợ nó.Cả hai oà lên khóc vì vui mừng.Sau khi thờ lạy và cảm tạ Thiên Chúa, họ cùng ngồi xuống.Bấy giờ Tobia lấy mật cá, xức lên mắt cha mình.Chờ đợi nửa giờ, thì một vẩy trắng tựa như màng trứng tách ra khỏi hai mắt.Tobia cầm vẩy trắng ấy kéo ra khỏi mắt cha mình, ông liền thấy được. Rồi ông, vợ ông và những người quen thuộc ca tụng Chúa.
Còn Tobia thì cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, tôi chúc tụng Chúa, vì Chúa sửa phạt tôi, và lại cứu chữa tôi; đây chính tôi đang nhìn thấy Tobia con trai của tôi".
Tin Mừng: Mc 12,35-37
Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy trong đền thờ rằng: "Sao các luật sĩ lại nói Ðấng Cứu Thế là con vua Ðavít? Vì chính Ðavít được Chúa Thánh Thần soi sáng đã nói: Thiên Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: "Con hãy ngồi bên hữu Cha, cho đến khi Cha đặt các kẻ thù con làm bệ dưới chân con". Chính Ðavít gọi Người là Chúa, thì sao Người lại có thể là Con Ðavít được?" Và đám dân chúng thích thú nghe Người nói.
Suy niệm
Sau khi thực hiện những điều cha mình muốn và cưới được Sara, Tôbia trở về nhà mình. Cả gia đình vui mừng gặp nhau. Tôbia con đã theo lời hướng dẫn của thiên thần Raphael để làm cho cha mình được sáng mắt. Tôbia cha đã cầu nguyện: “Con xin chúc tụng Ngài vì Ngài đã sửa phạt con, nhưng cũng chính Ngài đã cứu thoát con; và này đây, con đang nhìn thấy Tôbia, con trai của con”.
Niềm vui của Tôbia cha chỉ đơn giản là được nhìn thấy con trai mình, nhìn thấy dòng dõi mình được lưu truyền. Nhưng có một điểm cần lưu ý ở đây, người con lại là người làm ơn cho cha mình.
Nếu thấy được điều đó nơi cha con Tôbia, chúng ta sẽ dễ hiểu hơn khi nghe đoạn Tin Mừng hôm nay khi Chúa Giêsu giảng dạy về vị trí của vua Đavit và Đấng Kitô. Đấng Kitô theo xác phàm là dòng dõi vua Đavit. Nhưng về thần tính, vua Đavit lại gọi Đức Kitô là Chúa. Về xác phàm, Đức Kitô được gắn kết với dòng tộc vua Đavit, nhưng ngược lại, Đức Kitô lại ban cho vua Đavit rất nhiều điều.
Từ những hình ảnh này, chúng ta nhận ra một chân lý trong cuộc đời. Chúng ta vừa là ân nhân, nhưng cũng vừa là người thụ ân của người khác. Chúng ta đừng bao giờ tỏ thái độ là người ban phát, vì sẽ có những lúc chúng ta cần đến người khác.
Thân phận của Đức Kitô còn cần đến Đavit làm tổ phụ, thì chúng ta là gì mà bất cần anh chị em chúng ta?
Xin cho con biết khiêm tốn để cần đến người khác.

5.6.2015 – Thứ sáu Tuần 9 Thường niên




Lời Chúa: Mc 12, 35-37
Khi ấy, Đức Giêsu lên tiếng giảng dạy trong Đền thờ rằng: “Sao các kinh sư lại nói Đấng Kitô là con vua Đavít? Chính vua Đavít được Thánh Thần soi sáng đã nói: Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con. Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì Đấng Kitô lại là con vua ấy thế nào được?” Đám người đông đảo nghe Đức Giêsu cách thích thú. Đó là lời Chúa.
Suy niệm:
Những người Biệt Phái và nhóm Pharisiêu không tin Đức Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa. Họ nghĩ Người chỉ là một nhân vật bình thường thuộc dòng dõi vua Đavít như bất kỳ một người hậu duệ nào khác trong dòng dõi vua mà thôi. Người không thể là Đấng Kitô của Thiên Chúa, vì hiện tại Người đang sống cùng thời với họ. Đứng trước những thắc mắc đó, Đức Giêsu đã dùng chính những lời của vua Đavít đã nói trước về Người để giúp họ nhận ra thân thế thật của Đấng Kitô. Vua Đavít đã gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng” của mình và “Chúa Thượng” này cũng chính là “Con của vua”. Để “thấy và hiểu” được điều ấy, nhất định vua đã được Thánh Thần soi dẫn.
Con người là một huyền nhiệm với nhiều điều sâu kín không thể hiểu thấu, thì Đức Ki-tô Con Thiên Chúa làm người lại là một mầu nhiệm cao vời, và thẳm sâu hơn nữa. Mầu nhiệm này vượt trên tất cả những suy tưởng. Để không hoài nghi như những người lãnh đạo Do Thái xưa, chúng ta nhất thiết phải có một “cặp mắt” như Đa-vít, cặp mắt của đức tin được Thánh Thần chiếu rọi để nhận ra sự thật về Đức Kitô. Điều đó luôn là một thách thức lớn lao trong việc tiếp nhận niềm tin Kitô giáo đối với nhiều người và ngay cả với người đang mang danh là Kitô hữu – Bạn của Đức Kitô.
Lạy Chúa Giê-su, phần chúng con, chúng con tin rằng Chúa là Đấng Messiah, là Con vua Đa-vít và là Chúa của chúng con. Chúng con trao dâng bản thân cho Chúa. Xin Ngài là Vua và là Chúa cai trị cõi lòng con. Amen.Suy niệm:

Những người Biệt Phái và nhóm Pharisiêu không tin Đức Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa. Họ nghĩ Người chỉ là một nhân vật bình thường thuộc dòng dõi vua Đavít như bất kỳ một người hậu duệ nào khác trong dòng dõi vua mà thôi. Người không thể là Đấng Kitô của Thiên Chúa, vì hiện tại Người đang sống cùng thời với họ. Đứng trước những thắc mắc đó, Đức Giêsu đã dùng chính những lời của vua Đavít đã nói trước về Người để giúp họ nhận ra thân thế thật của Đấng Kitô. Vua Đavít đã gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng” của mình và “Chúa Thượng” này cũng chính là “Con của vua”. Để “thấy và hiểu” được điều ấy, nhất định vua đã được Thánh Thần soi dẫn.Con người là một huyền nhiệm với nhiều điều sâu kín không thể hiểu thấu, thì Đức Ki-tô Con Thiên Chúa làm người lại là một mầu nhiệm cao vời, và thẳm sâu hơn nữa. Mầu nhiệm này vượt trên tất cả những suy tưởng. Để không hoài nghi như những người lãnh đạo Do Thái xưa, chúng ta nhất thiết phải có một “cặp mắt” như Đa-vít, cặp mắt của đức tin được Thánh Thần chiếu rọi để nhận ra sự thật về Đức Kitô. Điều đó luôn là một thách thức lớn lao trong việc tiếp nhận niềm tin Kitô giáo đối với nhiều người và ngay cả với người đang mang danh là Kitô hữu – Bạn của Đức Kitô.Lạy Chúa Giê-su, phần chúng con, chúng con tin rằng Chúa là Đấng Messiah, là Con vua Đa-vít và là Chúa của chúng con. Chúng con trao dâng bản thân cho Chúa. Xin Ngài là Vua và là Chúa cai trị cõi lòng con. Amen.

Hai điều răn (4.6.2015 – Thứ năm Tuần 9 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 12, 28b-34
Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Đức Giêsu trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”. Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa. Đó là lời Chúa.

Suy niệm:
Trong những ngày cuối tại Giêrusalem, Đức Giêsu bị kéo vào những cuộc tranh luận với nhiều nhóm về quyền, về chuyện nộp thuế, về sự sống lại (Mc 11, 27- 12, 27). Ít có một cuộc đối thoại đúng nghĩa khi người ta chỉ muốn giăng bẫy, và không thực sự muốn kiếm tìm chân lý. Chính vì thế bài Tin Mừng hôm nay là một bất ngờ thú vị. 
Một kinh sư nghe Đức Giêsu trả lời các đối thủ của mình thì ông có cảm tình và muốn hỏi Ngài câu hỏi mà ông bận tâm. “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu ?” (c. 28). Đức Giêsu thấy thiện tâm của ông, và Ngài đã trả lời nghiêm túc. Ông kinh sư như reo lên khi nghe câu trả lời của Ngài. “Thưa Thầy hay lắm, Thầy nói rất đúng.” Câu trả lời của Đức Giêsu chạm đến điều dường như đã có nơi ông. Ông thích thú lặp lại những lời Ngài đã nói (cc. 32-33). Theo ông, những điều răn đó còn quý hơn hy lễ và lễ toàn thiêu (c. 33). Đức Giêsu vui sướng khi đứng trước một vị kinh sư khôn ngoan và cởi mở. Ngài nói với ông một câu mà chúng ta thèm muốn: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (c. 34). 
Vị kinh sư hỏi Đức Giêsu về một điều răn đứng đầu. Ngài đã trả lời tới hai điều răn (c. 31). Hai điều răn này gắn kết với nhau chặt chẽ, nhưng vẫn là hai. Cả hai đều đòi hỏi một thái độ, một chọn lựa diễn tả qua động từ “yêu”. Yêu Thiên Chúa bằng tất cả con người mình bằng trọn cả trái tim, linh hồn, trí khôn và sức lực, và yêu tha nhân như yêu chính mình (cc. 29-31). Tình yêu đối với tha nhân không thay thế được tình yêu đối với Thiên Chúa. Tình yêu đối với Thiên Chúa như thanh dọc của thập giá đỡ lấy thanh ngang là tình yêu tha nhân. Sống trọn tình yêu là chấp nhận cả hai thanh gỗ làm nên cây thập giá. Nếu lễ toàn thiêu đòi đốt hoàn toàn lễ vật, và hy lễ đòi giết chết con vật, thì tình yêu đối với Chúa và tha nhân cũng đòi thiêu rụi và giết chết cái tôi kiêu ngạo, ích kỷ của mình. Chẳng thể nào yêu mà đòi giữ nguyên cái tôi khép kín. 
Người Kitô hữu hôm nay cũng có thể hỏi Chúa câu hỏi tương tự: Điều răn nào quan trọng hơn cả chi phối mọi lề luật trong Giáo Hội? Chúa cũng sẽ giữ nguyên câu trả lời như ngày xưa. Ngài vẫn tóm mọi điều răn và giới răn trong một động từ đơn giản: yêu. Xin để tình yêu chiếm lấy trái tim của tôi, chi phối mọi chọn lựa, và biến đời tôi thành tình yêu.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Tình Yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất. Đó là Trái Tim, một Trái Tim bừng cháy tình yêu. Chính tình yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng tình yêu, thì các tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình...
Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội Thánh: nơi Trái tim Hội Thánh, con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả, vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh.
Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con được thực hiện. 
(dựa theo lời của thánh Têrêxa)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

NGÀY 4-6-2015 THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI

LỜI CHÚA: Mc 12, 28b -34

28 Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giê-su và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu? "29 Đức Giê-su trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.31 Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó."32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác.33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ."34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu! " Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.
 SUY NIỆM

Với lời khen ngợi ông kinh sư,“Ông không còn xa Nước Thiên Chúa”, cho thấy Chúa Giêsu vui.
- Không vui sao được, khi mà hạng “kinh sư” – những “bậc thầy trong dân”, những người thông hiểu Kinh Thánh, thường thấy trong Tin Mừng, là những kẻ không những thù ghét Chúa Giêsu, mà còn ra mặt đối đầu với Chúa.
Nhưng hôm nay, người kinh sư này là một ngoại lệ. Bởi là kinh sư, chắc chắn ông thông hiểu rành rẽ về Kinh Thánh, vì đó là lãnh vực chuyên môn của ông. Hơn nữa, Chúa không có “bằng cấp” kinh sư như ông, thế mà ông lại đến hỏi Chúa: “Điều răn nào đứng hàng đầu?”.
- Không vui sao được, khi mà ngay từ đầu, người kinh sư không hề có ý thách thức Chúa. Ông cũng không tìm kẽ hở để bắt bẻ Chúa, mà chúng ta quen thấy nơi những kẻ lãnh đạo trong Dothái giáo lúc bấy giờ. Qua thái độ và những lời nói của ông, không cho thấy ông cậy mình hiểu biết mà kênh kiệu hay kiêu ngạo. Ông cũng không tỏ ra mình là “thầy”, là “kinh sư”.
- Không vui sao được, khi thái độ của người kinh sư là thái độ hết sức tích cực:
Bởi sau lời hỏi “Điều răn nào đứng hàng đầu?” của ông, Chúa dùng lời của sách Đệ Nhị Luật mà mọi người Dothái đều thuộc nằm lòng, để trả lời:“…Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi(Đnl 6, 4-5).
Rồi Chúa gắn giới răn hai (được nhắc đến trong sách Lêvi) vào giới răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Lv 19.18).
Ông kinh sư tỏ ra nể trọng Chúa, chấp nhận giáo lý và giáo huấn của Chúa. Không chỉ có thái độ, ông còn xác tín trong lời nói của mình: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng”.
Ông hoàn toàn khâm phục Chúa. Ông lặp lại ý của Chúa bằng những từ ngữ sát thực tế hơn. Rồi ông kết luận: Tình yêu Chúa và tha nhân phải được coi trọng hơn các hiến lễ dâng cúng của Dothái giáo: “Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.
Hơn nữa, thái độ và câu trả lời của người kinh sư rất hợp với thánh ý của Chúa. Bởi Chúa đã từng nói: “Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là của lễ toàn thiêu”. Vì thế mà Chúa vui.
Qua lời giải thích cho người kinh sư, Chúa Giêsu cho thấy, chính Người là bậc Thầy tuyệt diệu đã nối kết tình yêu Thiên Chúa với tình yêu anh em, hợp thành một giới răn duy nhất: Để từ nay, ai yêu Chúa thì phải yêu người. Ai yêu người, thì đó là bằng chứng chứng minh họ có lòng yêu Chúa. Nói cách khác, Chúa dạy: Yêu Chúa để yêu người. Yêu người là cách cụ thể hóa lòng yêu Chúa.
- Không vui sao được, vì ít ra cũng có một người trong giới chức trách của dân Chúa, muốn lắng nghe lời Chúa dạy, hiểu được đâu là điều quan trọng trong Luật Chúa truyền và đâu là cốt lõi của việc giữ luật.
- Không vui sao được, vì các kinh sư chiếm vị trí quan trọng trong đền thờ. Vậy mà hôm nay, trong số họ lại có một người phán đoán một cách khôn ngoan, phù hợp thánh ý Chúa.
- Chúa vui còn vì tư tưởng của ông rất gần với Tin Mừng của Chúa, gần những điều luật mà Chúa kiện toàn. Vì thế, trước câu trả lời khôn ngoan của ông, Chúa không khen ông thông thái, nhưng lại khen: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.
- Niềm vui của Chúa còn lớn hơn, khi Chúa thấy linh hồn của người kinh sư thật gần Chúa, gần Nước Trời mà Chúa luôn sẵn lòng ban cho những ai tin và sống theo lời Chúa dạy. Chúa thông báo điều đó cho ông, để ông biết và ra sức giữ gìn đời sống tốt ấy, để càng ngày càng gần Nước Thiên Chúa hơn.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con yêu Chúa và yêu người. Xin cho chúng con biết thể hiện tình yêu của Chúa bằng việc làm cụ thể hằng ngày trong đời sống chúng con, để nâng đỡ bao nhiêu người khổ đau, trợ giúp bao nhiêu người khốn cùng, cảm thông cùng bao nhiêu người phận nhỏ, đón nhận bao nhiêu người yếu đuối… Lạy Chúa, xin cho chúng con thấy Chúa nơi cuộc sống, thấy Chúa nơi từng con người, thấy Chúa nơi mọi hoàn cảnh, để luôn luôn sống trong tin yêu và hy vọng. Amen

Ngày 04-06-2015, Thứ Năm tuần IX Thường Niên




Mc 12, 28b-34

Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Đức Giêsu trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”. Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa. 
Suy niệm :
 Chúa Giêsu đã liên kết luật mến Chúa và yêu người thành một giới răn duy nhất. Người kêu mời chúng ta thực hành luật yêu thương ấy như một dấu chỉ đặc biệt của con cái Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa là ra khỏi tình trạng thụ động, lãnh đạm, hời hợt, ngờ vực để hướng trọn vẹn lòng trí và cả con người mình về Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa là vận dụng tất cả năng lực trí tuệ và ý chí để biết Người, gặp gỡ Người, đón tiếp Người trọn vẹn. Vì yêu mến Chúa, chúng ta cũng yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương chúng ta.
 Giới răn mến Chúa mời gọi chúng ta phải đổi mới tận căn về suy nghĩ và hành động. Mến Chúa với cả tâm hồn đơn sơ. Chân thành thực thi các giới luật của Người. Yêu mến Chúa cũng là yêu thương tha nhân vì họ là hình ảnh của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ, đói khát, tù đày (x. Mt 25, 31-46). Như vậy, khi nhận ra Chúa hiện diện nơi tha nhân, chúng ta sẽ vượt lên trên ác cảm, thù hằn, ghen tương trong cuộc sống.
Lạy Chúa, để gặp gỡ tha nhân, chúng con phải mở to đôi mắt. Để đón tiếp tha nhân, chúng con phải dọn dẹp cho trống trải lòng mình. Để yêu thương tha nhân, chúng con phải biết quên mình. Xin cho chúng con luôn xác tín rằng chúng con chỉ kính mến Chúa khi thực sự yêu thương anh chị em mình. Bởi vì “tình yêu có đôi chân đến với người nghèo. Tình yêu có đôi mắt để thấy những người bất hạnh và thiếu thốn. Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở và nỗi buồn phiền của tha nhân”. Amen.